Rẽ khỏi quốc lộ 51, qua cổng tam quan, tiếng xe tải lùi lại sau lưng rất nhanh. Quý vị sẽ đi giữa những hàng cây cao trên nền đất đỏ, thấy chánh điện mái cong ở cuối lối, và nếu đi tiếp vào sâu sẽ thấy những mái nhà nhỏ rải rác dưới tán cây. Đó là các thiền thất, mỗi thất một người tu, và trong khuôn viên có tới khoảng hai trăm thất như thế. Người đến đây vào lúc chư tăng đang ngồi thiền sẽ nhận ra một điều: cả khu rừng yên đến mức nghe rõ tiếng lá rơi.
Thường Chiếu không phải ngôi chùa cổ. Thiền viện mới có từ năm 1974, do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập. Nhưng với những người tu theo Thiền phái Trúc Lâm hiện đại, đây là chốn tổ: nơi thiền phái được tổ chức lại, nơi đào tạo các lớp tăng về sau đi mở thiền viện khắp nơi, trong đó có Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.
IChốn Tổ Của Trúc Lâm Hiện Đại
Thiền phái Trúc Lâm hiện đại là thiền phái do Hòa thượng Thích Thanh Từ phục hưng trong thế kỷ 20. Thiền phái lấy Trúc Lâm Tam Tổ thời Trần, tức Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, làm nguồn và tông chỉ, nhưng là một thiền phái lập mới chứ không phải một mạch truyền liền từ thời Trần tới nay. Thiền viện Thường Chiếu là tổ đình của thiền phái ấy.
Hai chữ Trúc Lâm hay bị gộp làm một. Trúc Lâm thời Trần là dòng thiền của Tam Tổ ở thế kỷ 13 và 14, có chốn tổ ở Yên Tử và những ngôi chùa như chùa Phổ Minh, nơi đặt tháp xá lợi của Sơ tổ. Thiền phái Trúc Lâm hiện đại là thiền phái lập trong thế kỷ 20, lấy lại tên và tông chỉ của Tam Tổ, có tổ đình là Thường Chiếu. Thiền phái hiện đại tôn Tam Tổ làm nguồn, nhưng tổ khai sơn của các thiền viện Trúc Lâm hôm nay là Hòa thượng Thích Thanh Từ. Cả hai đều đúng tên Trúc Lâm, chỉ khác lớp thời gian.
Pháp môn mà Hòa thượng Thích Thanh Từ dạy cho thiền sinh thường được gói trong bốn chữ biết vọng không theo. Người tu ngồi thiền, thấy niệm nghĩ khởi lên thì biết nó là vọng, rồi không đuổi theo, không đè nén, để nó tự lặng. Chỗ nhắm tới là nhận ra cái tánh biết vốn sẵn nơi mình, theo lối đốn ngộ của Thiền tông.
Thiền viện đi cùng phương châm phản quan tự kỷ bổn phận sự, nghĩa là quay lại soi chính mình là việc gốc của người tu. Câu ấy vốn là lời của các vị thiền sư thời Trần, và việc thiền viện lấy làm phương châm cho thấy nhịp nối mà thiền phái hiện đại muốn giữ với Tam Tổ. Bên cạnh thiền, người tu học kinh luận, theo lối thiền và giáo đi đôi.
Theo tư liệu của các thiền viện Trúc Lâm, Hòa thượng Thích Thanh Từ bắt đầu dựng nơi tu thiền từ năm 1966 trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Năm 1974 ngài lập Thường Chiếu ở Long Thành. Về sau ngài lập Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt năm 1993 và dựng lại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử năm 2002, cùng gần ba mươi thiền viện trong và ngoài nước. Thường Chiếu là nơi đầu tiên có quy mô của chuỗi ấy, và là nơi các vị tăng trụ trì những thiền viện sau này phần nhiều đã tu học.
Về bài kệ đặt pháp danh theo đời, thư viện chưa tra được bài kệ nào của thiền phái có nguồn rõ, nên không ghi. Người đọc muốn biết pháp danh của một vị tăng Thường Chiếu thuộc đời nào xin hỏi trực tiếp thiền viện.
IITừ Mái Lá Tới Thiền Viện
Lịch sử của Thường Chiếu ngắn, và toàn là lịch sử xây dựng và tu học. Các mốc dưới đây theo tư liệu phatgiao.org.vn và trang An Phát.
- 1966Nơi tu đầu tiênHòa thượng Thích Thanh Từ dựng nơi tu thiền trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu, bước đầu của việc phục hưng Thiền tông Việt Nam.
- 1974Lập thiền việnThường Chiếu được lập trên khu đất ven quốc lộ 51, ban đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá, vách đất.
- 1986Khánh thành chánh điệnChánh điện khánh thành ngày 15 tháng 4 năm 1986.
