VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Thiền Tôn

Thiên Thai Thiền Tông tự, Thiên Thai Thiền Tôn tự, chùa Thuyền Tôn, Thiên Thai Nội

Ngôi chùa dưới núi Thiên Thai nơi Tổ Liễu Quán dựng am, đặt bài kệ bốn mươi tám chữ và mở ra dòng thiền đông người nhất của Phật Giáo miền Trung.

Tổ khai sơn
Liễu Quán
Thiền sư Thiệt Diệu, 1667 hoặc 1668 tới 1742
Bài kệ
48 chữ
mười hai câu, đặt pháp danh theo đời
Tháp Tổ
1743
bảy tầng, trên triền núi Thiên Thai

Rời đường lớn phía nam Huế, con đường nhỏ đi qua những đồi thông thấp rồi dừng ở chân một ngọn núi không cao. Quý vị bước qua cổng, trước mặt là một mái chánh điện hai tầng, sau lưng chùa là rừng thông của núi Thiên Thai. Nơi này không nằm bên sông, không có tháp cao nhìn từ xa, và người lần đầu đến thường ngạc nhiên vì nó yên và khuất đến vậy.

Thế nhưng rất nhiều vị tăng ni ở miền Trung và miền Nam hôm nay, khi đọc pháp danh của mình, đang đọc một chữ bắt nguồn từ ngôi chùa này. Đây là Tổ đình Thiền Tôn, nơi Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán dựng am tu, rồi đặt bài kệ truyền pháp bốn mươi tám chữ mở ra dòng Lâm Tế Liễu Quán. Người trong dòng gọi nơi đây là chốn tổ gốc, vì cả dòng khởi từ một người và một bài kệ đã ra đời tại chính mảnh đất này.

IChốn Tổ Của Dòng Liễu Quán

Muốn hiểu vì sao Thiền Tôn được gọi là chốn tổ, trước hết cần biết dòng Liễu Quán nằm ở đâu trong cây phả hệ của Thiền tông. Thiền phái Lâm Tế truyền vào Đàng Trong từ cuối thế kỷ 17 qua các thiền sư người Hoa như Tổ Nguyên Thiều. Từ gốc Lâm Tế ấy, ở miền Trung mọc ra nhiều dòng, mỗi dòng mang tên vị tổ đã đặt ra một bài kệ riêng: dòng Liễu Quán ở Thuận Hóa, dòng Chúc Thánh ở Hội An, cùng các dòng khác. Chúng cùng một gốc, cùng lối tu thiền kết hợp tụng niệm của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, và khác nhau chủ yếu ở mạch thầy trò cùng bài kệ dùng để đặt pháp danh.

Dòng Liễu Quán có một điểm riêng đáng ghi: vị tổ khai dòng là người Việt, sinh ở Phú Yên, chứ không phải một thiền sư từ phương Bắc sang. Ngài sinh năm Đinh Mùi, Giác Ngộ quy ra dương lịch là ngày 1 tháng 1 năm 1668, nhiều nguồn khác ghi năm 1667, và viên tịch năm Nhâm Tuất 1742. Ngài tham học với Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung ở chùa Ấn Tôn, tức chùa Từ Đàm ngày nay, và được ấn chứng, trở thành đời 35 của Lâm Tế. Sau khi ngài viên tịch, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng và cho lập bia.

Theo sử liệu

Năm ngài đắc pháp, các nguồn ghi không khớp. Bảng dữ kiện của thư viện và trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1708, cùng năm ngài dựng thảo am trên núi Thiên Thai sau khi cầu pháp ở Ấn Tôn. Báo Giác Ngộ ghi ngài được truyền tâm ấn năm 1712. Cách hiểu thường gặp là năm 1708 ngài đến tham học với Tổ Tử Dung, còn năm 1712 là lúc được ấn chứng, nhưng vì các văn bản chúng tôi đọc được không tách rõ như thế nên chúng tôi ghi cả hai con số.

