Từ đường làng Phú Lộc bước vào, thứ đầu tiên quý vị gặp là một nhà bi đình nhỏ đứng riêng ở phía trước, mái ngói che một tấm bia đá. Qua bi đình là khoảng sân rồi tới tòa chính: tường gạch dày bao quanh, bên trong là hàng cột gỗ chạm thếp vàng, ánh vàng mờ đi trong bóng tối của gian thờ. Ngoài những ngày có lễ, khu miếu vắng và yên, chỉ nghe tiếng lá.
Nơi này là văn miếu của cả đất Khánh Hòa xưa, dựng sát thành Diên Khánh, trị sở cũ của trấn rồi của tỉnh. Nó không lớn, không nhiều hạng mục như văn miếu ở kinh đô, nhưng giữ được một thứ mà nhiều văn miếu tỉnh lẻ đã mất: hàng thờ chính thống của Nho học, và tấm văn bia chép tên những người đứng ra dựng miếu.
IKhổng Tử, Tứ Phối Và Thập Triết
Ở giữa là Khổng Tử, được tôn là Vạn thế sư biểu, nghĩa là bậc thầy làm khuôn mẫu cho muôn đời. Hai bên là Tứ phối, bốn vị được thờ phối hưởng cùng ngài, rồi tới mười vị Thập triết (tài liệu di tích do Trung tâm Y tế Diên Khánh chép lại). Đây là hàng thờ chính thống mà các văn miếu thời Nguyễn theo, và Diên Khánh giữ gần đủ lệ ấy chứ không thêm danh nhân địa phương vào ban chính.
Bốn chữ Hán ở đầu bài là tên do thư viện ghép theo âm Hán Việt, không chép từ hoành phi hay văn bia của di tích.
| Vị trong Tứ phối | Tên thường gọi | Danh hiệu theo lệ văn miếu |
|---|---|---|
| Nhan Hồi | Nhan Tử | Phục Thánh, người học trò Khổng Tử khen là ham học nhất |
| Tăng Sâm | Tăng Tử | Tông Thánh, người truyền đạo hiếu |
| Khổng Cấp | Tử Tư | Thuật Thánh, cháu nội Khổng Tử |
| Mạnh Kha | Mạnh Tử | Á Thánh, bậc đứng sau Khổng Tử trong đạo Nho |
Vì sao lại là bốn và mười. Tứ phối là bốn người nối mạch đạo từ Khổng Tử xuống: một người học trò giỏi nhất, một người giữ đạo hiếu, người cháu viết sách Trung Dung, và Mạnh Tử là người làm sáng đạo ở đời sau. Thập triết lấy gốc từ sách Luận Ngữ, nơi các học trò giỏi của Khổng Tử được chia theo bốn khoa là đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự và văn học. Xếp hàng thờ như vậy là xếp theo đường truyền của cái học, người gần gốc đứng gần, người xa gốc đứng xa.
Trong khuôn viên còn tòa Khải miếu, theo lệ văn miếu là nơi thờ song thân Khổng Tử (Báo Khánh Hòa). Lệ ấy nói một ý nhỏ mà rõ: người thờ thầy thì cũng phải nhớ tới cha mẹ đã sinh ra thầy.
IIHai Mốc Khởi Dựng Và Một Tấm Văn Bia
Lịch sử văn miếu Diên Khánh có một chỗ các nguồn chưa khớp ngay từ đầu, là năm khởi dựng. Phần còn lại thì khá rõ: giữa thế kỷ 19 miếu được dựng lại bằng gỗ với đủ các tòa, qua nhiều lần tu sửa, rồi bị cháy và dựng lại, cuối cùng được trùng tu lớn năm 2008.
- 1803Chiếu dựng miếuTheo tài liệu di tích do Trung tâm Y tế Diên Khánh chép lại, năm 1803 vua Gia Long xuống chiếu dựng miếu tại xã Phú Lộc, huyện Hòa Châu, mái lợp tranh. SGGP cũng ghi năm 1803.
