VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Phổ Minh

Chùa Tháp Phổ Minh, chùa Tháp

Ngôi chùa của đất Thiên Trường, nơi ngọn tháp gạch đời Trần giữ xá lợi của vị vua xuất gia lập ra Thiền phái Trúc Lâm.

Tông phái
Trúc Lâm thời Trần
Sơ tổ là Phật hoàng Trần Nhân Tông
Tháp
14 tầng
đế và tầng dưới bằng đá, mười ba tầng trên bằng gạch
Bảo vật quốc gia
Tượng Trúc Lâm Tam Tổ
Quyết định 41/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2023

Qua tam quan và hai cây muỗm cổ thụ hơn ba trăm năm tuổi, qua hồ sen hình tròn, quý vị sẽ thấy ngọn tháp trước khi thấy chùa. Tháp vuông, mười bốn tầng, cao khoảng mười chín phẩy năm tới hai mươi mốt phẩy hai mét tùy nguồn đo, bệ đế và tầng thứ nhất bằng đá xanh, mười ba tầng trên bằng gạch nung đỏ đã sẫm lại, mỗi tầng mở bốn cửa vòm, trên đỉnh là búp sen năm lớp cánh mà các nguồn mô tả là búp sen đá đặt trên bệ đất nung hai tầng hoặc búp sen đất nung già màu tiết dê. Đứng sát chân tháp, nhìn lên, quý vị sẽ thấy các tầng thu nhỏ dần đều đặn như một cây nến. Ngọn tháp ấy đã đứng trên đất này hơn bảy trăm năm.

Tháp không phải để trang trí. Theo tư liệu của chùa và các nguồn nghiên cứu, bên trong tháp đặt một phần xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị vua đã nhường ngôi, lên núi Yên Tử xuất gia và lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Trong chùa, ở gian giữa thượng điện, pho tượng ngài nằm nghiêng nhập Niết Bàn, hai bên là hai vị tổ kế thừa. Vì thế người tu theo Trúc Lâm coi Phổ Minh là một chốn tổ ở đồng bằng, bên cạnh chốn tổ trên núi Yên Tử.

Chùa Phổ Minh
Chùa Phổ Minh. Ảnh: I Love Triệu Đà, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITrúc Lâm thời Trần và ba vị tổ

Thiền phái Trúc Lâm là dòng thiền do người Việt lập ra, không phải truyền từ một tổ sư nước ngoài. Người lập là vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi đã lên núi Yên Tử xuất gia, pháp hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, người đời tôn là Phật hoàng và Điều Ngự Giác Hoàng. Dòng thiền này gom ba dòng thiền có trước ở Đại Việt là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường về một mối, rồi truyền qua ba đời tổ mà sử Phật giáo gọi là Trúc Lâm Tam Tổ.

Sơ tổ Trần Nhân Tông

Vua thứ ba nhà Trần, sinh năm 1258, xuất gia ở Yên Tử năm 1299, lập Thiền phái Trúc Lâm, nhập Niết Bàn năm 1308 tại am Ngọa Vân.

Nhị tổ Pháp Loa

Thiền sư Pháp Loa (1284 tới 1330), thế danh Đồng Kiên Cương, được Sơ tổ truyền y bát năm 1308, người tổ chức lại tăng đoàn và in ấn kinh sách cho Trúc Lâm.

Tam tổ Huyền Quang

Thiền sư Huyền Quang (1254 tới 1334), thế danh Lý Đạo Tái, vốn đỗ đạt ra làm quan rồi xuất gia, nối Pháp Loa làm tổ thứ ba, nổi tiếng về thơ thiền.

Theo giáo nghĩa

Tinh thần của Trúc Lâm thời Trần gói trong bốn chữ của chính Trần Nhân Tông là cư trần lạc đạo, nghĩa là ở giữa cõi đời mà vui với đạo. Thiền ở đây không đòi người tu phải bỏ việc đời mới tu được. Vua vẫn trị nước, người làm ruộng vẫn làm ruộng, việc chính là giữ tâm không bị cảnh kéo đi. Đó là lý do một nhà vua có thể vừa lãnh việc nước vừa là thiền sư, và cũng là lý do đất hành cung như Thiên Trường lại có một ngôi chùa lớn đến thế.

