VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Bảo Lộc

Đền thờ Đức Thánh Trần ở Bảo Lộc, Đền Bảo Lộc Mỹ Phúc, Đền An Lạc

Ngôi đền trên đất ấp cũ của cha Hưng Đạo Đại Vương, nơi dân gian gọi là quê của Đức Thánh Trần và giữ giỗ Cha mỗi tháng Tám.

Dựng kiên cố
1928
khởi công theo lối chữ Đinh
Giỗ Đức Thánh
20 tháng Tám
âm lịch, dân gọi là giỗ Cha
Xếp hạng
Di tích quốc gia
ngày 12 tháng 12 năm 1988

Làng Bảo Lộc nằm giữa đồng, cách khu đền Trần ở Tức Mặc chưa tới hai cây số đường chim bay. Quý vị đi qua những thửa ruộng phẳng của vùng Thiên Trường cũ, rồi gặp một khu thờ bốn phần gồm đền chính ở giữa quay mặt về hướng đông, chùa bên trái, phủ Mẫu bên phải, và phía sau là một ngôi đền nhỏ nữa trên nền cao. Trong đền chính, pho tượng đồng Hưng Đạo Đại Vương nặng 4,8 tấn ngồi ở chỗ trang trọng nhất của gian trung đường.

Người vùng này gọi nơi đây là quê của Đức Thánh Trần (như câu ca dân gian "Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc"). Theo tư liệu, đất đền nguyên là thái ấp An Lạc của An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương. Vì thế ở Bảo Lộc, việc thờ Đức Thánh không đứng một mình mà đi cùng việc thờ cả gia quyến và tôn sư của ông gồm cha mẹ, phu nhân, các con và hai vị thầy dạy văn, dạy võ. Đây là một nơi thờ nhân thần theo lối thờ tổ tiên của một gia đình đã thành thánh.

Đền Bảo Lộc
Đền Bảo Lộc. Ảnh: Yensaolocoi, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐức Thánh Trần Và Gia Quyến

Vị chính của đền là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, danh nhân đời Trần, được dân gian tôn là Đức Thánh Trần. Báo Tuổi Trẻ năm 2026 ghi đền thờ ông cùng gia quyến, và đó là chìa khóa để hiểu cách bày thờ từ ngoài vào trong ở đây.

Theo Báo Pháp Luật Việt Nam và các tư liệu di tích, tại chính giữa gian tiền đường đặt bài vị Đức Thánh Trần, tại gian trung đường đặt pho tượng đồng Hưng Đạo Đại Vương trong tư thế ngồi nặng 4,8 tấn, hai bên là tượng người con trai Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (Nhiễn) và người con rể Phạm Ngũ Lão. Ở gian hậu cung đặt pho tượng Đức Thánh Trần bằng gỗ trầm hương, hai bên là tượng thầy dạy văn và thầy dạy võ (binh pháp). Phía sau đền chính là đền Khải Thánh có nền cao hơn ba mét, thờ vương phụ (An Sinh Vương Trần Liễu), vương mẫu, phu nhân và hai người con gái của ông. Chữ Khải Thánh vốn chỉ nơi thờ cha mẹ của một bậc được tôn thờ, và ở Bảo Lộc chữ ấy đúng với đất vì cha của Đức Thánh là chủ cũ của mảnh đất này.

Theo sử liệu

Xét theo tư liệu, Bảo Lộc là một nơi thờ theo lối thờ tổ tiên được nâng lên thành thờ nhân thần. Báo Tuổi Trẻ và Báo Pháp Luật Việt Nam đều ghi đất đền là đất ấp cũ của An Sinh Vương Trần Liễu (anh trai vua Trần Thái Tông), Báo Pháp Luật gọi là đất thang mộc, tức đất được ban để lấy hoa lợi. Tên cũ của đền là đền An Lạc, ở làng Bảo Lộc, tổng Hữu Bị. Ngay trước cửa đền còn đôi câu đối chữ Hán ghi nhớ gốc đất ấy là "Thử địa vi thánh phụ sở cư, thiên cổ cố truyền thang ấp xứ / Kim thiên kế tiền nhân chi kiếp, vạn niên do lại lộc hương an" (Đất này nơi thánh phụ ở năm xưa, ngàn thuở vẫn truyền nơi thang ấp / Ngày nay nối tiền nhân từng dựng đặt, muôn năm nhờ cậy lộc hương đây). Việc dân làng thờ Hưng Đạo Đại Vương ở đây trước hết là thờ một người con của đất ấp ấy, rồi về sau hòa vào tín ngưỡng Đức Thánh Trần chung của cả Bắc Bộ.

