VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ

Di tích Văn Thánh, Khổng Miếu, Văn Thánh Chiên Đàn, Văn Thánh Hà Đông

Văn thánh của một huyện xứ Quảng dời từ làng Chiên Đàn về nhập với một ngôi Khổng Miếu nhỏ, nên cái tên mang dấu của cả hai ngôi.

Văn Thánh Chiên Đàn
1840 tới 1842
dựng ở huyện Hà Đông xưa
Dựng lại ở Mỹ Thạch
1963 tới 1970
trên nền một Khổng Miếu nhỏ
Xếp hạng
Quốc gia
Dân trí ghi năm 2006

Đứng ngoài cổng tam quan trên đường Phan Bội Châu, quý vị nhìn qua một hồ nước hình bán nguyệt, giữa hồ có chiếc cầu đá cong lưng. Bên kia cầu là mấy nếp nhà gỗ ba gian hai chái, mái thấp, bờ nóc đắp đôi rồng chầu ngọc, dáng nhà rường mà ai đã qua Hội An đều nhận ra. Hai bên sân là gác chuông và gác trống.

Tấm biển trên cổng đọc là Văn Thánh, Khổng Miếu, hai tên ghép bằng một dấu phẩy. Dấu phẩy ấy không phải chuyện trình bày. Nó là dấu vết của hai ngôi miếu khác nhau, một văn thánh cấp huyện có từ năm 1840 ở làng Chiên Đàn và một Khổng Miếu nhỏ ở làng Mỹ Thạch, nhập lại thành khu di tích quý vị đang đứng.

IMột Khu Di Tích Mang Tên Của Hai Ngôi Miếu

Nhà nghiên cứu Ngô Phú Thiện viết trên Báo Đà Nẵng rằng khu này là hợp của hai lớp. Lớp thứ nhất là Văn Thánh Chiên Đàn, văn thánh của huyện Hà Đông xưa, dựng ở làng Chiên Đàn. Lớp thứ hai là một ngôi Khổng Miếu nhỏ do sĩ phu địa phương dựng ở vùng Mỹ Thạch từ trước. Khi vật liệu của Văn Thánh Chiên Đàn được đưa về dựng lại trên nền Khổng Miếu, cái tên ghép Văn Thánh Khổng Miếu ra đời. Tác giả đề nghị gọi là Văn Thánh Hà Đông hoặc Văn Thánh Tam Kỳ cho gọn và đúng gốc hơn. Bài này giữ tên chính thức đang dùng, và ghi các tên kia ở phần tên khác.

Bốn chữ Hán ở đầu bài do thư viện ghép theo tên gọi, không chép từ hoành phi của di tích.

Theo giáo nghĩa

Muốn hiểu vì sao một nơi thờ Khổng Tử lại có nhiều tên như vậy, cần biết thời Nguyễn có một bậc thang nơi thờ đạo học. Ở kinh đô là Văn Miếu gắn với Quốc Tử Giám. Ở trấn, tỉnh là văn miếu trấn, tỉnh, như Văn miếu Mao Điền của trấn Hải Dương. Xuống phủ, huyện là văn thánh hay văn từ. Xuống làng xã là văn chỉ, nhiều khi chỉ là một nền đất có bệ thờ ngoài trời. Còn Khổng Miếu là tên gọi chung cho miếu thờ Khổng Tử, không gắn với cấp nào.

Như vậy, Văn Thánh Chiên Đàn đứng ở bậc thứ ba, là nơi thờ của một huyện. Lệ ở bậc này nhẹ hơn văn miếu tỉnh: do văn hội và sĩ phu trong huyện đứng ra lo, tiền của do người và các thôn xã góp, chứ không phải công trình do triều đình cấp.

Về người được thờ: chính điện đặt tượng Khổng Tử trong dáng người thầy đang giảng (Dân trí). Hậu điện thờ các vị tiên triết, tiền hiềntiên Nho (Việt Nam Hội nhập), tức các bậc hiền của đạo Nho, những người có công khai mở đất và những nhà Nho đi trước trong vùng. Thờ bằng tượng là nét khác với Văn Thánh Miếu Cao Lãnh, nơi Khổng Tử được thờ bằng bài vị.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều trang giới thiệu du lịch viết khu di tích có kiến trúc hơn 300 năm. Con số ấy không khớp với niên đại nào mà các nguồn nghiên cứu ghi. Văn Thánh Chiên Đàn khởi dựng năm 1840, khu ở Mỹ Thạch dựng từ năm 1963 tới năm 1970, nên tuổi của việc thờ chừng gần hai trăm năm, còn tuổi của các nếp nhà đang thấy thì ngắn hơn nhiều. Có thể con số ba trăm năm là nói về truyền thống nhà rường xứ Quảng nói chung, không phải về nơi này.