Bài kệ bốn mươi tám chữ

Điều làm nên một dòng thiền không phải là một ngôi chùa lớn mà là một bài kệ truyền pháp. Mỗi chữ trong kệ ứng với một đời. Vị thầy đặt pháp danh cho đệ tử bằng chữ kế tiếp chữ của chính mình, nên chỉ cần nghe chữ đầu trong pháp danh là người trong nhà biết vị ấy thuộc đời thứ mấy, ở dòng nào. Bài kệ của Tổ Liễu Quán gồm mười hai câu, mỗi câu bốn chữ, phiên âm theo trang Phật Giáo Bình Chánh và phatgiao.org.vn như sau:

Thật tế đại đạo, Tánh hải thanh trừng,
Tâm nguyên quảng nhuận, Đức bổn từ phong,
Giới định phước huệ, Thể dụng viên thông,
Vĩnh siêu trí quả, Mật khế thành công,
Truyền trì diệu lý, Diễn sướng chánh tông,
Hạnh giải tương ưng, Đạt ngộ chơn không.

Chữ Thật là của chính Tổ, vì pháp danh ngài là Thiệt Diệu, chữ Thiệt và chữ Thật là một chữ đọc theo hai giọng. Chữ Tế là đời thứ hai của dòng, tức đời 36 Lâm Tế. Cứ thế đi xuống: chữ Đại là đời 37, chữ Đạo đời 38, chữ Tánh đời 39. Bài kệ còn đủ chữ cho nhiều trăm năm nữa, nên dòng Liễu Quán hôm nay vẫn đang đi ở khoảng giữa bài.

Các đời kế thế đầu tiên tại Thiền Tôn, pháp danh đi đúng thứ tự chữ trong kệ. Nguồn: Danh sách theo Đạo Phật Ngày Nay, kệ theo Phật Giáo Bình Chánh..
Chữ trong kệĐời Lâm TếVị kế thế ở Thiền Tôn
Thật35Tổ khai sơn Thiệt Diệu Liễu Quán
Tế36Tế Hiệp Hải Điện, rồi Tế Mẫn Tổ Huấn
Đại37Đại Tuệ Chiếu Nhiên
Đạo38Đạo Tâm Trung Hậu
Tánh39Tánh Thiện An Cư
Hải40Hải Nhuận Phước Thiêm
Chỗ hay hiểu lầm

Tên chữ của chùa là Thiên Thai Thiền Tông tự, và vì có hai chữ Thiên Thai nên không ít người tưởng chùa thuộc Thiên Thai Thiền Giáo Tông. Không phải. Thiên Thai ở đây là tên ngọn núi phía sau chùa. Thiên Thai Thiền Giáo Tông là một dòng khác, hình thành ở miền Nam vào thế kỷ 20, không có liên hệ truyền thừa với ngôi chùa này. Thiền Tôn là chùa Lâm Tế, dòng Liễu Quán. Cũng xin lưu ý tên gọi Thuyền Tôn mà quý vị có thể gặp trên biển chỉ đường: đó là lối đọc cũ của chữ Thiền theo giọng Huế, cùng là một chùa.

IITừ Thảo Am Đến Tổ Đình

Ngôi chùa khởi đầu là một thảo am của một vị tăng tu một mình trên núi. Năm khởi dựng am ấy là chỗ các nguồn vênh nhau nhiều nhất. Đạo Phật Ngày Nay ghi năm 1693. Trang Gia Đình Phật Tử ghi am dựng khoảng năm Vĩnh Thạnh thứ 4, tức 1708. Một số tài liệu khác đặt việc lập chùa vào khoảng 1712 tới 1722, sau khi ngài được ấn chứng. Chúng tôi không chọn một con số mà ghi cả ba. Điều các nguồn thống nhất là chùa hình thành trong khoảng cuối thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 18 và do chính Tổ Liễu Quán dựng.

