Không có đường bộ nào đưa quý vị tới cửa đền Chúa Thác Bờ một cách tự nhiên như đường nước. Thuyền rời bến, chạy giữa những dãy núi đá vôi dựng đứng hai bên, mặt hồ xanh và lặng. Khó hình dung rằng chính khúc này từng là một ghềnh thác mà người đi thuyền trên sông Đà phải khấn trước khi vượt. Thác ấy nay nằm dưới hàng chục mét nước của hồ thủy điện Hòa Bình, cùng với ngôi đền cũ.
Thứ quý vị thấy bây giờ là hai ngôi đền nhìn nhau qua mặt hồ. Một ngôi sát mép nước, mùa nước lên thì thuyền cập thẳng vào cửa. Một ngôi trên đồi bên kia, phải leo chừng trăm bậc đá. Cả hai cùng thờ hai bà Chúa Thác Bờ, và mùa xuân nào người hầu đồng các nơi cũng xuôi thuyền về đây.
IHai Bà Chúa Và Hàng Chầu Bà
Theo Báo Hòa Bình và VietnamPlus, đền thờ hai bà Chúa Thác. Một bà là Đinh Thị Vân, người Mường. Bà kia là một người Dao ở vùng Vầy Nưa, không rõ tên. Tên gọi chung Bà Chúa Thác Bờ vì thế là một danh hiệu, không phải tên riêng của một người.
Trong danh hiệu ấy, chữ Chúa là cách người đồng bằng và người trong đạo gọi các nữ thần cai quản một vùng đất, một khúc sông. Chữ Thác Bờ là tên khúc thác trên sông Đà nơi đền cũ đứng. Khúc thác nay không còn, nhưng tên thác vẫn theo đền.
Điện thần Tứ Phủ xếp các vị theo hàng: dưới Tam Tòa Thánh Mẫu là hàng Quan, rồi tới hàng Chầu Bà, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu. Hàng Chầu Bà gồm các vị nữ thần giữ từng vùng, phần nhiều là những vùng rừng núi và sông suối phía bắc. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài của tác giả Đặng Xuân Xuyến về trật tự các giá hầu, xếp Chúa Thác Bờ vào hàng Chầu Bà.
Chúa thuộc phủ nào thì nguồn chưa thống nhất, và bài không tự xếp. Trang của đền tả giá hầu Chúa Thác Bờ mặc áo trắng. Người quen hệ Tứ Phủ sẽ biết sắc trắng thường đi với Thoải phủ, miền sông nước, nhưng một màu áo không đủ để kết luận phủ của một vị, nên chúng tôi chỉ ghi lại màu áo như một dữ kiện nghi lễ.
Hai dị bản về hai bà
Về thân thế hai bà, có hai dị bản, đều thuộc lớp truyền thuyết.
Dị bản thứ nhất, do Tạp chí Nghiên cứu Phật học chép: tương truyền Chúa là tiên nữ giáng sinh nơi thắng tích, dạy người Mường trồng trọt và đánh cá trên sông Đà. Ở dị bản này Chúa là một vị thần khai hóa, người mở nghề cho dân ven sông.
Dị bản thứ hai, do các báo địa phương chép: hai bà là người thật sống vào đầu đời Lê, có công giúp dân giữ đất, lo lương thực cho dân, và đưa thuyền qua khúc thác dữ. Sau khi mất, theo lời kể, hai bà thường hiển linh giúp thuyền bè qua Thác Bờ được yên. Bài chỉ ghi tới đó.
Hai dị bản khác nhau ở gốc, một bên là tiên, một bên là người, nhưng gặp nhau ở một điểm: vai của Chúa gắn chặt với sông Đà và với việc đi lại trên sông. Chuyện đầu đời Lê là thời gian trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
Người đi lễ lần đầu thường nghĩ Bà Chúa Thác Bờ là một vị. Theo các nguồn báo địa phương thì đền thờ hai bà, một người Mường và một người Dao, và trong động Thác Bờ có hai pho tượng đồng thờ hai bà. Việc cùng một danh hiệu đứng cho hai người của hai dân tộc là điểm riêng của nơi này: một nơi thờ Tứ Phủ của người Việt mà hai vị chủ lại là người Mường và người Dao của chính vùng sông Đà.
