Qua cầu sang cù lao Phố, đi vào khu phố Nhị Hòa, quý vị sẽ gặp một ngôi chùa sát bờ sông, trước sân có cây bồ đề lớn tỏa bóng gần hết khoảng sân. Chùa xây gạch, mái ngói, dáng không cổ. Nhưng bước vào chánh điện, ngẩng lên, quý vị sẽ thấy một pho tượng A Di Đà bằng gỗ cao hơn hai mét, lớp sơn son thếp vàng đã trầm xuống theo năm tháng, và trên cao là tấm hoành phi ba chữ Đại Giác Tự.
Chùa Đại Giác đứng trên một mảnh đất đặc biệt. Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, nơi người Việt và người Hoa lập phố chợ từ cuối thế kỷ 17. Và theo nhiều nguồn, đây cũng là một trong những nơi dòng thiền Lâm Tế từ miền Trung đặt chân sớm nhất khi vào đất Đồng Nai.
IDòng Lâm Tế Vào Đất Đồng Nai
Chùa Đại Giác thuộc dòng Lâm Tế do Tổ Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong. Tổ Nguyên Thiều dùng hai bài kệ đặt pháp danh: bài của Tổ Mộc Trần Đạo Mân mà ở Nam Bộ quen gọi là dòng Gia Phổ, và bài của Tổ Vạn Phong Thời Ủy. Nhà sư gắn với Đại Giác là Thành Đẳng, pháp tự Minh Lượng, hiệu Nguyệt Ân, đời 34, một trong các đệ tử của Tổ Nguyên Thiều theo tạp chí Nghiên cứu Phật học.
Tên ngài mang dấu của cả hai bài kệ. Chữ Thành là chữ ứng với đời 34 trong kệ Đạo Mân, chữ Minh là chữ ứng với đời 34 trong kệ Vạn Phong. Nhìn một cái tên mà thấy được hai mạch truyền cùng đổ về một người, đó là cách đọc pháp danh của nhà thiền. Phần bảng kệ Gia Phổ và các đời truyền thừa đã được trình bày ở bài chùa Long Thiền, ngôi chùa của Tổ Thành Nhạc, pháp huynh của ngài.
Về người khai sơn và năm khai sơn, nguồn vênh nhau khá xa, xin viết thẳng.
Tạp chí Nghiên cứu Phật học, bài Chùa Đại Giác cổ ở Biên Hòa, ghi năm 1665 nhà sư Thành Đẳng cùng Phật tử khai hoang cù lao Phố và dựng chùa. Báo Hà Nội Mới ghi chùa có từ thế kỷ 17 do nhà sư Thành Đẳng, một trong ba nhà sư Lâm Tế từ miền Trung vào Đồng Nai, lập nên. Phatgiao.org.vn lại gắn việc dòng Gia Phổ vào Nam Bộ với chùa Đại Giác vào khoảng năm 1694.
Chỗ khó là chính tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài về Tổ Nguyên Thiều, ghi Thành Đẳng Minh Lượng sống từ năm 1686 tới năm 1769. Nếu vậy thì ngài chưa ra đời vào năm 1665. Trang An Phát còn ghi một hướng khác: chùa do Thiền sư Giác Liễu khai sơn trong thế kỷ 17, còn Thành Đẳng Minh Lượng là vị trụ trì đời thứ hai. Các nguồn chưa gặp nhau, nên thư viện chỉ ghi chùa khai sơn nửa sau thế kỷ 17 và nêu đủ các phía.
Người ta hay gọi Đại Giác là ngôi chùa đầu tiên của Đồng Nai. Cách gọi ấy chưa vững. Chính các nguồn còn chưa thống nhất năm khai sơn, và quanh Biên Hòa có nhiều chùa cùng được kể là sớm, trong đó có chùa Long Thiền cách đây chừng một cây số rưỡi. Nói Đại Giác là một trong những ngôi chùa hiện diện sớm nhất ở Đồng Nai, là cửa ngõ để dòng Lâm Tế từ miền Trung vào Nam Bộ, thì đúng với tư liệu hơn.
IIBa Trăm Năm Trên Cù Lao Phố
Lịch sử của Đại Giác gắn chặt với lịch sử của cù lao nơi chùa đứng. Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, đất phù sa, thuyền bè đi lại dễ. Cuối thế kỷ 17, người Việt và người Hoa tới khai phá, lập phố chợ buôn bán, và tên cù lao Phố đến từ phố chợ ấy. Chùa mọc lên cùng lúc với làng và phố.
- Nửa sau thế kỷ 17Khai sơnChùa được dựng trên cù lao Phố. Năm và người khai sơn được các nguồn ghi khác nhau, như đã nêu ở trên.
- Đầu thế kỷ 19Tu sửa, dựng lầu chuông lầu trốngChùa được trùng tu, dựng thêm lầu chuông và lầu trống. Pho tượng A Di Đà gỗ mít có từ giai đoạn này.
