VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Đại Giác

Đại Giác cổ tự, chùa Đại Giác cù lao Phố

Ngôi chùa cổ trên cù lao giữa hai nhánh sông Đồng Nai, nơi dòng Lâm Tế từ miền Trung đặt chân vào đất Biên Hòa từ thế kỷ 17.

Khai sơn
Nửa sau thế kỷ 17
các nguồn ghi năm khác nhau
Tượng A Di Đà
2,25 m
gỗ mít, sơn son thếp vàng, gọi là chùa Phật Lớn
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định 993/QĐ ngày 28 tháng 9 năm 1990

Qua cầu sang cù lao Phố, đi vào khu phố Nhị Hòa, quý vị sẽ gặp một ngôi chùa quay mặt về hướng tây bắc nhìn ra bờ sông, trước sân có cây bồ đề lớn tỏa bóng gần hết khoảng sân. Chùa xây gạch, mái ngói, dáng ngoài đã qua trùng tu hiện đại. Nhưng bước vào chánh điện, ngẩng lên, quý vị sẽ thấy pho tượng A Di Đà bằng gỗ mít cao hai mét hai mươi lăm, lớp sơn son thếp vàng đã trầm xuống theo năm tháng, và trên cao là tấm hoành phi ba chữ Đại Giác Tự. Cũng vì pho tượng lớn ấy và tích dùng voi dậm nền khi đại trùng tu đầu thế kỷ 19 mà dân gian còn gọi chùa là chùa Phật Lớn hay chùa Tượng.

Chùa Đại Giác đứng trên một mảnh đất đặc biệt. Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, nơi người Việt và người Hoa lập phố chợ sầm uất từ cuối thế kỷ 17. Và theo nhiều nguồn sử liệu Phật giáo, đây cũng là một trong những nơi dòng thiền Lâm Tế từ miền Trung đặt chân sớm vào đất Đồng Nai.

Chùa Đại Giác
Chùa Đại Giác. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IDòng Lâm Tế vào đất Đồng Nai

Chùa Đại Giác thuộc dòng Lâm Tế do Tổ Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong. Tổ Nguyên Thiều dùng hai bài kệ đặt pháp danh, gồm bài của Tổ Mộc Trần Đạo Mân mà ở Nam Bộ quen gọi là dòng Gia Phổ và bài của Tổ Vạn Phong Thời Ủy. Vị cao tăng gắn bó sâu đậm với Đại Giác là Thành Đẳng, pháp tự Minh Lượng, hiệu Nguyệt Ân, đời 34, một trong các đệ tử lớn của Tổ Nguyên Thiều theo tạp chí Nghiên cứu Phật học. Sau ngài, chùa còn ghi dấu các bậc danh tăng đời 35 và 36 như Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý (1725 tới 1821), Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt (viên tịch năm 1823) và Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng (1735 tới 1835, được triệu về kinh đô Huế làm Tăng cang chùa Thiên Mụ năm 1814 hoặc 1815).

Tên của Tổ Thành Đẳng Minh Lượng mang dấu của cả hai bài kệ. Chữ Thành là chữ ứng với đời 34 trong kệ Đạo Mân, chữ Minh là chữ ứng với đời 34 trong kệ Vạn Phong. Nhìn một cái tên mà thấy được hai mạch truyền cùng đổ về một người, đó là cách đọc pháp danh của nhà thiền. Phần bảng kệ Gia Phổ và các đời truyền thừa đã được trình bày ở bài chùa Long Thiền, ngôi chùa của Tổ Thành Nhạc Ẩn Sơn, pháp huynh đệ của ngài.

Theo sử liệu

Về người khai sơn và năm khai sơn, nguồn vênh nhau khá xa, xin viết thẳng để người đọc đối chiếu.

Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài viết về chùa Đại Giác cổ ở Biên Hòa, ghi năm 1665 nhà sư Thành Đẳng cùng Phật tử khai hoang cù lao Phố và dựng chùa bằng tranh tre. Báo Hà Nội Mới ghi chùa có từ thế kỷ 17 do nhà sư Thành Đẳng, một trong ba nhà sư Lâm Tế từ miền Trung vào Đồng Nai, lập nên, và nhiều nguồn truyền thống ghi mốc năm 1643. Trang phatgiao.org.vn lại gắn việc dòng Gia Phổ vào Nam Bộ với chùa Đại Giác vào khoảng năm 1694.