Trong khuôn viên còn có chùa thờ Phật bên trái và phủ thờ Mẫu bên phải. Phủ Mẫu chỉ là phần phụ, vị chủ của cả khu vẫn là Đức Thánh Trần. Trong Đạo Mẫu có riêng một lối hầu Trần Triều, khác hẳn hàng Tứ Phủ, phần ấy đã viết ở bài đền Kiếp Bạc, bài này không đi vào.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất là câu Bảo Lộc là nơi sinh của Đức Thánh Trần. Tạp chí Hòa Nhập đặt đúng câu ấy làm tiêu đề. Các nguồn khác thận trọng hơn, chỉ gọi là quê hương (như câu thành ngữ dân gian "Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc"), và một số trang du lịch viết rằng tương truyền ông sinh ra và lớn lên ở ấp An Lạc. Trong khi đó, cách đây chưa tới hai cây số đường chim bay, đền Cố Trạch trong khu đền Trần Nam Định được dựng trên nền nhà cũ của Hưng Đạo Đại Vương. Hai nơi không nhất thiết loại nhau, vì cả hai cùng thuộc đất Thiên Trường của họ Trần. Nhưng chưa có văn bản đương thời nào xác định nơi ông chào đời, nên chúng tôi ghi chuyện sinh ở Bảo Lộc là tương truyền.

IITừ Ba Gian Gỗ Ven Sông Đến Ngôi Đền Năm 1928

Năm khởi dựng chưa khảo được. Các nguồn cùng kể một lộ trình ba bước gồm một ngôi đền nhỏ ven sông, một lần dời vào trong làng vì lở bờ, rồi một lần dựng kiên cố trong thế kỷ XX. Chỉ bước cuối có năm rõ.

  • Đời TrầnĐất ấp An Lạc của An Sinh Vương
    Theo tư liệu địa phương, vùng ấp An Lạc (làng Bảo Lộc) cách trung tâm phủ Thiên Trường khoảng hai cây số về phía bắc là thái ấp thang mộc của An Sinh Vương Trần Liễu, cha của Hưng Đạo Đại Vương.
  • 1300Đức Thánh Trần mất
    Hưng Đạo Đại Vương mất ngày 20 tháng Tám âm lịch năm Canh Tý (1300). Ngày ấy trở thành ngày giỗ lớn nhất ở mọi nơi thờ ông, trong đó có Bảo Lộc.
  • Chưa rõBa gian gỗ ven sông Châu Giang
    Đền ban đầu là ba gian nhà gỗ lim lợp ngói mũi hài bên bờ sông Châu Giang, theo Báo Pháp Luật Việt Nam và tạp chí Hòa Nhập.
  • Chưa rõDời vào phía nam làng
    Bờ sông Châu Giang bị xói lở, người dân dời đền về phía nam làng Bảo Lộc cách chỗ cũ chừng ba trăm mét, dựng thành ba tòa chồng diêm tám mái với quy mô nhỏ.
  • 1845Sắc phong đời Thiệu Trị và chuông cổ thế kỷ XIX
    Tạp chí Hòa Nhập ghi đền giữ một sắc phong vua Thiệu Trị ban năm 1845 cho Hưng Đạo Đại Vương cùng quả chuông đồng thế kỷ XIX khắc bốn chữ An Lạc từ chung.
  • 1928Khởi công dựng kiên cố kiểu chữ Đinh
    Đền được khởi công dựng lại bề thế theo lối chữ Đinh với cột xây gạch và xà bê tông cốt thép, là ngôi đền chính quý vị thấy hôm nay.
  • 12/12/1988Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia
    Đền Bảo Lộc được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia (khác với cụm Đền Trần - Chùa Tháp ở Lộc Vượng được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012).
  • 2025Đổi địa giới hành chính
    Xã Mỹ Phúc thuộc huyện Mỹ Lộc cũ nhập vào phường Nam Định, tỉnh Nam Định cũ nhập vào tỉnh Ninh Bình.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn ghi khác nhau về năm 1928. Tạp chí Hòa Nhập viết đền được khởi công xây dựng từ năm ấy, tức là dựng mới trên nền ba tòa chồng diêm tám mái nhỏ trước đó. Một số trang du lịch lại viết năm 1928 đền được tôn tạo, nâng cấp trên công trình đã có. Hai cách viết dẫn tới hai cách hiểu về tuổi của những gì còn thấy hôm nay. Chúng tôi chưa tra được văn bia gốc để nói dứt, nên ghi cả hai.