IIĐền Cũ Dưới Lòng Hồ
Lịch sử của đền Chúa Thác Bờ có một đường cắt rõ: trước và sau khi có hồ. Trước, đền đứng bên một khúc thác trên dòng sông Đà chảy xiết. Sau, khi hồ thủy điện Hòa Bình tích nước, khúc thác và ngôi đền cũ cùng chìm dưới hàng chục mét nước, theo Báo Hòa Bình. Đền ngày nay được dựng lại ở chỗ cao hơn. Năm khởi dựng đền cũ và năm dựng lại đền mới, chúng tôi đều chưa tra được.
- Chưa rõKhởi dựng đền cũChưa có bia ký hay văn bản cho biết đền cũ bên Thác Bờ dựng năm nào.
- Đầu đời LêThời của truyện kểDị bản phổ biến đặt hai bà vào đầu đời Lê. Đây là thời gian trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
- Khi hồ tích nướcĐền cũ chìmHồ thủy điện Hòa Bình dâng nước trên khúc sông Đà này, đền cũ và khúc thác chìm dưới hàng chục mét nước.
- Chưa rõDựng lạiĐền được dựng lại ở chỗ cao hơn. Chưa tra được năm dựng lại của từng đền.
- 2009Xếp hạng quốc giaĐược xếp hạng di tích danh thắng quốc gia. Nguồn ghi khác nhau về đối tượng được xếp hạng, chi tiết nêu dưới đây.
- 2016UNESCO ghi danhThực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- 2025Đổi địa giớiTỉnh Hòa Bình cũ nhập vào tỉnh Phú Thọ. Đền bờ phải thuộc xã Thung Nai mới, còn xã Vầy Nưa cũ, nơi có đền bờ trái, chia vào xã Tiền Phong và phường Thống Nhất.
Hai chỗ tư liệu chưa khớp, xin ghi thẳng.
Cái gì được xếp hạng năm 2009. Báo Hòa Bình ghi việc xếp hạng di tích danh thắng quốc gia năm 2009 cho quần thể đền Thác Bờ. Trang của đền và VietnamPlus ghi mốc ấy cho động Thác Bờ. Chúng tôi chưa tra được quyết định riêng cho từng đền, nên ghi cả hai cách hiểu.
Tên gọi các hạng mục. Báo Hòa Bình tả quần thể gồm đền Trình còn gọi đền Chúa, đền Chầu còn gọi đền ông Chẩu, và động Thác Bờ còn gọi động Tiên. Các nguồn khác lại tả theo bờ: đền bờ phải ở Thung Nai, đền bờ trái ở Vầy Nưa. Chúng tôi chưa đối chiếu được tên nào ứng với bờ nào, nên tả cả quần thể, không gán tên cho từng xã.
IIIHai Đền Đối Bờ Và Động Thác Bờ
Quần thể không có trục chung. Ba điểm thờ rải trên hai bờ hồ, nối nhau bằng thuyền. Mỗi điểm có một dáng riêng, do chỗ đất nó đứng quyết định: một đền sát nước, một đền trên đồi, một hang đá.
Hai tầng, tựa lưng vào núi đá. Tầng dưới cho người tới lễ, tầng trên là nơi thờ. Mùa nước lên, thuyền cập thẳng vào cửa đền.
Trên đỉnh đồi Hang Thần, xóm Phố Bờ. Mặt bằng chữ Đinh gồm nhà đại bái và hậu cung, năm cửa, mái lợp ngói vảy cá. Phải leo chừng một trăm bậc đá.
Hang đá vôi khô ráo quanh năm, có nhiều cột thạch nhũ, đi thuyền chừng mười phút từ đền Vầy Nưa theo VietnamPlus. Trong hang có hai pho tượng đồng thờ hai bà.
Báo Hòa Bình và VietnamPlus ghi quần thể có ba mươi tám pho tượng lớn nhỏ, trong đó hai pho tượng đồng là tượng thờ chính.