Chỗ khó là chính tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài khảo cứu về Tổ Nguyên Thiều, cùng sách Sổ tay hành hương đất phương Nam trên trang An Phát đều ghi Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng sống từ năm 1686 tới năm 1769. Nếu sinh năm 1686 thì ngài chưa ra đời vào các năm 1643 hay 1665. Trang An Phát dẫn sử liệu ghi hướng khác, theo đó chùa vốn là một thảo am nhỏ do Thiền sư Giác Liễu Thiệt Truyền (thuộc đời 35 Lâm Tế) dựng tu, sau đó Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng (1686 tới 1769, từ phủ Quy Nhơn vào hoằng hóa) mới kế vị mở rộng thành quy mô tự viện lớn rồi truyền cho đệ tử là Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý. Các nguồn chưa gặp nhau hoàn toàn, nên thư viện ghi chùa khai sơn nửa sau thế kỷ 17 và nêu đủ các phía.

Chỗ hay hiểu lầm

Người ta hay gọi Đại Giác là ngôi chùa đầu tiên của Đồng Nai. Cách gọi ấy chưa thật vững về mặt niên đại học. Chính các nguồn còn chưa thống nhất năm khai sơn, và quanh Biên Hòa có nhiều cổ tự cùng được kể là sớm, trong đó có chùa Long Thiền cách đây chừng một cây số rưỡi. Nói Đại Giác là một trong những ngôi chùa hiện diện sớm ở Đồng Nai và là cửa ngõ để dòng Lâm Tế từ miền Trung lan tỏa vào Nam Bộ thì đúng với tư liệu hơn.

IIBa trăm năm trên cù lao Phố

Lịch sử của Đại Giác gắn chặt với lịch sử của cù lao nơi chùa đứng. Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, đất phù sa màu mỡ, thuyền bè đi lại thuận tiện. Cuối thế kỷ 17, người Việt và người Hoa tới khai phá, lập phố chợ Nông Nại Đại Phố buôn bán sầm uất, và tên cù lao Phố đến từ phố chợ ấy. Chùa lớn lên cùng nhịp sống của làng và phố trên cù lao.

  • Nửa sau thế kỷ 17Khai sơn thảo am
    Chùa được dựng trên cù lao Phố. Năm khai sơn (1643, 1665 hay cuối thế kỷ 17) và người khai sơn (Thiền sư Giác Liễu hay Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng) được các nguồn ghi khác nhau như đã nêu trên.
  • Thế kỷ 18Mở rộng thành đại tự dưới thời Tổ Thành Đẳng và Tổ Phật Ý
    Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng (1686 tới 1769) và kế tiếp là Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý (1725 tới 1821) mở rộng thảo am thành ngôi đại tự của dòng Lâm Tế.
  • 1802 tới đầu thế kỷ 19Đại trùng tu thời Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng
    Chùa được đại trùng tu với việc huy động tượng binh (voi) dậm nền nên dân gian gọi là chùa Tượng, dựng lầu chuông lầu trống và tôn trí pho tượng A Di Đà gỗ mít cao 2,25 mét (nên còn gọi là chùa Phật Lớn).
  • 1820Tu sửa và cúng hoành phi Đại Giác Tự
    Chùa được tu sửa vào tháng 10 năm 1820 dưới thời Hòa thượng Minh Hòa Chơn Không. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi tấm hoành phi Đại Giác Tự được cúng vào năm này.
  • 1939Trồng cây bồ đề trước sân
    Hòa thượng Đinh Tông trồng cây bồ đề giữa sân trước chánh điện, nay đã thành cổ thụ che mát sân chùa.
  • 1952Hư hại vì trận lụt Nhâm Thìn
    Đợt lụt lớn năm Nhâm Thìn 1952 làm các công trình gỗ cổ của chùa hư hại nặng.
  • 1959 tới 1967Xây lại bằng gạch và dựng tổ đường
    Chùa được xây lại bằng gạch và bê tông từ năm 1959 tới 1961 (An Phát ghi do Hòa thượng Thích Thiện Hỷ chủ trì, tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Hòa thượng Huệ Minh năm 1960). Năm 1967 dựng mới tổ đường.
  • 1990Di tích lịch sử nghệ thuật quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 993/QĐ ngày 28 tháng 9 năm 1990.

IIITượng gỗ, hoành phi và cây bồ đề

Khuôn viên chùa rộng chừng 3.000 mét vuông, mặt tiền quay về hướng tây bắc nhìn ra nhánh sông Đồng Nai. Mặt bằng hiện nay theo kiểu chữ đinh, gồm dãy chánh điện nằm ngang phía trước và khối phía sau nối vào giữa thành nét sổ, bên phải là nhà giảng cùng nhà khách và nhà trù. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi chùa lúc đầu dựng theo kiểu chữ tam gồm ba dãy song song như chùa Long Thiền, rồi đổi sang chữ đinh khi xây lại. Báo Hà Nội Mới vẫn tả bố cục ba dãy chữ tam gồm chánh điện, phương trượng và nhà khách. Hai lối tả khác nhau vì một bên nói mặt bằng tổng thể cũ, một bên nói khối kiến trúc chính sau trùng tu.