IITừ Chiên Đàn Về Mỹ Thạch

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Vĩnh Linh khảo tám văn thánh, khổng miếu ở Quảng Nam cũ: Hội An, Minh Hương, Cẩm Phô, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hà Lam và Hà Đông. Văn Thánh Hà Đông ở Chiên Đàn nằm ở phía nam của nhóm, và theo bà, các văn thánh này đều phải dời dựng, trùng tu nhiều lần. Ngôi ở Tam Kỳ là trường hợp dời từ một làng sang hẳn một làng khác và nhập với một ngôi miếu có sẵn.

  • 1840Khởi công Văn Thánh Chiên Đàn
    Tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 21, theo Nguyễn Thị Vĩnh Linh. Ban chuyên ủy gồm Tú tài Nguyễn Quang Huy, Tư lễ Nguyễn Văn Liên, Đốc đồng Nguyễn Văn Nhã.
  • 1842Xong phần thờ chính
    Báo Đà Nẵng và Việt Nam Hội nhập ghi công việc kéo dài từ năm 1840 tới năm 1842.
  • 1850Thêm hội đường
    Báo Đà Nẵng ghi văn hội dựng thêm hội đường cạnh từ vũ để sĩ tử họp bình văn. Nguyễn Thị Vĩnh Linh ghi năm Tự Đức này xong nơi thờ Tiên chính.
  • 1895Trùng tu, dựng bia gỗ
    Năm Thành Thái thứ 7. Bia gỗ ghi miếu đã hư nát, cây cỏ che lấp hàng cột, và ghi tên người cùng các thôn xã góp tiền của trùng tu.
  • Đầu thế kỷ 20Ngưng tế
    Văn Thánh ngưng tế lễ một thời gian dài.
  • 1963Dựng lại ở làng Mỹ Thạch
    Văn Thánh Chiên Đàn xuống cấp, vật liệu được đưa về làng Mỹ Thạch, xã Kỳ Hương xưa, dựng lại trên nền một Khổng Miếu nhỏ có sẵn, trên đất công của làng.
  • 1970Hoàn thành khu mới
    Công việc dựng lại kéo dài bảy năm, xong vào tháng 7 năm 1970 theo Báo Đà Nẵng.
  • 2006 và 2011Xếp hạng và tế lại
    Năm 2006 được xếp hạng di tích quốc gia (Dân trí). Năm 2011 tu bổ các nhà phụ, và tháng 8 năm ấy lần đầu tổ chức lại lễ tế sau hơn nửa thế kỷ (Báo Đà Nẵng).
Theo sử liệu

Các nguồn khớp nhau về năm, nhưng không khớp về ngày tháng, xin ghi để quý vị biết.

Về lúc khởi công, Nguyễn Thị Vĩnh Linh ghi tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 21, còn các bài báo ghi mốc khởi công và mốc xong bằng ngày cụ thể nhưng không nói rõ là âm lịch hay dương lịch. Về khu mới, nguồn này ghi khởi dựng tháng 5 năm 1963, nguồn kia ghi tháng 6. Về diện tích, Dân trí ghi chừng 6.000 mét vuông, Việt Nam Hội nhập ghi 6.200 mét vuông.

Nguồn tư liệu gốc quý nhất của nơi này là bia gỗ. Theo Nguyễn Thị Vĩnh Linh, bia ghi tên người và các thôn xã đã góp tiền của, cho biết văn thánh cấp huyện sống bằng sức góp của sĩ phu và làng xã chứ không bằng ngân khố.

IIINhà Rường Xứ Quảng Trong Một Khuôn Văn Thánh

Văn Thánh Chiên Đàn thuở đầu gồm hai phần nối nhau là từ vũ, tức nhà thờ, và hội đường, tức nhà họp (Báo Đà Nẵng). Khu ở Mỹ Thạch giữ ý ấy nhưng dàn rộng ra theo lối một văn thánh đầy đủ. Điểm đáng nhìn nhất là cách người Quảng đem ngôi nhà rường quen thuộc của mình đặt vào một khuôn thờ vốn gốc Nho học.