- 1820Tu sửa và hoành phiChùa được tu sửa vào tháng 10 năm 1820. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi tấm hoành phi Đại Giác Tự được cúng vào năm này.
- 1939Trồng cây bồ đềHòa thượng Đinh Tông trồng cây bồ đề giữa sân trước chánh điện.
- 1952Hư hại vì lụtĐợt lụt năm Nhâm Thìn làm chùa hư hại nặng.
- 1959 tới 1961Xây lại bằng gạchChùa được xây lại bằng gạch và bê tông, giữ lối kiến trúc cũ, khởi công năm 1959 và khánh thành năm 1961. Có nguồn ghi năm khởi công là 1960.
- 1967Dựng tổ đườngTổ đường được dựng mới, theo trang An Phát. Hoành phi, liễn đối và tượng được bổ sung dần trong những năm sau.
- 1990Di tích quốc giaChùa được công nhận là di tích lịch sử nghệ thuật quốc gia.
IIITượng Gỗ, Hoành Phi Và Cây Bồ Đề
Khuôn viên chùa rộng chừng 3.000 mét vuông. Mặt bằng hiện nay theo kiểu chữ đinh: dãy chánh điện nằm ngang phía trước, khối phía sau nối vào giữa thành nét sổ. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi chùa lúc đầu dựng theo kiểu chữ tam, ba dãy song song như chùa Long Thiền, rồi đổi sang chữ đinh khi xây lại. Báo Hà Nội Mới vẫn tả bố cục chữ tam. Hai lối tả khác nhau có lẽ vì một bên nói bố cục cũ, một bên nói bố cục mới.
Pho tượng A Di Đà gỗ mít
Hiện vật quý nhất của chùa là pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít, cao 2,25 mét, sơn son thếp vàng, đặt ở chánh điện. Tương truyền tượng là đồ cúng của triều đình đầu thế kỷ 19. Gỗ mít là chất liệu quen của tượng chùa Nam Bộ, bền, thớ mịn, ít mối mọt, và một pho tượng gỗ nguyên khối cao như thế là hiếm ở vùng này.
Việc chùa thờ A Di Đà làm tượng chính cũng nói một điều về Phật giáo Nam Bộ: dòng Lâm Tế ở đây đi cùng nếp niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ, thiền và tịnh song hành, chứ không thuần một lối thiền như nhiều người nghĩ khi nghe chữ Lâm Tế.
Tấm hoành phi ba chữ tên chùa, tương truyền do công chúa Ngọc Anh cúng. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm cúng là 1820.
Trồng năm 1939 giữa sân trước chánh điện, do Hòa thượng Đinh Tông trồng. Tán cây nay che gần hết khoảng sân.
Dựng đầu thế kỷ 19 trong đợt trùng tu lớn, sau được xây lại cùng chùa.
Dựng năm 1967, thờ các vị tổ của chùa và dòng Lâm Tế từ Tổ Nguyên Thiều.
Nhiều tấm được bổ sung trong khoảng năm 1966 tới 1989, bên cạnh những tấm cổ còn giữ.
Nhiều người thấy chùa xây gạch, mái bê tông thì cho rằng chùa đã mất hết dấu cũ. Đúng là thân chùa hôm nay chủ yếu là công trình xây lại năm 1959 tới 1961 sau đợt lụt năm 1952. Nhưng các hiện vật chính, pho tượng A Di Đà gỗ mít và tấm hoành phi Đại Giác Tự, được giữ lại và đặt vào chùa mới. Với Đại Giác, giá trị di tích nằm ở hiện vật và ở vị trí trên cù lao, không nằm ở lớp tường.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của chùa. Tư liệu chỉ ghi chùa đứng trên cù lao Phố, sát bờ sông Đồng Nai. Phần dưới đây là kiến giải, xin quý vị phân biệt với tư liệu.
Điều đầu tiên đáng nói là thế cù lao. Một dải đất nằm giữa hai nhánh sông, trong phép xem đất, là thế thủy bao: nước ôm quanh bốn phía. Nước là thứ giữ khí, nên đất được nước bao thì khí không tán. Người xưa chọn cù lao để lập phố chợ vì thuyền buôn cập bến dễ, và cũng chính thế ấy làm cho mảnh đất trở thành chỗ tụ của người, của hàng, và của một ngôi chùa lớn.
Xét về chỗ đứng trên cù lao, chùa nằm sát bờ sông. Theo lối đọc cổ truyền, chùa bên bờ nước là nơi đón khí từ dòng chảy vào đất, như cửa ngõ của cả cù lao. Điều này khớp với vai trò mà tư liệu gán cho chùa: cửa ngõ để dòng Lâm Tế từ miền Trung vào Nam Bộ. Một ngôi chùa làm cửa ngõ cho một dòng thiền, đứng ở chỗ cửa ngõ của một dải đất, là chỗ vai và đất trùng nhau.