  • 1693 hoặc 1708Dựng thảo am trên núi Thiên Thai
    Tổ Liễu Quán dựng am tu dưới chân núi. Đạo Phật Ngày Nay ghi năm 1693, trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1708, có nguồn đặt việc lập chùa trong khoảng 1712 tới 1722.
  • 1733 tới 1735Các đại giới đàn
    Theo Giác Ngộ, Tổ chứng minh ba kỳ đại giới đàn trong những năm này. Thiền Tôn trở thành nơi tăng chúng Thuận Hóa về thọ giới và học đạo.
  • 1742Tổ viên tịch
    Tổ viên tịch cuối tháng 11 năm Nhâm Tuất. Bảng dữ kiện ghi ngày 22, trang Gia Đình Phật Tử ghi ngày 21 tháng 11 âm lịch.
  • 1743Dựng tháp Tổ
    Tháp Tổ Liễu Quán được dựng trên triền núi, bảy tầng, theo Đạo Phật Ngày Nay và bảng dữ kiện của thư viện.
  • 1747Đúc đại hồng chung
    Quả chuông lớn đúc cuối xuân năm Đinh Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Tấm biển Thiên Thai Thiền Tông tự cũng mang dòng lạc khoản Cảnh Hưng bát niên, cùng năm ấy.
  • 1803Chuông trở về chùa
    Quả chuông năm 1747 được thỉnh về lại Thiền Tôn và giữ ở chùa tới nay.
  • 2000 tới 2001Đại trùng tu
    Lần đại trùng tu gần nhất khởi công năm 2000 và khánh thành năm 2001, tạo nên diện mạo chùa hiện nay. Tháp Tổ cũng được tu sửa trong đợt này.
  • 2008Ghi nhận chốn phát xuất
    Tổ chức Kỷ lục Việt Nam ghi nhận Thiền Tôn là ngôi chùa phát xuất dòng thiền Liễu Quán.

Sau Tổ, chùa được đệ tử đời thứ hai là Hòa thượng Tế Hiệp Hải Điện mở mang lớn vào giữa thế kỷ 18. Các nguồn ghi năm của lần đại tu này là 1746 hoặc 1747. Từ Thiền Tôn, những đệ tử đời Tế và đời Đại tỏa đi khai sơn nhiều ngôi chùa khác ở Thuận Hóa rồi vào phương Nam. Một chi đời sau của dòng lập nên sơn môn Tổ đình Tường Vân ở đồi Dương Xuân. Thiền Tôn không phải ngôi chùa có nhiều đời trụ trì nổi danh nhất, nhưng là nơi mọi nhánh của dòng đều quay về khi kể gốc.

IIIKiến Trúc, Tháp Tổ Và Quả Chuông

Chùa bố cục theo lối chữ khẩu quen thuộc của chùa Huế: chánh điện ở phía trước, nhà hậu tổ phía sau, hai dãy nhà hai bên khép lại một sân trong. Trang Chốn Thiêng ghi chánh điện đặt ba hàng bàn thờ và chùa còn giữ được lối thờ tự truyền thống. Mái chánh điện làm hai tầng, bờ mái đắp rồng theo lối trang trí của chùa Huế. Theo Giác Ngộ, trong khuôn viên còn có điện Quan Âm, điện Địa Tạng và lầu chuông.

Phần lớn những gì quý vị thấy hôm nay là kết quả của đợt đại trùng tu năm 2000 tới 2001. Vì vậy người tìm dấu cổ ở Thiền Tôn nên nhìn vào ba thứ còn giữ được từ thế kỷ 18: tháp Tổ, quả chuông và tấm biển.

Tháp Tổ Liễu Quán

Tháp bát giác bảy tầng, dựng năm 1743, đặt trên triền núi Thiên Thai chứ không nằm trong sân chùa. Cổng tháp có câu Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương, nghĩa là hoa đàm rụng rồi hương vẫn còn.

Đại hồng chung

Đúc năm Cảnh Hưng thứ 8 tức 1747, cao 1,6 mét, nặng 855 cân theo cân xưa. Năm 1803 chuông được thỉnh về lại chùa, nay đặt trong chùa.

