Đi dọc con đường Nguyễn Văn Trị rợp bóng cây xanh chạy sát bờ tả ngạn sông Đồng Nai thuộc phường Trấn Biên (phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa cũ), quý vị sẽ bắt gặp một mái đình cổ lợp ngói ống lưu ly rêu phong nhìn thẳng ra mặt sông lộng gió. Trên các tầng bờ nóc và bờ chảy của mái tiền đình, hàng trăm pho tượng gốm men màu rực rỡ vẫn đứng bền bỉ dưới nắng mưa suốt hơn một thế kỷ. Đó là Đình Tân Lân, còn gọi là Tân Lân Thành Cổ Miếu hay Đình Trần Thượng Xuyên.
Không chỉ là một di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của xứ Đồng Nai, ngôi đình này còn lưu giữ ký ức về một bước ngoặt lịch sử cuối thế kỷ 17: sự kiện danh tướng Trần Thượng Xuyên đưa đoàn binh thuyền vượt biển vào quy phục chúa Nguyễn, cùng cư dân bản địa biến vùng đất hoang vu Bàn Lân và Cù Lao Phố thành Nông Nại Đại Phố, thương cảng sầm uất bậc nhất phương Nam một thời.

IThượng Trụ Quốc Đô Đốc Tướng Quân Trần Thượng Xuyên Và Công Cuộc Mở Cảng Cù Lao Phố
Vị thần chủ được phụng thờ tại chính điện Đình Tân Lân là Đức Ông Trần Thượng Xuyên (1626 đến 1720), bậc danh tướng kiệt xuất được chúa Nguyễn ban tước Thượng trụ quốc Đô đốc Tướng quân và được các vua triều Nguyễn về sau liên tiếp sắc phong mỹ hiệu Thượng Đẳng Thần.
Theo chính sử Đại Nam thực lục và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Trần Thượng Xuyên (tự Thắng Tài) quê gốc ở huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu, tỉnh Quảng Đông, nguyên là Tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm dưới triều Minh. Năm Kỷ Mùi (1679), không chấp nhận thần phục nhà Thanh sau khi nhà Minh sụp đổ, ông cùng Phó tướng Trần An Bình và Tổng binh Dương Ngạn Địch dẫn hơn 3.000 quân sĩ, gia quyến trên hơn 50 chiến thuyền đi vào cửa biển Tư Dung (Thuận Hóa) xin quy phụ chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần.
Với tầm nhìn chiến lược mở mang bờ cõi về phương Nam, chúa Nguyễn Phúc Tần đã thu nhận đoàn quân Minh Hương và chỉ dụ cho cánh quân của Trần Thượng Xuyên tiến vào cửa biển Cần Giờ, ngược dòng sông Đồng Nai lên đóng dinh ở xứ Bàn Lân (nay thuộc vùng Biên Hòa) để khẩn hoang lập ấp cùng người Việt. Tại vùng đất Cù Lao Phố (Đông Phố) nằm giữa lòng sông Đồng Nai, Trần Thượng Xuyên đã chiêu tập thương nhân, quy hoạch phố chợ theo lối bàn cờ với ba trục đường lớn lát đá trắng, đá ong, mở bến thuyền đón tàu buôn từ Trung Hoa, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Mã Lai, biến nơi đây thành thương cảng quốc tế Nông Nại Đại Phố trù phú suốt gần một thế kỷ. Không chỉ giỏi kinh bang tế thế, ông còn trực tiếp cầm quân giữ yên biên cảnh phía Nam qua nhiều chiến dịch dưới các đời chúa Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Thái và Nguyễn Phúc Chu.
Khi Đô đốc Trần Thượng Xuyên tạ thế vào ngày 23 tháng 10 năm Canh Tý (1720) ở tuổi 95, cả cư dân người Việt lẫn người Minh Hương ở trấn Biên Hòa đều thương tiếc như mất bậc cha chú khai sáng vùng đất mới. Trong mạch tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Thành Hoàng ở Nam Bộ, Trần Thượng Xuyên đã chuyển hóa từ một vị tướng quân có thật trong lịch sử trở thành vị Phúc thần bảo hộ của cả cộng đồng Việt - Hoa. Các vua triều Nguyễn đã ban sắc phong tôn ông là Hùng Tài Vĩ Lược Võ Nghị Cương Chính Trấn Biên Đô Đốc Tướng Quân chi thần, đưa việc tế tự ông vào hàng quốc lễ địa phương. Bên trong Đình Tân Lân, ngoài ngai thờ và tượng Đức Ông ở chính điện, nhân dân còn phối thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền, Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Bạch Mã Thái Giám cùng hai vị Phó tướng đã sát cánh cùng ông từ buổi đầu vượt biển lập nghiệp.