- 1846Mốc dựng theo văn biaBáo Khánh Hòa, bài của TS Nguyễn Công Bằng dựa trên văn bia, ghi miếu dựng năm Thiệu Trị thứ 6 do quan Ngô Văn Địch và tri huyện Đặng Trọng Giám khởi xướng.
- 1849Lợp ngói, thêm hai dãy vuTài liệu di tích ghi năm này miếu được lợp ngói và dựng thêm tả vu, hữu vu.
- 1853 tới 1854Dựng lại toàn bộNăm Tự Đức thứ 6 tới thứ 7, miếu dựng lại bằng gỗ, có nhà bi đình, tiền đường và chánh đường. Văn bia chép: năm thứ bảy, mùa đông, miếu làm xong (Báo Khánh Hòa).
- 1858Hai tấm bia đáMiếu còn giữ hai tấm bia đá đời Tự Đức thứ 11 (tài liệu di tích). SGGP nhắc bia ghi người đỗ đạt của địa phương qua các khoa thi đời Nguyễn.
- 1904 và 1941Hai lần tu sửaTài liệu di tích ghi thêm hai lần tu sửa trong nửa đầu thế kỷ 20.
- 1948 và 1958Bị cháy rồi dựng lạiMiếu bị cháy năm 1948. Năm 1958 người ta đưa vật liệu của một ngôi miếu phụ về dựng lại trên nền cũ.
- 1998 và 2008Xếp hạng và trùng tu lớnNgày 15 tháng 10 năm 1998 được xếp hạng di tích quốc gia. Năm 2008 trùng tu lớn, giữ kết cấu của lần dựng lại cuối thập niên 1950.
Xin ghi thẳng các chỗ vênh, không chọn bừa.
Năm khởi dựng. Tài liệu di tích và SGGP ghi 1803, gắn với chiếu của vua Gia Long, miếu buổi đầu chỉ lợp tranh. Báo Khánh Hòa, theo văn bia, ghi 1846. Hai mốc có thể cùng đúng nếu hiểu 1803 là lúc lập miếu tranh, còn 1846 là lúc quan tỉnh và tri huyện đứng ra dựng một ngôi miếu tử tế hơn mà văn bia ghi lại. Nhưng đó là cách chúng tôi dung hòa, chưa nguồn nào nói như vậy.
Người dựng lại năm 1853. Báo Khánh Hòa gắn lần dựng lại với quan tỉnh Đỗ Thúc Tỉnh, còn hai tên Ngô Văn Địch và Đặng Trọng Giám gắn với mốc 1846.
Diện tích. Báo Khánh Hòa và tài liệu di tích cùng ghi khu miếu chừng 1.500 mét vuông, trong khi có tư liệu ghi khuôn viên gần 1,8 héc ta. Có thể con số nhỏ là khu thờ và con số lớn là cả đất di tích, chưa nguồn nào nói rõ.
Năm 1958 hay 1959. Tài liệu di tích ghi dựng lại năm 1958, nhưng lại nói đợt trùng tu năm 2008 giữ kết cấu kiến trúc từ năm 1959. Chênh một năm, có lẽ là năm khởi công và năm xong.
Tên gọi văn miếu Diên Khánh dễ làm người ta nghĩ đây là văn miếu cấp huyện, vì Diên Khánh quen là tên một huyện. Thực ra miếu gắn với thành Diên Khánh, trị sở của trấn rồi của tỉnh Khánh Hòa trong thế kỷ 19, nên đây là văn miếu của cả đất Khánh Hòa, cũng vì thế mà có người gọi là văn miếu Khánh Hòa. Chữ Diên Khánh trong tên chỉ nơi đặt miếu, không chỉ cấp lập miếu.
IIINhà Bi Đình Và Chánh Đường Gỗ
Theo tài liệu di tích, lần dựng năm 1853 có nhà bi đình ở phía trước, chính giữa là tòa tiền đường và chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ, tường gạch bao quanh. Hai bên là tả vu và hữu vu, phía sau và bên cạnh có Khải miếu, Quan cư và Từ miếu. Cột gỗ chạm thếp vàng (Báo Khánh Hòa). Báo Khánh Hòa còn ghi miếu dựng trên một khoảnh đất cao.