Pho tượng A Di Đà gỗ mít

Hiện vật quý của chùa là pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít, cao 2,25 mét, sơn son thếp vàng, đặt ở gian giữa chánh điện trên tòa sen cao 0,4 mét. Tương truyền tượng được hiến cúng trong đợt đại trùng tu đầu thế kỷ 19. Gỗ mít là chất liệu quen thuộc của tượng chùa Nam Bộ vì bền, thớ mịn, ít mối mọt, và một pho tượng gỗ mít lớn đến thế ở chánh điện đã khiến người dân quanh vùng gọi luôn tên chùa là chùa Phật Lớn.

Việc một ngôi chùa dòng thiền Lâm Tế thờ Phật A Di Đà làm pho tượng lớn nhất ở chánh điện cũng cho thấy đặc trưng của Phật giáo Nam Bộ, nơi dòng Lâm Tế đi cùng pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ theo tinh thần thiền tịnh song tu.

Hoành phi Đại Giác Tự

Tấm hoành phi sơn son thếp vàng đề ba chữ tên chùa, tương truyền do công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Anh hiến cúng. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm cúng là 1820.

Giàn đèn Dược Sư 49 ngọn

Cổ vật bằng gỗ cao 1,70 mét, ngang 1,10 mét, tạo tác thành 7 tầng với 49 ngọn đèn kèm 49 pho tượng Phật bằng gỗ nhỏ đặt trước bàn thờ Tổ.

Cây bồ đề năm 1939

Do Hòa thượng Đinh Tông trồng giữa sân trước chánh điện năm 1939, tán cây nay che rợp khoảng sân chùa.

Hệ thống tượng cổ và tháp mộ

Gồm bộ tượng Tam Thế Phật, Quan Âm, Thế Chí, Di Lặc, Tiêu Diện, Hộ Pháp bằng gỗ và đồng thế kỷ 19 cùng sáu ngôi bảo tháp cổ của chư vị tổ sư quanh chùa.

Tổ đường và hoành phi liễn đối

Tổ đường dựng lại năm 1967, lưu giữ nhiều long vị cổ của chư tổ cùng các bức hoành phi, liễn đối bổ sung từ năm 1966 tới 1989.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy chùa xây gạch, mái bê tông thì cho rằng chùa đã mất hết dấu cũ. Đúng là thân chùa hôm nay chủ yếu là công trình xây lại năm 1959 tới 1961 sau đợt lụt năm 1952. Nhưng các di vật cốt lõi như pho tượng A Di Đà gỗ mít, tấm hoành phi Đại Giác Tự, giàn đèn Dược Sư bốn mươi chín ngọn và khu tháp cổ vẫn được giữ nguyên. Với Đại Giác, giá trị di tích nằm ở di vật, ở mạch truyền thừa và ở vị trí trên cù lao, không nằm ở lớp tường vôi mới.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bia của chùa. Tư liệu chỉ ghi chùa đứng ở khu phố Nhị Hòa trên cù lao Phố, mặt tiền quay về hướng tây bắc nhìn ra bờ sông Đồng Nai. Phần dưới đây là kiến giải, xin quý vị phân biệt với tư liệu lịch sử.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là thế cù lao. Một dải đất nằm giữa hai nhánh sông lớn, trong phép xem đất, là thế thủy bao, nước ôm quanh bốn phía. Nước là thứ dẫn và giữ khí, nên đất được hai nhánh sông ôm tròn thì thủy tụ và khí không tán. Người xưa chọn cù lao để lập Nông Nại Đại Phố vì thuyền buôn cập bến thuận lợi, và cũng chính thế đất ấy làm cho cù lao trở thành nơi hội tụ của cư dân, thương cảng và một ngôi đại tự.

Xét về tọa hướng, chùa tọa đông nam hướng tây bắc, mặt tiền mở ra phía nhánh sông Đồng Nai. Theo lối đọc cổ truyền, chùa quay mặt đón dòng nước là mở minh đường ra sông để thu thủy khí vào đất, như cửa ngõ của cả cù lao. Điều này khớp với vai trò lịch sử mà tư liệu gán cho chùa, tức cửa ngõ để dòng thiền Lâm Tế từ miền Trung truyền vào Nam Bộ.

Về bố cục chữ đinh, dãy tiền điện nằm ngang phía trước mở rộng để đón khí từ hướng sông tây bắc, còn khối chánh điện phía sau nối vuông góc vào giữa để dẫn khí đi sâu vào nội tự. Đọc theo phong thủy, lối chữ đinh gom khí về một trục giữa, khác lối chữ tam trải khí thành ba lớp song song. Chùa đổi từ chữ tam sang chữ đinh khi xây lại sau trận lụt năm 1952, và cách thu nạp khí của khuôn viên vì thế cũng đổi theo.