Nhiều người lần đầu đến Biên Hòa thường nhầm Đình Tân Lân là một hội quán riêng của người Hoa vì thấy mái ngói lưu ly và quần thể gốm Cây Mai trên nóc. Thực chất đây là một ngôi đình thần chung của cả cộng đồng người Việt và người Hoa (Minh Hương) tại làng Tân Lân xưa. Nghi thức tế lễ tại đình kết hợp chặt chẽ giữa lễ nhạc đình làng Nam Bộ của người Việt với tập tục dâng hương của người Hoa, tạo nên bản sắc giao thoa độc nhất vô nhị ở lưu vực sông Đồng Nai.
IIHành Trình Ba Thế Kỷ Từ Miếu Thờ Cù Lao Phố Đến Tân Lân Thành Cổ Miếu
Lịch sử của Đình Tân Lân là cuộc hành trình di dời và tái thiết bền bỉ theo nhịp thăng trầm của đô thị Biên Hòa từ đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20. Ngay sau khi Đức Ông Trần Thượng Xuyên qua đời năm 1720, nhân dân đã lập miếu thờ ông tại vùng đất Cù Lao Phố và Bàn Lân, rồi dựng ngôi miếu quy mô trong khu vực thành cổ Biên Hòa (Thành Kèn) dưới triều vua Minh Mạng (1820 đến 1840).
Về quá trình di dời miếu thờ sang đất làng Tân Lân và dựng nên công trình kiến trúc hiện nay, các nguồn sử liệu địa phương có sự ghi nhận bổ sung cho nhau cần được đối chiếu rõ. Theo hồ sơ di tích và mạch tư liệu lịch sử kiến trúc Biên Hòa, vào tháng 12 năm Tân Dậu (1861), khi quân Pháp chiếm thành Biên Hòa để làm căn cứ đồn trú, nhân dân đã phải rước bài vị, sắc thần và đồ tế khí dời khỏi khu vực thành cổ sang lập miếu thờ trên đất thôn Tân Lân. Đến giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1906, đồng bào Việt - Hoa tại địa phương đã chung sức đại trùng tu ngôi đình bằng gỗ quý và đá xanh Biên Hòa theo bố cục chữ Tam bề thế bên bờ sông Đồng Nai. Trong khi đó, một số tài liệu của Thư viện tỉnh Đồng Nai lại chép rằng miếu trải qua lần di dời thứ nhất năm 1861, dời lần thứ hai về vị trí ven sông hiện nay vào năm 1906, và đến năm 1935 tiếp tục được trùng tu gia cố khang trang với tên gọi chính thức Tân Lân Thành Cổ Miếu. Đối chiếu niên đại của quần thể tượng gốm Cây Mai (vốn phát triển rực rỡ nhất tại Chợ Lớn cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20) trên mái đình, giới nghiên cứu xác nhận cấu trúc gỗ đá cốt lõi và hệ trang trí mái ngói định hình từ đợt đại kiến thiết đầu thế kỷ 20 (1900 đến 1906) và được tu bổ mở rộng vào năm 1935.
Về mốc xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991, các nguồn tài liệu cũng có hai cách ghi ngày tháng: hồ sơ Thư viện tỉnh Đồng Nai dẫn Quyết định số 457/QĐ ngày 25 tháng 3 năm 1991 của Bộ Văn hóa - Thông tin, trong khi một số tài liệu quản lý di sản khác ghi ngày công nhận là 28 tháng 6 năm 1991. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả hai mốc ngày này để người tra cứu đối chiếu.
- 1679Trần Thượng Xuyên khai mở Bàn Lân và Cù Lao PhốDanh tướng Trần Thượng Xuyên đưa hơn 3.000 quân dân vào thần phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được cử vào vùng Đông Phố (Biên Hòa) khẩn hoang và xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố sầm uất.