Biển Thiên Thai Thiền Tông tự

Biển mang lạc khoản Cảnh Hưng bát niên. Trang Gia Đình Phật Tử lưu ý đây có thể là năm trùng tu chứ không phải năm khởi dựng.

Bia ký

Đạo Phật Ngày Nay ghi chùa còn giữ bia đá ghi việc dựng và tu bổ chùa, trong đó có bia do chúa Nguyễn sắc lập để tôn vinh Tổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người vào chùa đi tìm tháp Tổ quanh sân rồi không thấy. Tháp không nằm trong khuôn viên chùa. Bảng dữ kiện của thư viện ghi tháp cách chùa chừng một cây số về phía nam, còn trang Gia Đình Phật Tử ghi khoảng 500 mét về phía đông nam. Hai con số vênh nhau, nhưng cả hai cùng cho thấy tháp đứng riêng trên triền núi, phải đi một quãng đường nhỏ mới tới.

Câu trên cổng tháp đáng đọc chậm. Đàm hoa là hoa ưu đàm, loài hoa trong kinh chỉ nở khi có Phật ra đời, vì vậy tượng cho sự hiếm hoi của một bậc giác ngộ. Hoa đã rụng, tức vị thầy đã đi, nhưng hương còn lại, tức giáo pháp và mạch truyền thừa còn lại. Người dựng tháp chọn đúng một câu để nói trọn điều dòng Liễu Quán muốn nói về vị tổ của mình.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi Tổ Liễu Quán chọn đất theo phép phong thủy nào. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trang Chốn Thiêng tả chùa đặt trên một đồi cao, mặt nhìn về hướng tây bắc, chung quanh là đồi thông. Lưng chùa có núi Thiên Thai làm chỗ dựa. Trong phép xem đất, núi sau lưng là hậu chẩm, giữ cho khí không tán về phía sau, còn các đồi thấp hai bên là tay ôm, khép vùng đất lại thành một lòng kín gió.

Hướng tây bắc không phải hướng mà chùa đồng bằng hay chuộng. Nhưng chùa Huế trên đồi ít khi theo một hướng cố định, mà theo thế núi: quay mặt về phía đất mở, lưng về phía đất cao. Ở Thiền Tôn, đất mở ra phía thung lũng dưới chân đồi, và hướng chùa đi theo độ mở ấy.

Đáng đọc hơn là cách đặt tháp Tổ. Tháp không ở sau lưng chánh điện như nhiều chùa khác mà đứng riêng trên triền núi, cao hơn chùa, cách một quãng. Trong lối nghĩ cổ truyền, chỗ cao và tĩnh hợp với nơi an nghỉ, còn chỗ thấp và gần đường hợp với nơi người sống tu học. Tách hai phần ra như thế là đặt người đang tu ở dưới, vị tổ ở trên, đúng thứ bậc thầy trò của một dòng thiền.

Sau cùng, núi Thiên Thai và rừng thông giữ cho cả vùng một sự tĩnh mà chùa ven sông không có được. Với một nơi mà việc chính là ngồi thiền và truyền giới, sự tĩnh ấy có giá trị hơn mọi thế đất đẹp mắt.

VLễ Giỗ Tổ Và Nếp Tu

Ngày quan trọng nhất trong năm ở Thiền Tôn không phải một lễ hội đông người mà là lễ giỗ Tổ Liễu Quán. Vào dịp ấy, tăng ni các chùa thuộc dòng Liễu Quán ở Huế và nhiều nơi khác về chốn tổ, dâng hương ở chánh điện rồi lên tháp Tổ trên núi. Ngày giỗ tính theo ngày Tổ viên tịch, cuối tháng 11 âm lịch. Các nguồn ghi ngày 22, trang Gia Đình Phật Tử ghi ngày 21, chúng tôi ghi cả hai.