Chỗ hay hiểu lầm

Cần tách hai chữ Trúc Lâm. Trúc Lâm thời Trần là dòng thiền của Tam Tổ ở thế kỷ 13 và 14, sau đó mạch truyền thưa dần qua các thế kỷ. Thiền phái Trúc Lâm hiện đại là thiền phái do Hòa thượng Thích Thanh Từ khôi phục trong thế kỷ 20, lấy Tam Tổ làm nguồn và tông chỉ, có tổ đình là Thiền viện Thường Chiếu. Chùa Phổ Minh thuộc lớp thứ nhất, đây là ngôi chùa của chính thời Tam Tổ chứ không phải một thiền viện của thiền phái hiện đại.

IINgôi chùa của đất Thiên Trường

Phổ Minh gắn với phủ Thiên Trường, đất Tức Mặc quê gốc họ Trần. Phần hành cung và các vua Trần đã được kể ở bài đền Trần Nam Định. Bài này chỉ theo mạch Phật giáo, nhìn lại ngôi chùa lớn lên cùng nếp thiền của nhà Trần rồi thành nơi giữ xá lợi vị tổ Trúc Lâm.

  • Thời LýCó chùa theo bia ký và truyền ngôn
    Theo văn bia và tư liệu địa phương, chùa đã được dựng từ thời Lý trước khi nhà Trần mở rộng.
  • 1262Dựng lại quy mô lớn dưới đời Trần Thánh Tông
    Tháng 2 năm Nhâm Tuất niên hiệu Thiệu Long thứ 5, cùng lúc dựng cung Trùng Quang và cung Trùng Hoa ở Thiên Trường, triều Trần mở rộng chùa ở phía tây cung Trùng Quang.
  • 1299Trúc Lâm ra đời
    Tháng 10 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ phủ Thiên Trường lên núi Yên Tử xuất gia tu hành, dòng thiền Trúc Lâm thành hình từ đây.
  • 1303Hội Vô Lượng ở Phổ Minh
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Thượng hoàng Trần Nhân Tông về phủ Thiên Trường mở hội Vô Lượng tại chùa Phổ Minh, phát chẩn vàng bạc tiền lụa cho người nghèo trong nước và truyền giới giảng pháp.
  • 1305 hoặc 1308Dựng tháp Phổ Minh
    Vua Trần Anh Tông cho dựng tháp và đặt xá lợi Phật hoàng sau khi ngài nhập Niết Bàn ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân 1308. Nguồn vênh về năm khởi dựng, chi tiết nêu ngay dưới.
  • Thế kỷ 16 tới 1668Công chúa Mạc Ngọc Lâm tu bổ và dựng bia Cảnh Trị
    Thế kỷ 16, công chúa Mạc Ngọc Lâm quyên tiền tu bổ chùa. Năm 1668 niên hiệu Cảnh Trị thứ 6 đời Lê Huyền Tông, chùa dựng bia ghi lại việc trùng tu.
  • 1789 tới 1818Tháo dỡ đỉnh tháp, đúc chuông 1796 và xây hoàn trả 1818
    Năm 1789, quan trấn thủ Sơn Nam là Trần Túc cho tháo các tầng trên của tháp tìm đồng nhưng gặp quách đá nên dừng. Năm 1796 đúc đại hồng chung Cảnh Thịnh thứ 4. Năm 1818, Trần Duy Bản cho xây lại các tầng tháp như cũ.
  • 1962 và 2012Di tích quốc gia và Di tích quốc gia đặc biệt
    Chùa được xếp hạng di tích quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962, rồi xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt chung với đền Trần theo Quyết định 1419/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2012.
Theo sử liệu

Về năm dựng tháp, nguồn vênh nhau, xin viết thẳng. VietnamPlus và tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm 1305, dựa vào dòng chữ Hưng Long thập tam niên, tức năm thứ 13 niên hiệu Hưng Long, in trên gạch tháp. Trang Chốn Thiêng ghi năm 1308. Chỗ khó là Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn năm 1308, nên nếu tháp dựng để đặt xá lợi thì việc an trí xá lợi phải diễn ra vào năm ấy hoặc sau đó. Có thể gạch và nền tháp được chuẩn bị từ năm 1305 rồi tháp hoàn tất để tôn trí xá lợi sau khi Phật hoàng viên tịch năm 1308, nên thư viện ghi cả hai mốc năm.