- 1720Đức Ông tạ thế và khởi lập miếu thờNgày 23 tháng 10 năm Canh Tý (1720), Đô đốc Trần Thượng Xuyên qua đời, nhân dân Việt - Hoa lập miếu thờ tưởng niệm công đức khai sáng vùng đất Trấn Biên.
- 1820 - 1840Dựng miếu trong Thành Kèn và nhận sắc phong triều NguyễnDưới triều vua Minh Mạng, ngôi miếu thờ Trần Thượng Xuyên được dựng trang nghiêm trong khu vực thành cổ Biên Hòa và liên tiếp được triều đình Huế ban sắc phong Thượng Đẳng Thần.
- 1861Di dời miếu thờ khỏi thành cổ Biên HòaCuối năm 1861, do biến động khi quân Pháp chiếm đóng thành cổ Biên Hòa, nhân dân bí mật rước sắc phong, linh vị và tượng thờ Đức Ông dời sang vùng đất thôn Tân Lân để tiếp tục phụng sự.
- 1900 - 1906Đại kiến thiết ngôi đình bên bờ sông Đồng NaiNhân dân làng Tân Lân và các bang hội người Hoa góp công của xây dựng ngôi đình mới bằng gỗ quý và đá xanh Biên Hòa theo hình chữ Tam nhìn ra sông Đồng Nai, lắp đặt quần thể gốm Cây Mai trên bờ nóc.
- 1935Tu bổ tôn tạo và định danh Tân Lân Thành Cổ MiếuĐình được trùng tu gia cố quy mô lớn, hoàn thiện hệ thống sân bái, cổng tam quan và mang danh xưng Tân Lân Thành Cổ Miếu (Đình Tân Lân).
- 1991Xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc giaBộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 457/QĐ (tài liệu ghi ngày 25/03/1991 hoặc 28/06/1991) công nhận Đình Tân Lân là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
IIIBố Cục Chữ Tam Gỗ Đá Và Tuyệt Tác Quần Thể Gốm Cây Mai Trên Mái Ngói
Đình Tân Lân được xây dựng trên khu đất bằng phẳng ven sông với tổng diện tích khuôn viên khoảng 2.916 mét vuông (riêng diện tích kiến trúc chính rộng hơn 670 mét vuông). Tổng thể mặt bằng công trình tuân thủ nghiêm ngặt bố cục hình chữ Tam (三) cổ truyền, gồm ba lớp nhà chính chạy song song nối tiếp nhau từ ngoài vào trong là Tiền đình, Chánh điện và Hậu cung, hai bên có hành lang Đông lang và Tây lang nối liền tạo thành một không gian nội tự khép kín, thâm nghiêm.
Khung gỗ quý, đá xanh Biên Hòa và quần thể tiểu tượng gốm Cây Mai
Nét đặc trưng nổi bật của kiến trúc Đình Tân Lân là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật điêu khắc đá xanh Biên Hòa và kỹ thuật chạm mộc cung đình kết hợp hội quán Hoa Nam. Toàn bộ nền móng, bậc tam cấp, chân tảng kê cột và các bức phù điêu mặt tiền đều được chế tác từ đá xanh bản địa hạt mịn, chạm khắc tỉ mỉ hình rồng mây, lân phượng, hoa mẫu đơn và bát bửu. Hệ khung chịu lực bên trong sử dụng các hàng cột gỗ sao, gỗ căm xe đường kính lớn sơn son hoặc đánh bóng tự nhiên, liên kết với nhau bằng hệ vì kèo trính chồng - cối đỡ (đầu quá giang gác lên cột, bên trên chồng các con đội chạm lộng đỡ đòn tay mái). Phần mái lợp ngói ống lưu ly men xanh kết hợp diềm mái gắn ngói câu đầu và ngói trích thủy dập nổi chữ Thọ, chữ Phúc.