- 1988Lầu chuôngDựng lầu chuông, theo trang An Phát.
- 1994Xây lại khu chínhKhu chùa chính được xây lại theo thiết kế của kiến trúc sư Đỗ Hữu Nam, theo trang An Phát.
- 1998Đại trùng tu tổ đườngTổ đường và khu tăng xá được đại trùng tu, mở rộng.
- NayTrung tâm tu thiềnHơn một trăm vị tăng thường trú, tu theo thời khóa thiền nghiêm ngặt, bên cạnh là Thiền viện Linh Chiếu của ni chúng.
Về diện tích, nguồn không khớp. Phatgiao.org.vn và phần lớn bài giới thiệu ghi khuôn viên rộng khoảng 10 héc ta. Trang An Phát ghi thiền viện dựng trên 13 héc ta, nằm trong một khu đất 52 héc ta được hiến cúng. Có thể con số 10 héc ta là phần xây dựng, còn 13 héc ta tính cả vườn rừng, nhưng thư viện chưa thấy nguồn nào giải thích, nên ghi cả hai.
IIIThiền Đường, Thiền Thất Và Tàng Thư
Kiến trúc Thường Chiếu mang dáng chùa Việt truyền thống, mái ngói cong, cột gỗ, nhưng bố cục phục vụ trước hết cho việc tu thiền, không cho việc đón khách. Các công trình dàn trong rừng, nối nhau bằng lối đi dưới tán cây.
Khánh thành năm 1986, là nơi hành lễ chung của tăng chúng, thờ Phật theo lối Thiền tông, bài trí giản dị.
Nơi tăng chúng ngồi thiền chung theo thời khóa. Đây là trái tim thật của thiền viện.
Thờ các vị tổ Thiền tông và Trúc Lâm Tam Tổ, đại trùng tu năm 1998.
Thư viện giữ kinh sách, bản giảng và tư liệu của thiền phái, phục vụ việc học giáo lý song song với tu thiền.
Khoảng 200 thất nhỏ rải trong vườn rừng, mỗi thất cho một vị tăng tu nhập thất, tách khỏi sinh hoạt chung một thời gian.
Nơi ở và nơi thọ trai của chư tăng, cùng nhà khách, bệnh xá và nhà trù.
Hai trăm thiền thất là con số nói nhiều nhất về Thường Chiếu. Chùa làng không cần thất. Thiền viện cần, vì ở đây việc chính là ngồi thiền, và một vị tăng khi tu tới độ nào đó sẽ xin vào thất để tu riêng một thời gian. Số thất cho biết quy mô của việc tu, chứ không phải quy mô của việc lễ.
Nhiều người đến Thường Chiếu tưởng đây là nơi tham quan như Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Hai nơi khác vai. Đà Lạt là thiền viện lớn trên đồi Phượng Hoàng, có khu đón khách thập phương. Thường Chiếu là chốn tổ và nơi đào tạo, phần lớn khuôn viên dành cho tăng chúng tu học. Thiền viện Linh Chiếu ngay bên cạnh, cùng do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập, là nơi tu của ni chúng. Hai thiền viện đứng cạnh nhau bên quốc lộ 51, một bên tăng, một bên ni.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của thiền viện. Tư liệu của Thường Chiếu không nói việc chọn đất theo phong thủy, chỉ ghi khu đất được hiến cúng. Phần dưới đây là kiến giải, xin quý vị phân biệt với tư liệu.
Điều đầu tiên đáng nói là Thường Chiếu không chọn đất đẹp theo sách mà nhận đất được cúng. Khu đất ven quốc lộ 51 thuộc vùng gò đất đỏ miền Đông Nam Bộ, không có núi cao tựa lưng, không có sông lớn trước mặt. Trong phép xem đất, đây là thế bình dương, đất phẳng hơi gợn, khí tản đều chứ không tụ mạnh vào một huyệt.
Đọc theo phong thủy, thế ấy lại hợp với một thiền viện. Nơi khí tụ mạnh thường là nơi đông người, hợp với đền miếu cầu xin. Nơi khí tản đều và lặng hợp với sự tĩnh, với người cần ngồi yên nhiều giờ. Rừng cây quanh thiền viện đóng vai trò làm tường khí, ngăn tiếng và gió từ quốc lộ, giữ cho bên trong thành một vùng lặng.
Về bố cục, cách rải thiền thất khắp vườn rừng thay vì dồn vào một khối là lối tổ chức của thiền lâm: nhiều điểm nhỏ quanh một trung tâm. Chánh điện và thiền đường ở giữa là chỗ tụ, các thất tỏa ra là chỗ tán. Người đọc quen phong thủy chùa cổ sẽ thấy đây là một kiểu đọc đất khác: không tìm huyệt, mà giữ lặng cho cả vùng.