IIINgọn tháp và gian thờ Tam Tổ

Chùa dàn trên một trục từ nam vào bắc theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm tam quan ba gian bốn mái với đôi sấu đá ở bậc lên xuống, hồ tròn thả sen, nhà bia và nhà chuông hai bên, ngọn tháp đứng giữa sân, rồi đến chùa chính hình chữ công gồm tiền đường chín gian, thiêu hương ba gian và thượng điện ba gian. Phía sau là sân chữ nhật, nhà giải vũ hai bên và nhà hậu mười một gian (giữa là bảy gian nhà Tổ có pho tượng đá trắng tạc công chúa Mạc Ngọc Lâm, bên đông là phủ Mẫu, bên tây là tăng phòng). Bốn cánh cửa gỗ lim chạm rồng ở gian giữa tiền đường là kiệt tác điêu khắc đời Trần, nay hai cánh chính lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội, hai cánh phụ lưu giữ tại bảo tàng ở Nam Định đã được công nhận là bảo vật quốc gia, còn tại chùa lắp bản sao tỷ lệ một một.

Tháp Phổ Minh

Tháp có mười bốn tầng, mặt bằng vuông. Bệ đế và tầng thứ nhất làm bằng đá xanh (một số nguồn gộp phần bệ đế và tầng một mà gọi là hai tầng dưới bằng đá xanh), chạm cánh sen, sóng nước, mây cuộn và rồng thời Trần. Mười ba tầng trên xây bằng gạch nung đỏ có in chữ Hưng Long thập tam niên và hình rồng nổi, thu nhỏ dần lên cao, mỗi tầng trổ bốn cửa cuốn vòm bốn hướng. Đỉnh tháp là búp sen năm lớp cánh mà tạp chí Nghiên cứu Phật học tả là búp sen đá đặt trên bệ đất nung đỏ hai tầng, trong khi VietnamPlus tả là búp sen chưa nở bằng đất nung già màu tiết dê.

Theo Chốn Thiêng và tạp chí Nghiên cứu Phật học, sau khi Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn năm 1308, vua Trần Anh Tông cho đặt bảy trong số hai mươi mốt hạt xá lợi của vua cha vào cỗ kiệu bát cống bằng đá ở tầng một. Đợt trùng tu tháng 3 năm 1987 cũng phát hiện ở tầng tháp thứ ba tính từ trên xuống có một quách đá bao quanh chiếc hộp đồng đựng xá lợi. Tháp vì thế là một tháp xá lợi, tức mộ tháp của vị Sơ tổ Trúc Lâm, chứ không phải tháp cảnh.

Theo sử liệu

Về kích thước đế tháp và chiều cao tháp, các nguồn cũng ghi chênh nhau. Về cạnh đế tháp, tạp chí Nghiên cứu Phật học và bài đền Trần Nam Định của thư viện ghi mỗi cạnh 5,20 mét, Chốn Thiêng ghi 5,21 mét, còn VietnamPlus ghi mỗi cạnh 8,6 mét. Về chiều cao tháp, tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi 19,51 mét, Sở Du lịch Ninh Bình ghi 19,5 mét, Cục Di sản Văn hóa ghi khoảng 20 mét, còn VietnamPlus ghi 21,2 mét. Chênh lệch này có thể do vị trí đặt thước tính từ mặt sân hay chân bệ đá và tính cả nền đài sen bao ngoài hay chỉ thân tầng một, nên thư viện ghi đủ các con số kèm nguồn.