Nhà che bia đứng trước trục chính. Người vào miếu gặp chữ trước khi gặp ban thờ, lối bày hợp với một nơi thờ đạo học.
Tòa phía trước của khối thờ chính, nơi người tế đứng hành lễ, cách ban thờ bên trong một khoảng theo đúng lệ.
Tòa đặt ban Khổng Tử và Tứ phối, kết cấu gỗ, tường gạch bao, cột chạm thếp vàng. Đây là phần giữ được nhiều dáng dấp giữa thế kỷ 19 nhất qua các lần dựng lại.
Hai dãy nhà hai bên, thêm vào năm 1849, theo lệ văn miếu là nơi thờ hàng tiên hiền, tiên nho ở bậc dưới.
Tòa nhỏ thờ song thân Khổng Tử.
Nhà cho quan chủ tế và người trông miếu nghỉ, chuẩn bị lễ, cùng ngôi miếu nhỏ trong khuôn viên, theo danh mục của tài liệu di tích.
Nếu đã đọc bài Văn miếu Trấn Biên, quý vị sẽ thấy hai nơi khác nhau ở chỗ này. Trấn Biên là văn miếu đầu tiên của Đàng Trong, dựng năm 1715, nhưng không cấu kiện nào của công trình cũ còn lại, toàn bộ là bản dựng từ năm 1998. Diên Khánh ra đời muộn hơn gần một thế kỷ, qua cháy và dựng lại, nhưng bộ khung vẫn nối được với kiến trúc giữa thế kỷ 19 qua đợt trùng tu năm 2008. Cái quý ở Diên Khánh không phải tuổi lớn mà là sự liền mạch.
IVThế Đất Và Hướng
Văn bia và tài liệu di tích Diên Khánh chỉ ghi miếu dựng trên đất cao, không nói gì về phép chọn đất. Hộp dưới đây là thư viện đọc thêm theo lối phong thủy cổ truyền, xin quý vị coi là kiến giải để đối chiếu, không coi là sử liệu.
Chi tiết đáng giá nhất mà nguồn còn để lại là đất cao. Ở vùng đồng bằng ven sông như Diên Khánh, mùa mưa nước lên nhanh, chọn một khoảnh gò để dựng miếu trước hết là việc giữ cho miếu khỏi ngập. Phong thủy cổ truyền đọc thêm một lớp nữa: gò nổi giữa đất bằng là chỗ khí kết, và các nơi thờ văn thường được đặt ở những điểm nhô như vậy để đứng cao hơn nhà cửa xung quanh một chút, như cái học đứng trên việc thường ngày.
Thứ hai là quan hệ với thành Diên Khánh. Miếu không nằm trong thành mà ở làng Phú Lộc gần thành. Thành là chỗ của quyền và của binh, miếu là chỗ của văn. Đặt hai thứ gần nhau nhưng không chung một vòng tường là cách người xưa giữ cho việc thờ đạo học vừa được nhà nước bảo trợ, vừa không lẫn vào chốn quan nha.
Thứ ba là nước. Vùng Diên Khánh nằm trên đồng bằng của sông Cái chảy về Nha Trang, đất bồi, nhiều nước. Trong phép xem đất, một khu có gò làm chỗ đứng và có dòng sông không xa làm mạch dẫn khí là thế đủ dùng, không cần núi lớn. Chúng tôi chưa tra được nguồn nào ghi hướng miếu, nên không suy thêm về hướng.
Sau cùng là lớp nghĩa của nhà bi đình đứng trước. Trong trục thờ, cái đứng đầu tiên là cái định giọng cho cả khu. Ở nhiều đền, đó là cổng có tượng hộ pháp hay ngựa đá. Ở đây, đó là một tấm bia chữ. Người bước vào trục này gặp văn tự trước khi gặp ban thờ, và theo cách đọc cổ truyền, chữ đặt ở đầu trục là chữ giữ cửa cho cả nơi thờ.