Chỗ đặt hai pho tượng đồng có một điểm chưa rõ. VietnamPlus viết đền có ba mươi tám pho tượng, trong đó hai pho tượng đồng thờ hai bà, đồng thời viết rằng pho tượng lớn của đền nằm trong hang. Đọc hai câu ấy thì chưa biết chắc hai pho tượng đồng đặt ở đền hay trong động. Chúng tôi ghi theo cách nguồn viết và không tự chọn.
Về chữ Hán: Thác Bờ là tên Nôm của một khúc sông, không có tên chữ nào mà chúng tôi tra được, nên đầu trang để trống thay vì đặt một tên chữ tự suy.
IVThế Đất Và Hướng
Nguồn tư liệu về đền không nói vì sao người xưa chọn đất. Điều thư viện viết dưới đây là một lối đọc theo phong thủy cổ truyền, trên một cảnh đất đã bị con người đổi dạng ngay trong đời chúng ta, nên cách đọc cũng phải nói cả hai thời.
Nơi thờ tự này là một trường hợp hiếm: thế nước đã đổi hẳn. Ngôi đền cũ đứng bên một khúc thác, tức một chỗ nước xiết, nước dữ. Trong phép xem đất, nước chảy gấp và đổ mạnh thường bị coi là không tụ khí, là chỗ khí tán. Người xưa lại dựng đền ở chính chỗ ấy, và điều đó cho thấy ý dựng đền không phải để hưởng một thế đất lành, mà để trấn một chỗ nước dữ, xin cho thuyền qua được yên. Vai của hai bà trong truyền thuyết, người đưa thuyền qua thác, khớp đúng với chỗ đứng ấy.
Khi hồ dâng, thác biến mất. Chỗ nước xiết thành một mặt nước lặng, rộng, quây giữa núi. Theo lối đọc cổ truyền, đây là chuyển từ thủy xung sang thủy tụ: nước không còn đâm vào mà đọng lại trước mặt đền, thành một minh đường mênh mông. Người đi lễ hôm nay tới đền qua đúng mặt nước từng là mối lo của người đi sông ngày trước.
Thứ hai là thế đối bờ. Hai đền đứng hai bên lòng hồ, một ngôi thấp sát nước tựa vào vách núi, một ngôi cao trên đồi. Đọc theo âm dương, ngôi thấp gần nước nghiêng về âm, ngôi cao trên đồi nghiêng về dương, và mặt hồ giữa hai bên là chỗ hai khí gặp nhau. Hang đá có thạch nhũ thì theo lối nhìn cổ truyền là chỗ khí núi kết lại, khô và kín, hợp để giữ tượng thờ.
Về hướng, không nguồn nào ghi độ hướng của từng đền. Điều thấy được là cả ba điểm thờ đều mở ra phía mặt hồ, tức phía con đường nước mà người tới lễ đi vào. Xin nhắc: đây là kiến giải của người viết.
VMùa Hội Trên Mặt Hồ
Đền Chúa Thác Bờ không có một ngày hội gói gọn mà có một mùa hội. Theo Báo Hòa Bình, người dân mở hội ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch, và hội kéo tới hết tháng Ba. Trước đó, từ tháng Chạp, người trong vùng đã về đền làm lễ tạ cuối năm.
| Thời điểm âm lịch | Lệ | Nội dung |
|---|---|---|
| Tháng Chạp | Lễ tạ cuối năm | Người trong vùng về đền làm lễ tạ, mở đầu nhịp đi lễ trước Tết. |
| Mồng 7 tháng Giêng | Khai hội | Ngày mở hội đền theo Báo Hòa Bình. |
| Tháng Giêng tới hết tháng Ba | Mùa hội | Người đi lễ và người hầu đồng các nơi xuôi thuyền về hai đền và động Thác Bờ. |
| Trong mùa hội | Hầu đồng | Các vấn hầu có giá Chúa Thác Bờ, người hầu mặc áo trắng theo mô tả của trang của đền. |
Điều khiến hội Thác Bờ khác các hội đền khác là đường thuyền. Cả mùa hội, lòng hồ thành con đường chính: thuyền đưa người từ bến ra đền bờ phải, sang đền bờ trái, rồi vào động. Đi đủ ba điểm là đi một vòng trên mặt nước. Với người hầu đồng, mùa xuân về Thác Bờ là một chặng quen trong năm, và người đi lễ thường ghép chuyến đi đền với chuyến ngắm hồ và núi đá.