Giá trị mỹ thuật độc bản khiến giới khảo cổ và mỹ thuật đánh giá cao nhất ở Đình Tân Lân chính là quần thể tiểu tượng gốm Cây Mai gắn trên ba tầng bờ nóc của Tiền đình và Chánh điện. Đây là sản phẩm danh tiếng của các lò gốm cổ vùng Cây Mai (Chợ Lớn xưa, như lò Bửu Nguyên, Đồng Hòa) hoạt động hồi cuối thế kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20. Hàng trăm pho tượng gốm men xanh lục, vàng, trắng, nâu tím cao từ 20 đến 80 cm được lắp ghép thành những trường đoạn sân khấu sống động: chính giữa đỉnh nóc là đôi lưỡng long tranh châu uốn lượn bên trái châu rực lửa, hai đầu bờ nóc là cặp lý ngư hóa long (cá chép vượt vũ môn hóa rồng), bên dưới là các băng tượng tái hiện tích Bát tiên quá hải, Quan Công phò nhị tẩu, Tam cố thảo lư, cùng các hình tượng ông Nhật bà Nguyệt, kỳ lân, phượng hoàng đứng trên núi đá. Trải qua hơn một trăm hai mươi năm phơi mình dưới nắng gió sông Đồng Nai, lớp men gốm Cây Mai vẫn giữ nguyên độ bóng và sắc màu trầm mặc cổ kính.
Mặt tiền xây tường gạch kết hợp khung cột đá xanh chạm nổi hoa điểu, trên bờ nóc lợp ngói ống xanh lưu giữ nguyên vẹn quần thể tiểu tượng gốm Cây Mai chế tác đầu thế kỷ 20.
Không gian trung tâm uy nghiêm với hệ cột gỗ lớn treo câu đối sơn son thếp vàng, chính giữa đặt khám thờ chạm lộng rồng chầu mặt nguyệt tôn trí pho tượng Đô đốc Trần Thượng Xuyên mặc phẩm phục võ tướng uy nghi.
Phối thờ các vị Phó tướng của Đức Ông, Tiền hiền, Hậu hiền, Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Bạch Mã Thái Giám và ban thờ các anh hùng liệt sĩ ở Hậu cung.
Lưu giữ bộ chấp kích bát bửu bằng đồng và gỗ chạm, chiêng đồng, trống đại cùng các bức hoành phi đại tự sơn son thếp vàng có niên đại từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.
Hệ thống sắc phong của các vua triều Nguyễn ban tặng cho Thượng đẳng thần Trần Thượng Xuyên cùng văn bia chữ Hán ghi chép công đức các đợt di dời, trùng tu ngôi cổ miếu.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên địa hình thực tế của lưu vực sông Đồng Nai tại Biên Hòa, không phải điều chép trong văn bia hay sắc phong của đình. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và kiến giải phong thủy.
Khảo sát tại tọa độ 10,94733 độ vĩ Bắc, 106,81174 độ kinh Đông, Đình Tân Lân tọa lạc trên một thế đất đắc thủy triều đường vô cùng chuẩn mực bên bờ tả ngạn sông Đồng Nai (sông Phước Giang xưa). Ngôi đình xoay mặt chính về hướng Tây - Tây Nam, nhìn thẳng ra khúc sông Đồng Nai rộng mở ngay phía dưới chân Cù Lao Phố lịch sử. Trong học thuyết phong thủy hình thế, dòng sông Đồng Nai chảy từ vùng thượng nguồn đồi núi Đông Nam Bộ xuống đến khúc quanh Biên Hòa thì mở rộng lòng sông và chảy chậm lại, tạo thành thế ngọc đới thủy (dòng nước uốn cong ôm lấy đất như đai ngọc). Khoảng công viên bờ sông và mặt nước mênh mông phía trước cổng đình hợp thành nội minh đường và ngoại minh đường khoáng đạt, tụ nạp trọn vẹn thủy khí và gió lành từ dòng đại giang.