Các lễ chính trong năm tại chùa, tính theo âm lịch. Nguồn: Ngày giỗ Tổ theo bảng dữ kiện và trang Gia Đình Phật Tử, các lễ còn lại theo nếp chung của chùa Bắc Tông..
Ngày âm lịchLễNội dung
21 hoặc 22 tháng 11Giỗ Tổ Liễu QuánLễ lớn nhất trong năm của chùa và của cả dòng. Tăng ni các chùa trong dòng về dâng hương tại chánh điện và tháp Tổ.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Phật đản sinh theo nếp chung của chùa Bắc Tông Việt Nam.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học. Đây là nếp mà Tổ Liễu Quán cùng các giới đàn thời ngài đã góp phần định hình ở Thuận Hóa.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.

Ở Thiền Tôn, lễ giỗ Tổ có một ý nghĩa mà ở chùa khác không có: đó là ngày cả một dòng thiền nhận lại gốc của mình. Vị tăng mang chữ Tâm hay chữ Nguyên trong pháp danh, dù đang tu ở Huế hay ở Sài Gòn, đứng trước tháp Tổ là đứng trước người đã đặt ra chính chữ ấy cho mình.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Ngũ Tây, dưới núi Thiên Thai, phường An Cựu (phường An Tây cũ), thành phố Huế
Đường tới
Chùa ở thôn Ngũ Tây dưới núi Thiên Thai, phường An Cựu, phía nam trung tâm thành phố Huế, thuộc phường An Tây cũ. Từ trung tâm đi theo hướng nam vào vùng đồi thông, đường nhỏ dẫn tới chân núi.
Toạ độ
16.4209, 107.5965
Khi tới nơi

Thiền Tôn là nơi tu học đang hoạt động, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà hậu tổ, đi nhẹ nói khẽ ở khu tăng xá. Tháp Tổ là nơi an táng vị tổ khai dòng, nếu lên tháp xin đi theo lối mòn sẵn có, không trèo lên bệ tháp, không chạm tay vào bia và câu đối cổng tháp. Quả chuông năm 1747 là hiện vật cổ, xin đừng tự ý thỉnh chuông.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Thiền Tôn

Contribute photos, information or video for Thien Ton Pagoda, Hue

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Thiền Tôn Huế thuộc dòng thiền nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng Liễu Quán, và là chốn tổ gốc của cả dòng. Tổ khai sơn là Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán, người đặt bài kệ truyền pháp bốn mươi tám chữ, từ đó mà có dòng Liễu Quán, dòng truyền thừa lớn nhất của Phật Giáo miền Trung.

Chùa Thiền Tôn được xây năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Đạo Phật Ngày Nay ghi Tổ Liễu Quán dựng am năm 1693, trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1708, có tài liệu đặt việc lập chùa trong khoảng 1712 tới 1722. Chùa được đại trùng tu năm 2000 và khánh thành năm 2001.

Chùa Thiền Tôn và chùa Thuyền Tôn có phải một không

Là một chùa. Thuyền là lối đọc cũ của chữ Thiền theo giọng Huế, nên dân địa phương và nhiều biển chỉ đường vẫn ghi Thuyền Tôn. Tên chữ đầy đủ là Thiên Thai Thiền Tông tự, Thiên Thai là tên ngọn núi sau chùa.

Tháp Tổ Liễu Quán ở đâu

Tháp đứng riêng trên triền núi Thiên Thai, không nằm trong sân chùa. Bảng dữ kiện ghi cách chùa chừng một cây số về phía nam, trang Gia Đình Phật Tử ghi khoảng 500 mét về phía đông nam. Tháp bát giác bảy tầng, dựng năm 1743.

Kệ Liễu Quán dùng để làm gì

Kệ dùng để đặt pháp danh theo đời. Mỗi chữ ứng với một đời, thầy lấy chữ kế tiếp chữ của mình đặt cho đệ tử. Chữ Thật là Tổ, chữ Tế là đời thứ hai tức đời 36 Lâm Tế, rồi Đại, Đạo, Tánh, Hải, cứ thế đi xuống theo mười hai câu.

Đọc Tiếp