Bộ tượng Trúc Lâm Tam Tổ

Ở gian giữa thượng điện là bộ tượng Trúc Lâm Tam Tổ, tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng, niên đại thế kỷ 17. Tượng Trần Nhân Tông (dài 184 cm, cao cả bệ 84 cm) nằm nghiêng trong thế sư tử ngọa nhập Niết Bàn ở giữa, hai bên là tượng Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang. Theo báo Dân Trí và tạp chí Nghiên cứu Phật học, tượng Phật hoàng gối đầu lên tay trái, đầu quay về phía đông tức phía đền Trần, gửi ý hướng về cội nguồn. Bộ tượng gồm ba pho được công nhận là bảo vật quốc gia (đợt xét năm 2022) theo Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2023.

Tượng một vị vua nằm nhập Niết Bàn theo dáng tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn là điều hiếm trong điêu khắc Phật giáo Việt Nam. Nó cho thấy người đời sau không chỉ nhớ Trần Nhân Tông như một vị vua, mà thờ ngài như một vị Phật của đất Việt.

Chỗ hay hiểu lầm

Về vạc Phổ Minh, một trong An Nam tứ đại khí thời Trần, nhiều người đến chùa vẫn đi tìm chiếc vạc đồng lớn mà sách xưa từng chép. Chiếc vạc đã mất từ thế kỷ 15, khi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đến thăm chùa ở thế kỷ 16 đã cảm tác bài thơ Du Phổ Minh tự với câu Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại, Thức đắc vô hình thắng hữu hình (Vạc cổ xa xăm nay đâu tá, Biết được không hình hơn có hình). Nay trong sân chùa chỉ còn các khối đá chân đỡ vạc và mười bốn chân tảng đá chạm cánh sen đời Trần.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bia hay hồ sơ di tích của chùa. Tư liệu chỉ ghi chùa quay hướng nam, nằm ở phía tây cung Trùng Quang (nay là khu đền Trần) khoảng 300 mét và đầu tượng Phật hoàng quay về phía đông. Phần còn lại là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là chỗ đứng của chùa không do thầy địa lý chọn riêng. Theo sử, năm 1262 chùa được mở rộng ở phía tây cung Trùng Quang, tức đặt theo vị trí của hành cung. Trong lối xếp cung điện cổ, phía tây là phía của sự thu lại, của lúc mặt trời lặn. Một ngôi chùa đặt ở phía tây cung các Thượng hoàng, nơi những vị vua đã nhường ngôi về nghỉ, là đặt đúng nghĩa cho chỗ của người đã buông việc đời mà quay về đạo.

Xét về nước, đất Thiên Trường thuộc châu thổ sông Hồng, phẳng và nhiều kênh rạch. Hồ sen hình tròn trước tam quan và sân tháp giữ vai trò minh đường có thủy tụ, bù cho chỗ thiếu núi của đồng bằng. Nước trước, tháp giữa, chùa sau tạo thành một trục khép kín theo lối chùa cổ Bắc Bộ.

Về tháp, một khối cao đứng giữa đồng bằng tự nó làm thành chỗ tựa. Nơi không có núi thì người xưa dựng tháp làm núi. Tháp Phổ Minh cao khoảng hai mươi mét, giữa vùng đất không có gò đồi nào, đóng vai trò ấy, và vì trong tháp có xá lợi, chỗ tựa ấy cũng là chỗ tựa của cả dòng thiền.

Cuối cùng là hướng của pho tượng. Đầu tượng Phật hoàng quay về đông, về phía đền thờ tổ tiên họ Trần. Đọc theo lối cổ truyền, đây là cách gắn hai lớp gốc với nhau, gồm gốc huyết thống ở phía đền và gốc đạo ở phía tháp. Một vị vua đi tu vẫn không quay lưng với tổ tiên, và cách đặt tượng nói điều ấy bằng hướng.

VLễ trong năm

Phổ Minh giữ các ngày lễ chung của nhà Phật và ngày tưởng niệm Sơ tổ Trúc Lâm. Đại lễ tưởng niệm Phật hoàng của cả hệ Trúc Lâm tổ chức chính ở Yên Tử, còn ở Phổ Minh là nơi có tháp xá lợi, người đi lễ đến dâng hương dưới chân tháp.

