Qua cổng tam quan, quý vị đứng trước một khoảng sân rộng. Hai bên sân là hai lầu nhỏ, lầu Cô và lầu Cậu, giữa sân là bệ thờ Thượng Thiên để trống mái, nhìn thẳng lên trời. Phía trong là ba tòa nhà nối nhau, mái ngói âm dương, đầu đao cong, bờ nóc đắp linh thú. Quay lưng lại, qua hết khoảng sân, là một hồ nước dài trải về phía đông nam.
Đây là đền Quan Tam Phủ của làng Thanh Sơn, dân quen gọi gọn là đền Quan, tên khác là đền Thanh Sơn. Đền thờ Tam phủ, tức ba cõi Thiên, Địa, Thủy, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, và phối thờ Đức Thánh Trần. Điều làm nó khác các đền Mẫu quanh vùng nằm ở hai chỗ: bố cục ba tòa thu hẹp dần vào trong, và một bộ bảy đạo sắc phong cho Mẫu Liễu Hạnh kéo dài hơn một trăm ba mươi năm.
ITam Phủ, Mẫu Liễu Hạnh Và Ban Trần Triều
Theo tư liệu di tích của tỉnh, đền thờ ba lớp. Lớp thứ nhất là Tam phủ: Thiên phủ là cõi trời, Địa phủ là cõi đất, Thủy phủ là cõi nước. Lớp thứ hai là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị Mẫu được sắc phong nhiều lần ở chính ngôi đền này. Lớp thứ ba là ban Trần Triều thờ Đức Thánh Trần, được phối thờ theo nếp chung của nhiều đền Mẫu miền Bắc.
Hai chữ Hán đặt ở đầu trang ghi tên Thanh Sơn, tức tên làng và tên khác của đền. Đó là cách thư viện ghi theo tên gọi, không phải chữ chép từ một tấm hoành phi trong đền.
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, vũ trụ được chia thành các phủ, mỗi phủ một cõi và một vị Mẫu cai quản. Khi nói Tam phủ, người ta nói ba cõi Thiên, Địa, Thủy. Khi thêm cõi rừng núi, tức Nhạc phủ, thì thành Tứ phủ. Hai cách gọi cùng tồn tại trong đạo Mẫu, và tên đền này giữ cách gọi ba cõi.
Mẫu Liễu Hạnh được coi là vị đứng đầu Tam tòa Thánh Mẫu, ngự ở Thiên phủ. Theo thần tích quen dùng, bà là công chúa trên trời giáng trần nhiều lần. Chuyện của bà gắn với nhiều nơi thờ lớn, trong đó có Phủ Tây Hồ ở Hà Nội. Ở đền Quan Tam Phủ, chỗ đặc biệt không phải thần tích mà là giấy tờ: triều đình nhiều đời đã sắc phong bà là thượng đẳng thần, và các đạo sắc ấy còn giữ ở đây.
Chỗ hay hiểu lầm nhất nằm ở cái tên. Nghe đền Quan Tam Phủ, lại nghe trong đền có tòa Đệ Tam, nhiều người đoán đây là đền thờ Quan Lớn Đệ Tam, một vị trong hàng Ngũ vị Tôn quan. Không phải. Các nguồn không ghi đền thờ riêng Quan Lớn Đệ Tam. Chữ Quan trong tên là tên gọi tắt, dân làng quen nói đền Quan. Tam Phủ ở đây là ba cõi Thiên, Địa, Thủy.
Còn Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam là tên ba tòa nhà của đền, đánh số từ ngoài vào trong, chứ không phải tên ba vị quan. Tòa Đệ Tam thờ Mẫu Liễu Hạnh. Nơi được người hầu đồng coi là đền chính của Quan Lớn Đệ Tam là Đền Lảnh Giang bên sông Hồng, một di tích khác hẳn.
Cũng xin phân biệt với những đền khác mang tên Tam Phủ trong cùng tỉnh, chẳng hạn đền Tam Phủ ở vùng Quế Võ cũ. Đó là những di tích riêng, có hồ sơ riêng.