Hệ thống các hàng trong điện thần Tứ Phủ, từ Tam Tòa Thánh Mẫu xuống hàng Cô hàng Cậu, đã giải ở bài Phủ Na, bài này không nhắc lại.
Về di sản: điều UNESCO ghi danh năm 2016 là Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, gồm hầu đồng, chầu văn và lễ hội của cả cộng đồng thờ Mẫu, không riêng một đền nào. Việc hai vị chủ của đền là người Mường và người Dao, còn người đi hầu phần đông là người Việt, cho thấy tín ngưỡng ấy đã nhận vào mình những vị thần của các dân tộc sống cùng vùng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu Thác Bờ trên hồ thủy điện Hòa Bình (sông Đà), gồm hai đền nhìn nhau qua lòng hồ: một đền ở bờ phải thuộc xã Thung Nai (các xã Bắc Phong, Bình Thanh, Thung Nai cũ nhập lại năm 2025, huyện Cao Phong cũ), một đền trên đồi Hang Thần, xóm Phố Bờ, xã Vầy Nưa cũ (huyện Đà Bắc cũ, năm 2025 chia vào xã Tiền Phong và phường Thống Nhất), tỉnh Phú Thọ (Hòa Bình cũ)
- Đường tới
- Quần thể nằm trên lòng hồ thủy điện Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ, thuộc đất Cao Phong và Đà Bắc cũ của tỉnh Hòa Bình cũ. Tới đền bằng thuyền từ các bến ven hồ.
- Toạ độ
- 20.7682, 105.1757
Tới đền phải đi thuyền, nên lệ đầu tiên là lệ của thuyền: mặc áo phao, ngồi yên khi thuyền chạy, lên xuống ở bến theo hướng dẫn của người lái. Đền bờ trái phải leo chừng trăm bậc đá, lối vào động có đoạn ẩm và trơn. Trong đền, dâng hương theo lệ chung của đền Tứ Phủ: ban Công đồng trước, ban Chúa sau. Khi gặp vấn hầu, xin đứng ngoài chiếu hầu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Chúa Thác Bờ
Contribute photos, information or video for Chua Thac Bo TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Chúa Thác Bờ thờ ai
Thờ hai bà Chúa Thác theo Báo Hòa Bình và VietnamPlus: bà Đinh Thị Vân người Mường, và một bà người Dao ở Vầy Nưa không rõ tên. Trong điện thần Tứ Phủ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học xếp Chúa Thác Bờ vào hàng Chầu Bà. Chúa thuộc phủ nào thì nguồn chưa thống nhất.
Đền Thác Bờ có mấy đền
Quần thể gồm hai đền nhìn nhau qua lòng hồ và động Thác Bờ. Đền bờ phải ở Thung Nai hai tầng tựa vào núi, thuyền cập thẳng cửa. Đền bờ trái trên đồi Hang Thần ở Vầy Nưa, mặt bằng chữ Đinh, leo chừng trăm bậc. Động có thạch nhũ và hai pho tượng đồng thờ hai bà.
Đền cũ Thác Bờ ở đâu
Đền cũ đứng bên khúc Thác Bờ trên sông Đà. Khi hồ thủy điện Hòa Bình tích nước, cả khúc thác và ngôi đền cũ chìm dưới hàng chục mét nước, theo Báo Hòa Bình. Đền ngày nay được dựng lại ở chỗ cao hơn, chúng tôi chưa tra được năm dựng lại.
Lễ hội đền Chúa Thác Bờ vào ngày nào
Hội mở ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch và kéo tới hết tháng Ba, theo Báo Hòa Bình. Từ tháng Chạp người trong vùng đã về đền làm lễ tạ cuối năm. Mùa hội là mùa người hầu đồng các nơi về hai đền và động Thác Bờ.
Đền Thác Bờ được xếp hạng gì
Được xếp hạng di tích danh thắng quốc gia năm 2009. Báo Hòa Bình ghi mốc ấy cho quần thể đền Thác Bờ, còn trang của đền và VietnamPlus ghi cho động Thác Bờ. Chúng tôi chưa tra được quyết định riêng cho từng đền.