Về hai bước đầu gồm ba gian gỗ lim ven sông Châu Giang và lần dời vào cách đó ba trăm mét dựng ba tòa chồng diêm tám mái, các nguồn chỉ chép theo lời truyền của làng, không kèm năm cụ thể. Chúng tôi giữ nguyên trạng thái chưa rõ ấy, không suy ra.

IIINhà Chữ Đinh Và Các Hiện Vật

Đền chính dựng theo mặt bằng chữ Đinh, gồm ba lớp nối nhau là tiền đường bảy gian, trung đường năm gian và hậu cung ba gian. Các cột của đền xây bằng gạch, nhiều con xà đổ xi măng cốt thép vững chãi. Số gian thu hẹp dần từ ngoài vào trong, đưa người đi lễ từ một không gian rộng tới một chỗ kín. Báo Pháp Luật Việt Nam nhắc tới sáu bộ cánh cửa gỗ ở hậu cung với những mảng chạm tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Quanh đền chính là ba công trình phụ gồm chùa thờ Phật bên trái, phủ thờ Mẫu bên phải, và đền Khải Thánh phía sau có nền cao hơn đền chính ba mét. Bố cục đền ở giữa, chùa và phủ hai bên là lối quen của nhiều nơi thờ ở châu thổ Bắc Bộ, nơi thờ thần, thờ Phật và thờ Mẫu cùng đứng trong một khuôn viên đăng đối.

Các hiện vật chính mà nguồn công khai có nhắc. Niên đại để trống khi nguồn không nêu. Nguồn: Báo Pháp Luật Việt Nam, tạp chí Hòa Nhập, mia.vn, oancotam.com..
Hiện vậtNiên đạiGhi chú
Tượng đồng Hưng Đạo Đại VươngChưa rõTượng đúc đồng trong tư thế ngồi nặng 4,8 tấn theo Báo Pháp Luật Việt Nam, đặt ở gian trung đường đền chính (hai bên có tượng Hưng Vũ Vương Nhiễn và Phạm Ngũ Lão).
Tượng gỗ trầm hươngChưa rõPho tượng Đức Thánh Trần thứ hai làm bằng gỗ trầm hương đặt tại gian hậu cung (hai bên là tượng thầy dạy văn và thầy dạy võ).
Chuông An Lạc từ chungThế kỷ XIXKhắc bốn chữ nghĩa là chuông của đền An Lạc, giữ tên cũ của đền.
Sáu bộ cánh cửa gỗ hậu cungPhong cách thời NguyễnChạm khắc tinh xảo tại khu vực hậu cung, theo Báo Pháp Luật Việt Nam.
Sắc phong1845Vua Thiệu Trị ban cho Hưng Đạo Đại Vương, theo tạp chí Hòa Nhập.
Long ngai, bài vị, tượng mộcNhiều thờiBài vị Đức Thánh Trần đặt chính giữa tiền đường cùng hệ thống đồ thờ trong các lớp nhà.

Quả chuông là hiện vật nói nhiều nhất về lịch sử của đền. Bốn chữ khắc trên chuông đọc là An Lạc từ chung, nghĩa là chuông của đền An Lạc. Tên ấy khớp với ghi chép của Báo Pháp Luật Việt Nam rằng đền ban đầu gọi là đền An Lạc, và với lời kể về thái ấp An Lạc. Nói cách khác, cái tên Bảo Lộc là tên làng, còn cái tên cũ của đền thì còn nằm trên quả chuông.

Vì thế ba chữ Hán đầu trang là An Lạc từ, lấy theo tên cũ khắc trên chuông. Xin nói rõ là chúng tôi chỉ có phiên âm do nguồn chép lại, mặt chữ Hán do chúng tôi khôi phục từ phiên âm ấy, chưa đối chiếu trực tiếp với quả chuông.

IVThế Đất Và Hướng

Văn bản về đền không chép lý do chọn đất theo sách địa lý. Đoạn dưới là cách thư viện đọc cảnh đất theo phong thủy cổ truyền, trên một vùng đồng bằng không núi, nơi người xưa chỉ còn mạch nước và độ cao của nền đất để dựa vào.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng ghi là câu chuyện dời đền. Ngôi ban đầu đứng sát bờ sông Châu Giang. Bờ lở, dân làng dời đền lùi vào chừng ba trăm mét về phía nam làng. Trong phép xem đất châu thổ, sông là minh đường, nhưng đứng quá sát dòng thì nước xói chân, và đất bị xói là thứ phong thủy cổ truyền tránh nhất. Dời vào một quãng đủ xa để khỏi lở mà vẫn đủ gần để còn thấy khí sông, đọc theo lối ấy là một lần chỉnh thế chứ không phải bỏ thế.