Cổng tam quan

Cổng ba lối mở ra đường Phan Bội Châu, lớp đầu tiên tách khu thờ khỏi phố.

Hồ bán nguyệt và cầu đá

Hồ hình nửa vầng trăng trồng sen, có cầu đá vòm bắc qua (Dân trí), đặt giữa cổng và khu thờ.

Chính điện

Nhà ba gian hai chái, gỗ mít chạm trổ, cột có rồng, bờ nóc đắp lưỡng long tranh châu, góc mái trang trí mây cách điệu (Dân trí, Việt Nam Hội nhập). Đặt tượng Khổng Tử.

Hậu điện

Thờ các vị tiên triết, tiền hiền, tiên Nho, nối sau chính điện.

Gác chuông và gác trống

Hai gác đối nhau hai bên, dùng khi hành lễ.

Nhà phụ và nhà rường

Hai nhà phụ và hai nếp nhà rường được tu bổ năm 2011 (Dân trí), làm chỗ sinh hoạt văn hóa.

Báo Đà Nẵng tả các câu đối ở đây được khảm sành sứ công phu. Lối khảm mảnh sành lên chữ và hoa văn là nghề quen của miền Trung, thấy nhiều ở lăng miếu Huế. Dân trí ghi phần chạm gỗ theo tay nghề thợ Hội An. Cả hai chi tiết cùng nói một ý: đây là văn thánh của người xứ Quảng, làm bằng vật liệu và tay nghề xứ Quảng, không phải bản chép khuôn của văn miếu kinh đô.

IVThế Đất Và Hướng

Xin nói trước: hộp dưới đây là lối đọc riêng của thư viện dựa trên phong thủy cổ truyền. Các nguồn về Văn Thánh Tam Kỳ không ghi phép chọn đất hay hướng miếu, và việc chọn đất năm 1963 theo lời các bài báo là theo nền Khổng Miếu có sẵn.

Thế đất và hướng

Nơi này có một điều khác các văn miếu khác trong thư viện: đất hiện nay không được chọn theo hình thếđược chọn theo nền cũ. Khi đưa vật liệu Văn Thánh Chiên Đàn đi, người ta không tìm một gò đẹp mới mà đặt nó lên chỗ đã có một ngôi Khổng Miếu. Trong cách nghĩ cổ truyền, đó là lối chọn có lý: đất đã thờ Khổng Tử thì đã mang khí của việc ấy, dựng tiếp lên đó là nối mạch chứ không mở mạch mới.

Thứ hai là hồ bán nguyệt trước khu thờ. Hồ đặt giữa cổng và chính điện đúng vào vị trí phong thủy gọi là minh đường, khoảng trống phía trước có nước tụ. Hình nửa vầng trăng thì quen trong các đình, miếu miền Trung. Chiếc cầu đá vòm bắc qua hồ làm thêm một việc: người vào phải bước lên rồi bước xuống, đi chậm lại trước khi tới chỗ thờ. Theo lối đọc cổ, nước giữ khí ở ngoài, cầu dẫn người vào một cách có nghi thức.

Thứ ba là nhà rường ba gian hai chái. Nhà rường xứ Quảng vốn là nhà ở, thấp, mái dốc, hợp với nắng gắt và mưa bão của dải đất hẹp. Đem kiểu nhà ấy làm chính điện một văn thánh là để nơi thờ đạo học đứng vững trong khí hậu của vùng, và trong mắt người xem đất, một công trình hợp với thời tiết nơi nó đứng là công trình đã đắc địa ở mức gần nhất.

Sau cùng, xin nói thật: khu di tích nay nằm giữa phố, bốn bề là đường và nhà. Đây là thế đất đô thị. Cái còn đọc được theo lối cổ nằm trong khuôn viên, ở hồ, cầu và trục vào, chứ không nằm ở núi sông xung quanh.

VTế Xuân Thu Và Hội Xuân

Theo Nguyễn Thị Vĩnh Linh, các văn thánh Quảng Nam giữ lệ tế mỗi năm hai kỳ xuân thu. Ở Tam Kỳ, lệ ấy đứt quãng dài và chỉ được nối lại năm 2011. Chúng tôi chưa tra được ngày âm lịch cụ thể của các kỳ tế hiện nay, nên bảng chỉ ghi theo mùa.