Cuối cùng là tên gọi. Thường Chiếu nghĩa là luôn soi sáng. Đọc theo nghĩa, tên ấy khớp với pháp môn của thiền viện: luôn tỉnh biết, thấy vọng niệm mà không theo. Một nơi đất lặng mang tên luôn soi, là chỗ tên và đất cùng nói một điều.
VLễ Và Thời Khóa Tu Học
Nhịp của Thường Chiếu là nhịp tu học hằng ngày chứ không phải nhịp lễ hội. Tăng chúng ngồi thiền, học kinh, làm việc theo thời khóa cố định suốt năm. Bên cạnh đó thiền viện giữ các ngày lễ lớn của Phật giáo và ngày giỗ Tổ.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, cũng là đầu mùa an cư của tăng chúng. |
| Rằm tháng 4 tới rằm tháng 7 | An cư kiết hạ | Ba tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học, theo luật nhà Phật. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan và mãn hạ | Lễ báo hiếu cha mẹ, khép lại mùa an cư. |
| Đầu tháng 11 | Tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông | Các thiền viện Trúc Lâm tưởng niệm ngày Sơ tổ nhập Niết Bàn. |
| 19 và 20 tháng Chạp | Lễ giỗ Tổ | Ngày lễ lớn nhất trong năm của thiền viện, tăng ni và Phật tử các thiền viện Trúc Lâm về dự hàng nghìn người. |
Ngày giỗ Tổ cuối năm là lúc người trong thiền phái từ khắp nơi về Thường Chiếu, như con cháu về nhà thờ họ. Đây là dịp rõ nhất để thấy vai trò chốn tổ của thiền viện, vì những người về dự phần đông là tăng ni và thiền sinh đã từng tu học ở đây.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Bên quốc lộ 51, xã Phước Thái (huyện Long Thành cũ), tỉnh Đồng Nai
- Đường tới
- Thiền viện nằm bên quốc lộ 51, xã Phước Thái, tỉnh Đồng Nai, trên địa bàn huyện Long Thành cũ. Đi theo quốc lộ 51 từ Biên Hòa về hướng Vũng Tàu, Thiền viện Linh Chiếu ở ngay cạnh.
- Toạ độ
- 10.6834, 107.0254
Thường Chiếu là nơi tu thiền của tăng chúng, không phải điểm tham quan. Lệ của thiền viện là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, giữ im lặng trong khuôn viên, nhất là quanh thiền đường và khu thiền thất. Không đi vào lối dẫn tới các thất, không gọi to, không chụp ảnh chư tăng khi đang tu. Nữ Phật tử muốn tu học thì tìm tới Thiền viện Linh Chiếu bên cạnh.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thiền viện Thường Chiếu
Contribute photos, information or video for Thuong Chieu Zen MonasteryThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thiền viện Thường Chiếu do ai lập
Do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập năm 1974, trên khu đất ven quốc lộ 51 ở Long Thành cũ, tỉnh Đồng Nai. Ban đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá vách đất, chánh điện khánh thành ngày 15 tháng 4 năm 1986. Đây là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại.
Thiền phái Trúc Lâm hiện đại có phải Trúc Lâm thời Trần không
Không hẳn. Trúc Lâm thời Trần là dòng thiền của Tam Tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang ở thế kỷ 13 và 14. Thiền phái Trúc Lâm hiện đại do Hòa thượng Thích Thanh Từ phục hưng trong thế kỷ 20, lấy Tam Tổ làm nguồn và tông chỉ, nhưng là một thiền phái lập mới.
Thường Chiếu dạy tu theo pháp môn gì
Pháp môn thường được gói trong bốn chữ biết vọng không theo: ngồi thiền thấy niệm nghĩ khởi lên thì biết đó là vọng, không đuổi theo, không đè nén, để nhận ra tánh biết sẵn có. Thiền viện đi cùng phương châm phản quan tự kỷ bổn phận sự và thiền giáo đi đôi.
Thiền viện Thường Chiếu và Linh Chiếu khác nhau thế nào
Cả hai cùng do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập, đứng cạnh nhau bên quốc lộ 51. Thường Chiếu là nơi tu của tăng chúng và là tổ đình của thiền phái. Linh Chiếu là nơi tu của ni chúng. Hai thiền viện cùng theo một pháp môn và một thời khóa.
Thường Chiếu có bao nhiêu thiền thất
Theo phatgiao.org.vn, khuôn viên có tới khoảng 200 thiền thất, rải trong vườn rừng, mỗi thất cho một vị tăng tu nhập thất. Thiền viện có hơn một trăm vị tăng thường trú, cùng tông môn tàng thư giữ kinh sách của thiền phái.