Thứ hai là vùng đất Thiên Trường. Bảo Lộc cách khu đền Trần ở Tức Mặc chừng 1,7 cây số và cách chùa Phổ Minh chừng 1,6 cây số theo đường chim bay. Ba điểm ấy cùng nằm trên đất gốc của họ Trần ở phủ Thiên Trường. Đọc theo lối cổ truyền, một dòng họ lớn chọn vùng đất quê làm nơi đặt hành cung, chùa và ấp của các thân vương, là chọn cả một cục đất chứ không chọn một điểm. Bảo Lộc là một góc của cục đất ấy, góc gắn với chi của An Sinh Vương Trần Liễu.

Thứ ba là đất bằng và thế nền cao dần. Không có núi làm hậu chẩm, lối quen của người đồng bằng là tôn nền và trồng cây quanh khuôn viên để làm chỗ tựa. Đền Khải Thánh thờ cha mẹ của Đức Thánh Trần nằm ở phía sau đền chính được đắp nền cao hơn ba mét, vừa hợp với đạo lý tôn kính bậc sinh thành, vừa tạo thế hậu chẩm nâng đỡ ngay sau lưng chính điện. Chùa thờ Phật bên trái và phủ thờ Mẫu bên phải đứng đăng đối hai bên đền chính, đọc theo phong thủy, còn đóng vai hai cánh tả Thanh Long hữu Bạch Hổ ôm lấy chính điện, thay cho hai dải đồi mà vùng đồng bằng này không có.

Về hướng, theo ghi nhận của Báo Pháp Luật Việt Nam, mia.vn và oancotam.com, đền chính nằm ở vị trí trung tâm và quay mặt về hướng đông. Trong lý thuyết phong thủy cổ truyền, hướng đông ứng với quẻ Chấn, là phương mặt trời mọc và là hướng đón sinh khí buổi sớm từ phía lưu vực châu thổ mở ra trước mặt. Mọi điều phân tích trên là kiến giải phong thủy của thư viện.

VHội Đầu Xuân Và Giỗ Cha Tháng Tám

Báo Tuổi Trẻ năm 2026 ghi đền có hai dịp lễ hội trong năm là đầu xuân và tháng Tám âm lịch. Dịp tháng Tám là dịp chính, vì ngày 20 tháng Tám là ngày giỗ Hưng Đạo Đại Vương. Người đi lễ gọi ngày ấy là giỗ Cha, theo câu truyền khẩu quen của tín đồ Đạo Mẫu là tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ. Trong dịp hội tháng Tám còn có các trò dân gian truyền thống như đấu vật, cờ người và múa bài bông.

Các mốc lễ theo âm lịch. Bài không ghi giờ cử hành vì lịch cụ thể đổi theo từng năm. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ năm 2026, Báo Pháp Luật Việt Nam, mia.vn, oancotam.com..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Đầu xuânLễ dâng hương đầu nămDịp hội thứ nhất trong năm, theo Báo Tuổi Trẻ.
Ngày 14 tháng GiêngLễ ban ấnChỉ có các trang du lịch chép. Báo Tuổi Trẻ năm 2026 ghi đền không tổ chức lễ Khai ấn, chi tiết nêu dưới đây.
Tháng TámHội tháng TámDịp hội chính trong năm với lễ rước, tế lễ và các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người, múa bài bông.
Ngày 20 tháng TámGiỗ Đức Thánh TrầnNgày kỵ nhật của Hưng Đạo Đại Vương, dân gọi là giỗ Cha, là ngày đông người nhất.
Chỗ hay hiểu lầm

Vì ở gần khu đền Trần, nơi có lễ Khai ấn nổi tiếng đêm rằm tháng Giêng, nhiều người nghĩ Bảo Lộc cũng có một lễ Khai ấn riêng. Nguồn vênh nhau ở chỗ này. Hai trang du lịch ghi đền có lễ ban ấn ngày 14 tháng Giêng. Báo Tuổi Trẻ năm 2026 dẫn lời Ban quản lý Khu di tích phường Nam Định thì ghi rõ tại đền Bảo Lộc không tổ chức lễ Khai ấn mà chỉ tổ chức lễ dâng hương đầu năm, còn việc du khách có nhu cầu xin lộc ấn được nhà đền thực hiện kể cả ngày thường trên tinh thần tùy tâm. Chúng tôi theo tờ báo chính thống vì đó là thông tin mới nhất và gắn trực tiếp với cơ quan quản lý di tích, nhưng vẫn ghi cả hai để quý vị biết vì sao có hai cách nói. Về gốc tích lễ Khai ấn ở đền Trần, xin xem bài đền Trần Nam Định.