Nhìn rộng ra toàn cục sơn thủy, vị trí hiện tại của Đình Tân Lân có mối liên kết linh khí mật thiết với chính vùng đất mà Đô đốc Trần Thượng Xuyên đã khai mở hơn ba thế kỷ trước. Phía bắc chếch tây của đình là dải đất Cù Lao Phố (xưa là Nông Nại Đại Phố) nằm giữa hai nhánh sông Đồng Nai như hình một chiếc chuông vàng nổi trên mặt nước (Kim chung phú thủy), đóng vai trò vừa là tổ địa vừa là hộ sa che chở cho dải bờ sông Tân Lân. Phía trước mặt bên kia bờ hữu ngạn sông Đồng Nai là dải đất Hóa An và vùng gò đồi thấp vươn lên làm tiền án chầu về, giúp khí trường trước cửa đình không bị trôi tuột theo dòng nước. Phía sau lưng đình là nền đất gò cao cổ kính của trung tâm thành phố Biên Hòa cũ làm hậu chẩm vững vàng, tạo nên cục diện tọa thực triều hư, y sơn nhiễu thủy (lưng tựa đất đặc vững chãi, mặt hướng khoảng không mặt nước bao la), xứng tầm nơi hiển linh của vị Đô đốc mở cõi phương Nam.
VLễ Hội Kỳ Yên Và Đại Lễ Giỗ Đức Ông Trần Thượng Xuyên
Hàng năm vào tháng 10 âm lịch, Đình Tân Lân bước vào mùa đại lễ trọng thể nhất để tưởng niệm ngày mất của Thượng trụ quốc Đô đốc Tướng quân Trần Thượng Xuyên (23 tháng 10 âm lịch) và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Về lịch trình ngày lễ cụ thể trong tháng 10 âm lịch, một số tư liệu văn hóa ghi nhận kỳ lễ Kỳ Yên truyền thống khởi sự từ khoảng giữa tháng (ngày 14 đến ngày 16 tháng 10 âm lịch), trong khi thực tế tổ chức đại lễ Kỳ Yên kết hợp lễ giỗ chính thức của Đức Ông hiện nay diễn ra trọng thể nhất trong ba ngày từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 10 âm lịch hàng năm.
| Thời gian (Âm lịch) | Nghi lễ chính | Hoạt động văn hóa Việt - Hoa |
|---|---|---|
| Giữa tháng 10 âm lịch (14 - 16/10) | Lễ Túc Yết và Chuẩn tế đầu mùa Kỳ Yên | Theo một số tư liệu cũ, đây là mốc mở đầu kỳ cầu an tháng Mười của làng Tân Lân xưa, dọn dẹp bao sái khám thờ, treo đèn kết hoa và thiết lập đàn tràng. |
| Ngày 22 tháng 10 âm lịch | Lễ Thỉnh Sanh, Cung Nghinh Thần Vị và Khai Kinh | Rước kiệu thần và sắc phong dạo quanh các tuyến phố ven sông Đồng Nai, biểu diễn múa lân sư rồng, nhạc lễ ngũ âm và khai màn các vở tuồng hát bội, ca kịch cổ truyền. |
| Ngày 23 tháng 10 âm lịch (Chính giỗ Đức Ông) | Lễ Chánh Giỗ Đô đốc Trần Thượng Xuyên và Tế Tiền Hiền | Ban tế tự Đình Tân Lân cùng đại diện các đình miếu, hội quán người Hoa (Thất phủ cổ miếu, chùa Bà...) trang trọng dâng hương, dâng rượu, đọc chúc văn ca ngợi công đức khai mở Cù Lao Phố của Đức Ông. |
| Ngày 24 tháng 10 âm lịch | Lễ Tạ Thần,Tống Na và Thụ Lộc | Làm lễ tạ ơn thần linh, thả thuyền tống ôn trên sông Đồng Nai cầu bình an cho cư dân đôi bờ và đãi tiệc thân mật gắn kết cộng đồng Việt - Hoa. |
| Rằm tháng Giêng và Rằm tháng Bảy | Lễ Thượng Nguyên và Vu Lan bồn | Dâng hương cầu phúc đầu năm và cúng thí thực cô hồn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân bỏ mình trong buổi đầu mở đất. |
Nét đẹp nhân văn sâu sắc nhất của lễ hội Đình Tân Lân là sự hội tụ của hàng chục đoàn đại biểu từ các ngôi đình người Việt và các miếu, hội quán người Hoa khắp vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh về dâng lễ. Trong khói trầm nghi ngút bên dòng sông Đồng Nai, ranh giới tộc người dường như xóa nhòa, chỉ còn lại lòng biết ơn chung đối với bậc tiền nhân đã đặt nền móng cho sự phồn vinh của vùng đất Biên Hòa - Gia Định hơn ba trăm năm qua.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Nguyễn Văn Trị, phường Trấn Biên (phường Hòa Bình / phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa cũ), tỉnh Đồng Nai
- Đường tới
- Đình nằm trên mặt tiền đường Nguyễn Văn Trị (tuyến đường chạy dọc bờ sông Đồng Nai), thuộc phường Trấn Biên (phường Hòa Bình cũ), ngay trung tâm đô thị Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Từ cầu Hóa An hoặc chợ Biên Hòa, quý vị chỉ cần đi bộ vài trăm mét dọc công viên bờ sông Nguyễn Văn Trị là tới thẳng cổng đình.