Về bố cục chữ đinh, dãy ngang phía trước mở rộng để đón, khối sau nối vào giữa để dẫn vào sâu. Đọc theo phong thủy, lối chữ đinh gom khí về một trục giữa, khác lối chữ tam trải khí thành ba lớp song song. Chùa đổi từ chữ tam sang chữ đinh khi xây lại, và cách đọc đất vì thế cũng đổi theo.
Cuối cùng là cây bồ đề giữa sân. Trong nhà Phật, bồ đề là cây Đức Phật ngồi dưới mà thành đạo, và chữ Giác trong tên chùa cũng là giác ngộ. Tên chùa, cây giữa sân và pho tượng trong điện cùng nói một điều, và trong lối nghĩ cổ truyền, đó là chỗ danh và thực hợp nhau.
VNgày Lễ Trong Năm
Đại Giác giữ các ngày lễ chung của chùa Bắc Tông Nam Bộ. Vì tượng chính của chùa là Phật A Di Đà, ngày vía A Di Đà có ý nghĩa riêng ở đây. Thư viện chưa tra được ngày giỗ Tổ khai sơn có nguồn, nên không ghi.
| Ngày âm lịch | Lễ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Thượng nguyên | Lễ cầu an đầu năm, người trên cù lao về chùa đông nhất trong năm. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, cúng thí thực. |
| 17 tháng 11 | Vía Phật A Di Đà | Ngày vía của vị Phật được thờ làm tượng chính ở chánh điện. |
Với một ngôi chùa trên cù lao, người đi lễ phần đông là dân quanh cù lao. Nếp đi chùa ở đây gắn với nếp làng ven sông, rằm và mùng một đều có người về thắp hương trước pho tượng gỗ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu phố Nhị Hòa, cù lao Phố, phường Trấn Biên (phường Hiệp Hòa cũ, thành phố Biên Hòa cũ), tỉnh Đồng Nai
- Đường tới
- Chùa ở khu phố Nhị Hòa trên cù lao Phố, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai, trên địa bàn phường Hiệp Hòa cũ. Từ trung tâm Biên Hòa qua cầu sang cù lao là tới, chùa Long Thiền cách chừng một cây số rưỡi.
- Toạ độ
- 10.9328, 106.8276
Đại Giác là chùa đang có người tu, nằm giữa khu dân cư trên cù lao. Lệ thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Không chạm tay vào pho tượng A Di Đà gỗ và tấm hoành phi cổ. Không bẻ lá, không buộc gì lên cây bồ đề ngoài sân. Muốn chụp ảnh trong chánh điện, xin hỏi người trông coi chùa trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đại Giác
Contribute photos, information or video for Dai Giac Pagoda, Bien HoaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Đại Giác Biên Hòa thuộc dòng nào
Thuộc dòng Lâm Tế do Tổ Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong, gần với dòng Gia Phổ dùng bài kệ của Tổ Đạo Mân. Nhà sư gắn với chùa là Thành Đẳng Minh Lượng, đời 34, đệ tử của Tổ Nguyên Thiều.
Chùa Đại Giác cù lao Phố có từ năm nào
Nguồn vênh nhau. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm 1665, phatgiao.org.vn gắn dòng Gia Phổ với chùa vào khoảng năm 1694. Nhưng cùng tạp chí ấy ghi nhà sư Thành Đẳng sinh năm 1686, nên thư viện chỉ ghi chùa khai sơn nửa sau thế kỷ 17.
Tượng A Di Đà ở chùa Đại Giác làm bằng gì
Tượng bằng gỗ mít, cao 2,25 mét, sơn son thếp vàng, đặt ở chánh điện. Tương truyền là đồ cúng của triều đình đầu thế kỷ 19. Đây là hiện vật quý nhất của chùa, được giữ lại khi chùa xây lại năm 1959 tới 1961.
Ai khai sơn chùa Đại Giác
Phần lớn nguồn ghi nhà sư Thành Đẳng, pháp tự Minh Lượng, hiệu Nguyệt Ân. Trang An Phát lại ghi Thiền sư Giác Liễu khai sơn, còn Thành Đẳng là vị trụ trì đời thứ hai. Vì tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Thành Đẳng sinh năm 1686, câu hỏi này chưa ngã ngũ.
Cù lao Phố ở đâu
Cù lao Phố là dải đất nổi giữa hai nhánh sông Đồng Nai, đối diện trung tâm Biên Hòa, nay thuộc phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai. Tên gọi đến từ phố chợ người Việt và người Hoa lập ở đây từ cuối thế kỷ 17. Chùa Đại Giác nằm ở khu phố Nhị Hòa trên cù lao.