IITừ Am Nhỏ Trên Dốc Suối Hoa
Theo lời truyền, tiền thân của đền là một am nhỏ trên dốc Suối Hoa, nơi dân làng lập đàn cầu mưa thuận gió hòa. Đây là lớp truyền thuyết, không phải sử liệu. Lớp chắc hơn là hiện vật: cây hương đá có năm khắc 1704 là thứ có niên đại sớm nhất còn lại, rồi tới bộ sắc phong bắt đầu từ năm 1792.
- Thế kỷ 17Am cầu mưaTương truyền đền khởi từ một am nhỏ trên dốc Suối Hoa, nơi dân làng Thanh Sơn lập đàn cầu mưa. Mốc thế kỷ 17 theo tư liệu giới thiệu di tích, không có văn bản đương thời.
- 1704Cây hương đá thứ nhấtHiện vật có niên đại sớm nhất còn giữ tại đền, cho thấy nơi thờ đã có từ đầu thế kỷ 18 là muộn nhất.
- 1792Đạo sắc phong đầu tiênĐạo sắc sớm nhất trong bảy đạo phong công chúa Liễu Hạnh là thượng đẳng thần.
- Đầu thế kỷ 19Trùng tu lớnTư liệu địa phương ghi đền được trùng tu lớn trên nền cũ có từ thời Lê trung hưng.
- 1851Đúc chuông đồngQuả chuông đồng của đền mang năm này. Tới năm 1869 đền có thêm cây hương đá thứ hai.
- 1924Đạo sắc phong cuốiĐạo sắc thứ bảy và là đạo cuối trong bộ sắc phong cho công chúa Liễu Hạnh.
- 1932Bia Hậu kỵDựng bia Hậu kỵ bi ký. Theo lệ chung của loại bia hậu, bia ghi tên người gửi giỗ hậu vào đền để được làng cúng về sau.
- 1994Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Chúng tôi chưa tra được số quyết định.
Có mấy chỗ tư liệu chưa khớp nhau hoàn toàn, xin nói rõ.
Về niên đại khởi dựng. Tư liệu giới thiệu di tích ghi đền có từ thế kỷ 17. Tư liệu địa phương lại nói tới một lần trùng tu lớn đầu thế kỷ 19 trên nền cũ thời Lê trung hưng. Hai cách ghi không trái nhau, vì thời Lê trung hưng trải suốt thế kỷ 17 và 18. Nhưng không nguồn nào nêu được năm khởi dựng, và hiện vật sớm nhất chỉ đưa ta về năm 1704.
Về dáng kiến trúc hiện nay. Phong cách được mô tả là Nguyễn muộn, tức muộn hơn lần trùng tu đầu thế kỷ 19. Dáng đền hôm nay định hình qua các lần trùng tu về sau, nên những gì quý vị thấy phần lớn thuộc lớp muộn, còn lớp cũ nằm trong hiện vật.
Về xếp hạng. Các nguồn thống nhất năm 1994, nhưng chúng tôi chưa tra được số và ngày của quyết định.
IIIBa Tòa Bảy, Năm, Ba Gian
Đền dàn theo một trục: tam quan, sân với lầu Cô, lầu Cậu và bệ Thượng Thiên, rồi ba tòa nối nhau. Điều đáng để ý nhất là số gian giảm dần khi đi vào trong: tòa ngoài bảy gian, tòa giữa năm gian, tòa trong cùng ba gian. Càng vào sâu càng hẹp, càng kín, và vị được thờ ở tòa trong cùng là vị cao nhất của đền.
Hai lầu nhỏ đứng hai bên sân, thờ hàng Thánh Cô và Thánh Cậu. Cách đặt này quen thuộc ở các phủ Mẫu lớn miền Bắc.
Bệ lộ thiên giữa sân, thờ trời. Không có mái, vì chỗ thờ trời phải nhìn thẳng lên trời.
Còn gọi cung công đồng, thờ các quan thuộc hàng Ngũ vị Quan Lớn, nguồn không kể tên riêng từng vị. Khung gỗ lim, vì kèo kiểu chồng rường giá chiêng.
Thờ Tam phủ, tức ba cõi Thiên, Địa, Thủy. Vì kèo kiểu kẻ bẩy con chồng.
Tòa trong cùng, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Vì kèo kiểu kẻ bẩy con chồng như tòa giữa.
Mái ngói âm dương, đầu đao cong, bờ nóc đắp linh thú, gỗ chạm tứ linh và tứ quý theo lối Nguyễn muộn.