Các dịp lễ chính liên quan tới chùa. Nguồn: Tư liệu Phật giáo và các bản tin đại lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông..
Thời điểm âm lịchLễGhi chú
Tháng GiêngLễ đầu nămDịp hội xuân của khu đền Trần, người về Thiên Trường thường lên cả chùa Phổ Minh dâng hương.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, chung cho mọi chùa Bắc Tông.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cúng thí thực.
Mùng 1 tháng 11Tưởng niệm Phật hoàng nhập Niết BànKỷ niệm ngày Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn năm 1308. Người hành hương về tháp Phổ Minh dâng hương tưởng niệm Sơ tổ Trúc Lâm.

Người theo Trúc Lâm thường đi theo một vòng hành hương từ Yên Tử, nơi Sơ tổ tu và nhập Niết Bàn, rồi về Phổ Minh, nơi xá lợi của ngài được đặt trong tháp. Hai nơi một núi một đồng, cùng thờ một vị tổ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Nam Định (phường Lộc Vượng cũ, thành phố Nam Định cũ), tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa ở tổ dân phố Tức Mặc, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình, trên đất Thiên Trường thuộc phường Lộc Vượng cũ, phía tây khu đền Trần. Sở Du lịch Ninh Bình ghi chùa cách đền Trần chừng 300 mét, có thể đi bộ qua lại giữa hai di tích.
Toạ độ
20.4542, 106.1632
Khi tới nơi

Chùa là nơi thờ tự đang hoạt động và là di tích quốc gia đặc biệt. Khi tới viếng chùa, quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các gian thờ, đi nhẹ nói khẽ trước bộ tượng Tam Tổ. Không leo lên bệ tháp, không chạm tay vào đế đá chạm và gạch tháp đời Trần hay đôi sấu đá ở bậc tam quan. Dâng hương ở nơi chùa đặt lư, không cắm hương vào khe tháp. Muốn chụp ảnh trong chùa, xin hỏi người trông coi trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phổ Minh

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Phổ Minh thuộc thiền phái nào

Thuộc Thiền phái Trúc Lâm thời Trần, dòng thiền do Phật hoàng Trần Nhân Tông lập năm 1299. Chùa thờ Trúc Lâm Tam Tổ và giữ tháp xá lợi của Sơ tổ. Đây là cổ tự từ thời Tam Tổ chứ không phải thiền viện của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại do Hòa thượng Thích Thanh Từ khôi phục trong thế kỷ 20.

Tháp Phổ Minh xây năm nào

Nguồn vênh nhau. VietnamPlus và tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm 1305, dựa vào chữ Hưng Long thập tam niên trên gạch tháp. Chốn Thiêng ghi năm 1308, năm Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn. Cả hai nguồn đều nói tháp dựng dưới đời Trần Anh Tông để tôn trí xá lợi Phật hoàng.

Trong tháp Phổ Minh có gì

Theo tư liệu của chùa, vua Trần Anh Tông đem bảy trong số hai mươi mốt hạt xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông đặt trong cỗ kiệu bát cống bằng đá ở tầng một, và đợt trùng tu năm 1987 cũng phát hiện quách đá bao quanh hộp đồng đựng xá lợi ở tầng thứ ba tính từ trên xuống.

Trúc Lâm Tam Tổ là ai

Là ba vị tổ đầu của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần gồm Sơ tổ Trần Nhân Tông, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang. Bộ tượng Tam Tổ ở chùa Phổ Minh bằng gỗ sơn son thếp vàng, niên đại thế kỷ 17, được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định 41/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2023.

Đế tháp và chiều cao tháp Phổ Minh bao nhiêu

Các nguồn ghi chênh nhau tùy vị trí đo. Cạnh đế tháp được tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi 5,20 mét, Chốn Thiêng ghi 5,21 mét, VietnamPlus ghi 8,6 mét. Chiều cao tháp được ghi từ 19,5 mét, 19,51 mét, khoảng 20 mét tới 21,2 mét.

›Đọc Tiếp