- Toạ độ
- 10.94733, 106.81174
Đình Tân Lân mở cửa đón khách thập phương và bà con nhân dân vào chiêm bái hàng ngày. Khi tới thăm đình, xin quý vị trang phục chỉnh tề, giữ thái độ trang nghiêm nơi cửa thần. Để quan sát rõ nhất quần thể tượng gốm Cây Mai trên bờ nóc tiền đình, quý vị có thể đứng từ khoảng sân gạch trước cổng hoặc từ vỉa hè đường Nguyễn Văn Trị bên bờ sông Đồng Nai vào buổi chiều khi ánh nắng chiếu xiên từ hướng tây sang.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Tân Lân
Contribute photos, information or video for Tân Lân Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Tân Lân thờ vị thần nào và ông có công trạng gì với vùng đất Nam Bộ?
Đình thờ chính Thượng trụ quốc Đô đốc Tướng quân Trần Thượng Xuyên (1626 - 1720). Năm 1679, ông đưa hơn 3.000 quân dân Minh Hương vào quy phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được cử vào vùng Đông Phố (Biên Hòa) khẩn hoang lập ấp và xây dựng thương cảng Cù Lao Phố (Nông Nại Đại Phố) thành trung tâm giao thương quốc tế phồn hoa bậc nhất phương Nam cuối thế kỷ 17.
Vì sao ngôi đình có tên là Đình Tân Lân và trải qua những lần di dời nào?
Ban đầu miếu thờ Đức Ông được dựng ở Cù Lao Phố / Bàn Lân và trong thành cổ Biên Hòa (Thành Kèn). Năm 1861, khi quân Pháp chiếm thành Biên Hòa, nhân dân phải dời miếu sang thôn Tân Lân (Xóm Mới), sau đó đại trùng tu bên bờ sông Đồng Nai vào giai đoạn 1900 - 1906 và tôn tạo năm 1935 với tên chữ Tân Lân Thành Cổ Miếu.
Quần thể tượng gốm trên mái Đình Tân Lân có giá trị nghệ thuật gì đặc biệt?
Trên bờ nóc Tiền đình và Chánh điện lưu giữ quần thể hàng trăm tiểu tượng gốm Cây Mai nguyên bản do các lò gốm danh tiếng vùng Chợ Lớn chế tác đầu thế kỷ 20. Các cụm tượng lưỡng long tranh châu, lý ngư hóa long, Bát tiên quá hải, Quan Công phò nhị tẩu bằng gốm men màu được xem là bảo tàng mỹ thuật gốm cổ ngoài trời quý hiếm của miền Đông Nam Bộ.
Đình Tân Lân được xếp hạng di tích quốc gia vào năm nào?
Đình Tân Lân được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1991 theo Quyết định số 457/QĐ (hồ sơ Thư viện Đồng Nai ghi ngày 25/03/1991, một số tài liệu khác ghi ngày 28/06/1991).
Lễ hội lớn nhất trong năm của Đình Tân Lân diễn ra khi nào?
Đại lễ lớn nhất là Lễ hội Kỳ Yên kết hợp lễ giỗ Đức Ông Trần Thượng Xuyên diễn ra vào tháng 10 âm lịch hàng năm (có tư liệu ghi kỳ lễ Kỳ Yên từ 14 đến 16 tháng 10 âm lịch, còn đại lễ giỗ chính thức tổ chức trọng thể từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 10 âm lịch, chính giỗ ngày 23 tháng 10), quy tụ đông đảo cộng đồng người Việt và người Hoa về chiêm bái.