Bộ hiện vật
| Hiện vật | Niên đại | Ghi chú |
|---|---|---|
| Bảy đạo sắc phong | 1792, 1846 (hai đạo), 1880, 1887, 1909, 1924 | Phong công chúa Liễu Hạnh là thượng đẳng thần. Đạo năm 1792 ra đời trước khi nhà Nguyễn lập, sáu đạo sau thuộc thời Nguyễn. |
| Hai cây hương đá | 1704 và 1869 | Cây năm 1704 là hiện vật có niên đại sớm nhất của đền. |
| Chuông đồng | 1851 | Đúc thời Nguyễn. |
| Sáu câu đối | Thế kỷ 19 | Cùng lớp niên đại với các lần tu bổ thời Nguyễn. |
| Bia Hậu kỵ bi ký | 1932 | Loại bia hậu, ghi tên người gửi giỗ vào đền theo lệ làng. |
| Đỉnh đồng, bình hương đồng | Thời Nguyễn | Đồ thờ bằng đồng đặt trong các tòa. |
Bộ sắc phong là chỗ đáng dừng lâu nhất. Bảy đạo trải từ năm 1792 tới năm 1924, tức hơn một trăm ba mươi năm, qua nhiều đời vua, cùng phong một vị thần ở cùng một ngôi đền. Một bộ liền mạch như vậy cho thấy đền đã được triều đình ghi nhận đều đặn qua nhiều thời, và cho thấy làng Thanh Sơn đã giữ giấy tờ của mình cẩn thận qua bao lần trùng tu.
IVThế Đất Và Hướng
Những dòng dưới đây không chép từ thần tích, sắc phong hay bia đá của đền. Đó là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, dựa trên những gì nhìn thấy ở thế đất và bố cục hôm nay. Quý vị nên đọc như một kiến giải, tách riêng khỏi phần tư liệu ở trên.
Thứ đầu tiên đáng đọc là mặt nước trước đền. Mặt đền nhìn qua sân rộng ra một hồ nước dài ở phía đông nam. Trong phép xem đất, khoảng trống trước nhà là minh đường, và minh đường có nước tụ lại thì được coi là giữ được khí. Ở đây sân làm minh đường gần, hồ làm minh đường xa, hai lớp nối nhau.
Thứ hai là hướng. Đền quay mặt về phía đông nam, tức phương Tốn trong bát quái, ứng với gió. Phương ấy ở đồng bằng Bắc Bộ đón được gió nồm mát của mùa hè, tránh được gió bấc mùa đông. Đây là hướng hay gặp ở đình đền vùng Kinh Bắc.
Thứ ba là đất có thế. Lời truyền nói am cũ ở trên dốc Suối Hoa, tên làng lại là Thanh Sơn, tức núi xanh. Hai cái tên cho thấy đây không phải đất phẳng tuyệt đối mà là chỗ đất có dốc, có mạch nước. Theo lối đọc cũ, đất có dốc làm chỗ tựa phía sau, nước làm minh đường phía trước, ấy là thế tựa sơn hướng thủy ở quy mô nhỏ.
Sau cùng là chỗ trùng nghĩa. Đền thờ ba cõi Thiên, Địa, Thủy, mà chính nơi đền đứng có đủ ba thứ ấy: bệ Thượng Thiên lộ thiên giữa sân để thờ trời, đất dốc làm chỗ tựa, hồ nước trước mặt. Ba tòa thu hẹp từ bảy gian xuống ba gian thì theo lối cũ là thu khí vào trong, dồn về chỗ thờ vị cao nhất. Chúng tôi ghi những nhận xét ấy như một cách đọc, không hơn.