Cuối cùng là cây bồ đề giữa sân. Trong nhà Phật, bồ đề là cội cây nơi Đức Phật thành đạo, và hai chữ Đại Giác trong tên chùa cũng có nghĩa là sự giác ngộ lớn. Tên chùa, cội cây che mát trước sân và pho tượng Phật gỗ mít trong chánh điện cùng nói một điều, tạo nên sự tương ứng giữa danh và thực.

VNgày lễ trong năm

Đại Giác giữ các ngày lễ chung của chùa Bắc Tông Nam Bộ. Vì tượng chính của chùa là Phật A Di Đà và trong chùa có giàn đèn Dược Sư bốn mươi chín ngọn, các kỳ lễ cầu an đầu năm và ngày vía Phật A Di Đà có ý nghĩa đặc biệt tại đây.

Các ngày lễ chính theo lệ chung của chùa Bắc Tông Nam Bộ. Nguồn: Lệ chung của Phật giáo Bắc Tông, đối chiếu với tư liệu về tượng thờ của chùa..
Ngày âm lịchLễGhi chú
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ cầu an đầu năm, người dân trên cù lao Phố và vùng Biên Hòa về chùa lễ Phật đông đảo.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ và cúng thí thực.
17 tháng 11Vía Phật A Di ĐàNgày vía của vị Phật được tôn trí làm pho tượng gỗ mít lớn nhất ở chánh điện.

Với một ngôi chùa trên cù lao, người đi lễ phần đông là cư dân gắn bó lâu đời với vùng cù lao Phố. Nếp đi chùa ở đây hòa vào nếp làng ven sông, cứ mỗi dịp rằm và mùng một lại có Phật tử về thắp hương trước pho tượng Phật Lớn bằng gỗ mít.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu phố Nhị Hòa, cù lao Phố, phường Trấn Biên (phường Hiệp Hòa cũ, thành phố Biên Hòa cũ), tỉnh Đồng Nai
Đường tới
Chùa ở khu phố Nhị Hòa trên cù lao Phố, phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai, trên địa bàn phường Hiệp Hòa cũ. Từ trung tâm Biên Hòa qua cầu sang cù lao Phố là tới, cách chùa Long Thiền bên kia sông chừng một cây số rưỡi.
Toạ độ
10.9328, 106.8276
Khi tới nơi

Đại Giác là ngôi chùa đang sinh hoạt tôn giáo bình thường, nằm giữa khu dân cư yên tĩnh trên cù lao Phố. Khi tới viếng chùa, quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và tổ đường, đi nhẹ nói khẽ. Không chạm tay vào pho tượng A Di Đà gỗ mít, giàn đèn Dược Sư cổ và tấm hoành phi Đại Giác Tự. Không bẻ lá, không buộc vật lạ lên cây bồ đề ngoài sân. Muốn chụp ảnh trong chánh điện, xin hỏi người trông coi chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đại Giác

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Đại Giác Biên Hòa thuộc dòng nào

Thuộc dòng Lâm Tế do Tổ Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong, gắn với bài kệ Gia Phổ của Tổ Đạo Mân và bài kệ của Tổ Vạn Phong. Vị cao tăng gắn bó với chùa là Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng (1686 tới 1769), đời 34, đệ tử của Tổ Nguyên Thiều.

Vì sao chùa Đại Giác còn gọi là chùa Phật Lớn hay chùa Tượng

Chùa được gọi là chùa Phật Lớn vì trong chánh điện thờ pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít cao tới 2,25 mét, và được gọi là chùa Tượng vì trong đợt đại trùng tu đầu thế kỷ 19 đã dùng đội voi (tượng binh) để dậm nền chùa cho chắc.

Tượng A Di Đà ở chùa Đại Giác làm bằng gì

Tượng tạc bằng gỗ mít, cao 2,25 mét trên tòa sen cao 0,4 mét, sơn son thếp vàng, đặt ở chánh điện từ đầu thế kỷ 19. Đây là cổ vật tiêu biểu của chùa, được bảo tồn nguyên vẹn khi chùa xây lại bằng gạch năm 1959 tới 1961.

Ai khai sơn chùa Đại Giác và vào năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi nhà sư Thành Đẳng dựng chùa năm 1665, một số tư liệu địa phương ghi năm 1643, phatgiao.org.vn nhắc mốc khoảng năm 1694. Trang An Phát dẫn sử liệu ghi Thiền sư Giác Liễu Thiệt Truyền khai sơn thảo am ban đầu, còn Thiền sư Thành Đẳng Minh Lượng (1686 tới 1769) là vị tổ kế vị mở rộng chùa.

Cù lao Phố ở đâu

Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, đối diện trung tâm Biên Hòa, nay thuộc phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai (địa bàn xã Hiệp Hòa cũ). Tên gọi đến từ thương cảng Nông Nại Đại Phố do người Việt và người Hoa lập từ cuối thế kỷ 17.

›Đọc Tiếp