Lệ tế theo mùa và hội xuân, ngày cụ thể chưa tra được nguồn. Nguồn: Nguyễn Thị Vĩnh Linh trên Thánh địa Việt Nam học, Báo Đà Nẵng, Việt Nam Hội nhập..
Thời điểmViệcNội dung
Mùa xuânTế xuânKỳ tế thứ nhất trong năm theo lệ văn thánh Quảng Nam, tế Khổng Tử và các bậc tiên hiền.
Mùa thuTế thuKỳ tế thứ hai, cùng nghi thức với kỳ mùa xuân.
Đầu năm âm lịchHội xuânĐêm thơ, trò chơi dân gian và các hoạt động văn hóa trong khuôn viên.
Tháng 8 năm 2011Nối lại lễ tếLần đầu tổ chức lại lễ tế sau hơn nửa thế kỷ, theo Báo Đà Nẵng.

Hội xuân ở đây nhẹ nhàng, thiên về thơ và trò chơi hơn là nghi lễ lớn. Đó cũng là nếp của một văn thánh cấp huyện: nơi sĩ phu trong vùng họp mặt đầu năm, đọc thơ, bình văn, hơn là nơi quan chủ tế theo điển lệ triều đình.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Phan Bội Châu, phường Bàn Thạch (phường Tân Thạnh cũ, thành phố Tam Kỳ cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng. Đất làng Mỹ Thạch, xã Kỳ Hương xưa
Đường tới
Nằm trên đường Phan Bội Châu, phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng, trên đất phường Tân Thạnh cũ của thành phố Tam Kỳ cũ, tỉnh Quảng Nam cũ, tức làng Mỹ Thạch xưa. Đi bộ được từ trung tâm Tam Kỳ cũ.
Toạ độ
15.5825, 108.4706
Khi tới nơi

Lệ ở đây là lệ văn thánh: dâng hương, hoa, trà trước tượng Khổng Tử, không đặt lễ mặn, không đốt vàng mã. Đi qua cầu đá thì đi chậm, không đứng tụ trên cầu. Không chạm tay vào các câu đối khảm sành và phần gỗ chạm, vì đó là lớp trang trí dễ bong nhất của di tích.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ

Contribute photos, information or video for Tam Ky Temple of Literature

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ thờ ai

Chính điện thờ tượng Khổng Tử trong dáng người thầy giảng dạy. Hậu điện thờ các vị tiên triết, tiền hiền và tiên Nho, tức các bậc hiền của đạo Nho, người có công khai mở đất và các nhà Nho đi trước trong vùng Hà Đông xưa.

Vì sao gọi là Văn Thánh Khổng Miếu

Vì khu này là hợp của hai ngôi miếu. Văn Thánh Chiên Đàn của huyện Hà Đông dựng năm 1840, tới năm 1963 vật liệu được đưa về làng Mỹ Thạch dựng lại trên nền một Khổng Miếu nhỏ có sẵn. Tên ghép giữ dấu của cả hai. Có nhà nghiên cứu đề nghị gọi là Văn Thánh Hà Đông hoặc Văn Thánh Tam Kỳ.

Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ có bao nhiêu năm tuổi

Văn Thánh Chiên Đàn khởi dựng năm 1840, khu hiện nay ở Mỹ Thạch dựng từ năm 1963 tới năm 1970. Con số hơn 300 năm mà vài trang du lịch ghi không khớp với niên đại nào trong các nguồn nghiên cứu.

Văn thánh khác văn miếu thế nào

Văn miếu là nơi thờ Khổng Tử ở kinh đô và ở cấp trấn, tỉnh. Văn thánh là nơi thờ ở cấp phủ, huyện, do văn hội và sĩ phu địa phương lo liệu. Văn chỉ là nơi thờ ở làng xã. Văn Thánh Tam Kỳ vốn là văn thánh của huyện Hà Đông xưa.

Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ được xếp hạng năm nào

Khu di tích là di tích quốc gia, Dân trí ghi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận năm 2006. Chúng tôi chưa tra được số quyết định. Năm 2011 các nhà phụ được tu bổ và lễ tế được tổ chức lại.

Đọc Tiếp