Đền Bảo Lộc là một trong nhiều nơi thờ Đức Thánh Trần. Cửa đền gốc của tín ngưỡng này là đền Kiếp Bạc trên đất Vạn Kiếp, và đền Trần Thương ở Hà Nam cũ giữ lễ phát lương đầu năm. Ngay gần Bảo Lộc là chùa Phổ Minh của Thiền phái Trúc Lâm. Mỗi nơi giữ một phần riêng, Bảo Lộc giữ phần gia đình và đất thái ấp.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Bảo Lộc, phường Nam Định (xã Mỹ Phúc cũ, huyện Mỹ Lộc cũ, tỉnh Nam Định cũ, nhập vào phường Nam Định năm 2025), tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Đền ở làng Bảo Lộc, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình (thuộc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định cũ). Từ khu đền Trần ở Tức Mặc tính theo đường chim bay chừng 1,7 cây số. Nếu đi đường bộ từ trung tâm Nam Định theo quốc lộ 38A gần 5 cây số đến dốc Hữu Bị, rẽ trái theo đê Châu Giang khoảng 800 mét là tới đền.
Toạ độ
20.4655, 106.161
Khi tới nơi

Lệ đi lễ theo trục của khu đền là dâng hương ở đền chính trước, rồi ra phía sau vào đền Khải Thánh thờ cha mẹ và gia quyến Đức Thánh, sau đó mới sang chùa và phủ Mẫu hai bên. Ngày 20 tháng Tám âm lịch và dịp đầu xuân là lúc đông nhất, lối vào được chia luồng. Trong khu vực trung đường và hậu cung xin đi nhẹ, không chạm vào tượng và đồ thờ, việc dâng tiền dầu nhang hoàn toàn tùy tâm và đặt vào hòm công đức.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Bảo Lộc

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Bảo Lộc thờ ai

Thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và tôn sư. Đền chính đặt bài vị ở tiền đường, tượng đồng Đức Thánh Trần nặng 4,8 tấn ở trung đường (hai bên là con trai Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn và con rể Phạm Ngũ Lão), và tượng gỗ trầm hương ở hậu cung (hai bên là tượng thầy dạy văn và thầy dạy võ). Đền Khải Thánh phía sau thờ cha, mẹ, phu nhân và hai con gái của ông. Trong khuôn viên còn có chùa thờ Phật bên trái và phủ thờ Mẫu bên phải.

Đền Bảo Lộc có phải nơi sinh của Trần Hưng Đạo không

Dân gian gọi Bảo Lộc là quê của Đức Thánh Trần (như câu Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc), vì đất đền là thái ấp An Lạc cũ của cha ông là An Sinh Vương Trần Liễu. Có nguồn viết đây là nơi ông sinh ra và lớn lên, nhưng chưa có văn bản đương thời nào xác định, nên được ghi nhận là tương truyền. Đền Cố Trạch trong khu đền Trần gần đó cũng gắn với nhà cũ của ông.

Đền Bảo Lộc có lễ khai ấn không

Nguồn vênh nhau. Hai trang du lịch ghi có lễ ban ấn ngày 14 tháng Giêng âm lịch. Báo Tuổi Trẻ năm 2026 dẫn thông tin từ Ban quản lý Khu di tích phường Nam Định ghi rõ đền Bảo Lộc không tổ chức lễ Khai ấn mà chỉ tổ chức lễ dâng hương đầu năm (du khách xin lộc ấn được thực hiện cả ngày thường). Lễ Khai ấn đêm 14 rạng sáng 15 tháng Giêng là của Khu di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần - Chùa Tháp ở Tức Mặc.

Giỗ Cha ở đền Bảo Lộc là ngày nào

Ngày 20 tháng Tám âm lịch, ngày kỵ nhật của Hưng Đạo Đại Vương. Người đi lễ gọi là giỗ Cha theo câu truyền khẩu tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ. Tháng Tám là mùa hội chính của đền với tế lễ và các trò dân gian như đấu vật, cờ người, múa bài bông, ngoài ra đền còn dịp lễ dâng hương đầu xuân.

Đền Bảo Lộc được xây năm nào và xếp hạng cấp nào

Năm khởi dựng chưa khảo được. Đền ban đầu là ba gian gỗ lim bên sông Châu Giang, bờ lở nên dời vào phía nam làng chừng ba trăm mét dựng thành ba tòa chồng diêm tám mái nhỏ. Ngôi đền chữ Đinh hôm nay được khởi công dựng kiên cố năm 1928, và được công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 12 tháng 12 năm 1988.

›Đọc Tiếp