VLễ Hội Tháng Hai Và Các Ngày Tiệc
Lễ hội chính của đền vào ngày 22 tháng 2 âm lịch, theo tư liệu di tích. Ngoài ngày ấy, đền còn đông vào các ngày tiệc chung của đạo Mẫu, những ngày mà mọi phủ Mẫu miền Bắc đều giữ. Chúng tôi ghi rõ ngày nào là lệ riêng của đền, ngày nào là nếp chung.
| Ngày âm lịch | Lễ | Ghi chú |
|---|---|---|
| 22 tháng 2 | Lễ hội đền Quan Tam Phủ | Lễ hội chính trong năm của đền, theo tư liệu di tích. |
| Mùng 3 tháng 3 | Tiệc Mẫu Liễu Hạnh | Nếp chung của đạo Mẫu, nguồn không ghi riêng cho đền này. Với một đền giữ bảy đạo sắc phong cho Mẫu thì đây là ngày quan trọng. |
| 20 tháng 8 | Giỗ Đức Thánh Trần | Nếp chung ở các nơi có ban Trần Triều, nguồn không ghi riêng cho đền này. |
| Rằm và mùng một | Lễ thường | Người trong làng và khách thập phương đến dâng hương. |
Người đi lễ đạo Mẫu quen câu tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ, tức tháng Tám âm lịch giỗ Đức Thánh Trần, tháng Ba âm lịch tiệc Mẫu Liễu Hạnh. Đền Quan Tam Phủ có cả hai ban ấy, nên cả hai mùa đều có người về. Nếu quý vị muốn đi thêm một nơi thờ nữ thần khác trong vùng, Đền Bà Chúa Kho cách chừng ba cây số thờ vị nữ thần coi kho lương thời Lý, một hệ tín ngưỡng khác với Tam phủ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu Thanh Sơn, phường Vũ Ninh (thành phố Bắc Ninh cũ), tỉnh Bắc Ninh. Phía nam làng Thanh Sơn, thời Nguyễn thuộc tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, gần ga Thị Cầu. KHÔNG phải Ninh Bình như kho ghi
- Đường tới
- Đền ở khu Thanh Sơn, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh, thuộc thành phố Bắc Ninh cũ, phía nam làng Thanh Sơn, gần ga Thị Cầu. Đền Bà Chúa Kho cách chừng ba cây số.
- Toạ độ
- 21.1874, 106.0838
Đền là nơi thờ tự đang hoạt động của làng Thanh Sơn, lệ của đền là lệ phải theo. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa, đi nhẹ nói khẽ ở tòa Đệ Tam. Không chạm tay vào sắc phong, hương đá và chuông đồng. Nếu gặp một vấn hầu, xin đứng ngoài chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ. Tiền lễ đặt đúng chỗ đền quy định, không cài lên tượng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Quan Tam Phủ
Contribute photos, information or video for Quan Tam Phu TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
đền quan tam phủ bắc ninh thờ ai
Thờ Tam phủ, tức ba cõi Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở tòa trong cùng, và phối thờ Đức Thánh Trần ở ban Trần Triều. Tòa ngoài cùng là cung công đồng, thờ các quan thuộc hàng Ngũ vị Quan Lớn. Hai bên sân có lầu Cô và lầu Cậu.
đền quan tam phủ có phải đền quan lớn đệ tam không
Không. Các nguồn không ghi đền thờ riêng Quan Lớn Đệ Tam. Chữ Quan là tên gọi tắt, Tam Phủ là ba cõi Thiên, Địa, Thủy. Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam là tên ba tòa của đền, không phải tên ba vị quan. Đền chính của Quan Lớn Đệ Tam là Đền Lảnh Giang.
đền quan tam phủ ở đâu
Ở khu Thanh Sơn, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh, thuộc thành phố Bắc Ninh cũ, phía nam làng Thanh Sơn, gần ga Thị Cầu. Thời Nguyễn nơi này thuộc tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng. Đền cách Đền Bà Chúa Kho chừng ba cây số.
đền quan tam phủ có bao nhiêu đạo sắc phong
Bảy đạo, đều phong công chúa Liễu Hạnh là thượng đẳng thần, mang các năm 1792, 1846 (hai đạo), 1880, 1887, 1909 và 1924. Ngoài ra đền còn hai cây hương đá năm 1704 và 1869, chuông đồng năm 1851, sáu câu đối thế kỷ 19 và bia Hậu kỵ năm 1932.
lễ hội đền quan tam phủ ngày nào
Lễ hội chính vào ngày 22 tháng 2 âm lịch, theo tư liệu di tích. Ngoài ra đền đông vào các ngày tiệc chung của đạo Mẫu như mùng 3 tháng 3 tiệc Mẫu Liễu Hạnh và 20 tháng 8 giỗ Đức Thánh Trần, cùng các ngày rằm, mùng một.