VThánh Đản, Thánh Húy Và Học Bổng
Văn miếu Diên Khánh giữ lệ tế xuân thu của văn miếu, cùng hai lễ gắn với thân thế Khổng Tử là ngày sinh và ngày mất. Theo tài liệu di tích, các lễ do Ban nghi lễ văn miếu lo liệu, và dịp lễ thường đi cùng việc trao học bổng cho học trò trong vùng.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùa xuân và mùa thu | Tế xuân thu | Hai kỳ tế Khổng Tử và Tứ phối theo lệ văn miếu. |
| Ngày 27 tháng Tám | Thánh đản | Kỷ niệm ngày sinh Khổng Tử, dâng hương tại chánh đường. |
| Ngày 18 tháng Tư | Thánh húy | Kỷ niệm ngày mất Khổng Tử theo ngày ghi trong tài liệu di tích. |
| Trong các dịp lễ | Trao học bổng | Khen thưởng học trò học giỏi của địa phương, giữ nếp khuyến học của văn miếu. |
Ngày mất của Khổng Tử được các nơi ghi không giống nhau, ngày 18 tháng Tư ở trên là theo tài liệu của chính di tích. Việc trao học bổng ngay trong lễ là chỗ đáng nói: lễ tôn sư ở đây không chỉ nhìn về người xưa mà còn trao một phần cho người đang học.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Phú Lộc, xã Diên Khánh (thị trấn Diên Khánh cũ, huyện Diên Khánh cũ), tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Nằm ở thôn Phú Lộc, xã Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, trên đất thị trấn Diên Khánh cũ, gần di tích thành Diên Khánh. Từ Nha Trang đi ngược lên phía tây một quãng ngắn là tới.
- Toạ độ
- 12.263, 109.0873
Lệ của nơi này là lệ văn miếu: dâng hương, hoa, trà, không đặt lễ mặn, không đốt vàng mã trước ban Khổng Tử. Không chạm tay vào hai tấm bia đá đời Tự Đức và các cột gỗ thếp vàng. Ngoài mùa lễ khu miếu vắng, nên đi nhẹ nói khẽ để giữ cái yên vốn là một phần của nơi thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn miếu Diên Khánh
Contribute photos, information or video for Dien Khanh Temple of LiteratureThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn miếu Diên Khánh thờ ai
Thờ Khổng Tử, tôn là Vạn thế sư biểu, cùng Tứ phối là Nhan Hồi, Tăng Sâm, Khổng Cấp, Mạnh Kha và mười vị Thập triết. Trong khuôn viên có Khải miếu thờ song thân Khổng Tử. Hàng thờ giữ theo lệ chính thống, không thêm danh nhân địa phương vào ban chính.
Văn miếu Diên Khánh xây năm nào
Nguồn ghi hai mốc. Tài liệu di tích và SGGP ghi năm 1803, khi vua Gia Long xuống chiếu dựng miếu tranh ở xã Phú Lộc. Báo Khánh Hòa, theo văn bia, ghi năm 1846. Miếu được dựng lại bằng gỗ năm 1853 tới 1854 và trùng tu lớn năm 2008.
Văn miếu Diên Khánh có phải văn miếu cấp huyện không
Không. Miếu gắn với thành Diên Khánh, trị sở của trấn rồi của tỉnh Khánh Hòa thế kỷ 19, nên đây là văn miếu của cả đất Khánh Hòa, cũng vì thế có người gọi là văn miếu Khánh Hòa. Chữ Diên Khánh trong tên chỉ nơi đặt miếu.
Văn miếu Diên Khánh còn bia gì
Theo tài liệu di tích, miếu còn giữ hai tấm bia đá đời Tự Đức thứ 11, tức năm 1858, và nhà bi đình ở phía trước. SGGP nhắc bia ghi người đỗ đạt của địa phương qua các khoa thi đời Nguyễn. Văn bia là nguồn chép tên người khởi xướng dựng miếu.
Lễ ở Văn miếu Diên Khánh vào ngày nào
Theo tài liệu di tích, lễ Thánh đản kỷ niệm ngày sinh Khổng Tử vào ngày 27 tháng Tám âm lịch, lễ Thánh húy vào ngày 18 tháng Tư âm lịch, cùng hai kỳ tế xuân thu. Dịp lễ thường có trao học bổng cho học trò trong vùng.