Đi dọc quốc lộ 1A qua làng Chiên Đàn, quý vị thấy ba khối gạch đứng thành hàng ngang trên một nền đất cao phía tây con đường. Ngọn giữa còn đủ thân và một tầng mái, hai ngọn hai bên chỉ còn phần thân dưới và chân. Nhưng nếu dừng lại, thứ giữ quý vị lâu nhất không phải ba ngọn tháp mà là căn nhà trưng bày ngay bên cạnh với những phù điêu vũ nữ, nhạc công, voi, sư tử và một mi cửa chạm nữ thần đang diệt quỷ trâu.
Đây là tháp Chiên Đàn, cụm đền tháp Ấn Độ Giáo của người Chăm thờ bộ ba Shiva, Vishnu và Brahma, dựng quãng thế kỷ 11 trên đất Amaravati. So với nhiều tháp Chăm khác, ba ngọn ở đây không còn nguyên. Bù lại, ba đợt khai quật đã đưa lên một kho điêu khắc đá mà ít cụm tháp nào có, và hiếm nơi nào để hiện vật ngay tại chỗ như thế.

IBộ ba Tam Vị và nữ thần Devi
Các nguồn cùng ghi ba ngọn tháp Chiên Đàn thờ bộ Tam Vị, tức Trimurti của Ấn Độ Giáo, mỗi tháp một vị gồm Shiva, Vishnu và Brahma. Chỗ phải nói thẳng là chưa có nguồn chắc chắn cho biết tháp nào thờ vị nào. Vì vậy bài này không phân vị thần cho từng tháp, dù người ta rất dễ muốn đặt Shiva vào ngọn giữa lớn nhất.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, ba quyền năng lớn của thế giới là sinh, giữ và hủy, ứng với Brahma, Vishnu và Shiva. Ở vương quốc Chăm Pa, Shiva thường được tôn cao nhất, hai vị kia hiện diện như phương diện của ngài. Phần giảng kỹ về bộ ba này đã có trong bài Mỹ Sơn.
Chiên Đàn có thêm một gương mặt đáng chú ý là Mahishasuramardini, tức nữ thần Devi (một hóa thân của nữ thần Uma) trong dạng diệt quỷ trâu Mahishasura. Trong thần thoại Ấn Độ, khi các vị thần không ai thắng nổi con quỷ mang hình trâu, năng lực của họ hợp lại thành một nữ thần nhiều tay cầm vũ khí, và nàng hạ được nó. Hình ảnh ấy chạm trên một mi cửa sa thạch tìm thấy tại Chiên Đàn năm 1989, thể hiện nữ thần sáu tay đạp trên lưng trâu, hai tay trên chắp lại trên đầu, bốn tay còn lại cầm cung, tên, đinh ba và vòng. Tại khu vực tháp Nam còn tìm thấy một tấm lá nhĩ thể hiện nữ thần Uma sáu tay đứng trên lưng bò, hai bên có hai người cầu nguyện.
Về sử liệu, Chiên Đàn có một văn bản gốc là tấm bia đá khắc tám dòng chữ Phạn tìm thấy giữa năm 1997 (có tư liệu nghiên cứu gắn mảnh văn khắc chữ Phạn ở đây với ký hiệu C.64 thuộc thế kỷ 11). Các bản giới thiệu công khai chưa chép đầy đủ nội dung bia, nên thư viện chưa thể dựa vào nó để định vị thần cho từng tháp. Những điều biết được về việc thờ tự ở đây phần lớn đến từ điêu khắc, gồm tượng thần, mi cửa, hai bàn thờ tròn chạm hai tầng cánh sen và bệ thờ linga cùng yoni hiện bày ngoài trời.
Có một chỗ hay hiểu lầm. Thấy nữ thần nhiều tay trên mi cửa, không ít người đoán đó là một nữ thần riêng của người Chăm hay một bà hoàng được thần hóa. Không phải. Đó là Devi trong dạng Mahishasuramardini, một vị nữ thần của Ấn Độ Giáo được thờ rộng khắp Nam Á và Đông Nam Á. Người Chăm tiếp nhận hình tượng ấy cùng với cả hệ thần Ấn Độ, rồi tạc theo lối riêng của mình.
IIBa đợt đào và một kho đá
Không bia nào còn đọc được ghi năm dựng Chiên Đàn, nên niên đại dựa vào phong cách. Tạp chí Thế giới Di sản nhận định giống như các cụm ba tháp Khương Mỹ, Dương Long, Hưng Thạnh và Hòa Lai, tại Chiên Đàn tháp Nam được dựng trước, tiếp theo là tháp Giữa và sau cùng là tháp Bắc. Phần lịch sử được biết rõ nhất lại là lịch sử gần, khi ba đợt khai quật cuối thế kỷ 20 đổi cụm tháp này từ một di tích đổ nát thành một trong những nơi giữ nhiều điêu khắc Chăm nhất.
- Thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 12Dựng cụm ba thápNiên đại định theo phong cách kiến trúc và điêu khắc, không theo bia. Có nguồn đẩy sớm hơn về cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11, có bài dẫn niên đại đầu thế kỷ 12 dưới triều vua Harivarman V (1113 tới 1139).
- 1989Di tích quốc gia và khai quật đợt đầuCụm tháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 100-VH/QĐ ngày 21 tháng 1 năm 1989. Cùng năm, đợt khai quật làm lộ chân tháp chuẩn bị trùng tu đã phát hiện hệ thống trang trí chân tường, mi cửa chạm Mahishasuramardini cùng hàng trăm tác phẩm điêu khắc sa thạch.
- 1997Tìm bia chữ PhạnGiữa năm 1997 tìm được một tảng đá lớn mài bằng một mặt, khắc tám dòng chữ Phạn (Sanskrit), văn bản gốc hiếm hoi của cụm tháp.
- 2000Khai quật đợt ba và phát lộ nền mandapaCuối năm 2000, trong đợt tôn tạo cảnh quan phía trước tháp Giữa, các nhà khảo cổ phát hiện nền móng ngôi nhà dài (mandapa) ở độ sâu khoảng 1 mét, tiếp về phía Đông có dấu vết tháp cổng (gopura), cùng khoảng 100 hiện vật sa thạch gồm tượng nam thần, nữ thần, Kinnara, tu sĩ Bàlamôn, vũ công và linh vật.
- Sau các đợt khai quậtLập nhà trưng bày tại chỗHiện vật được bảo quản tại nhà trưng bày ngay cạnh khu tháp, bệ thờ linga và yoni đặt ngoài trời.
Ba chỗ nguồn ghi vênh nhau, thư viện ghi đủ cả ba.
Niên đại. Trang của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ghi khoảng cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11. Tạp chí Thế giới Di sản và nhiều bài khác ghi thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 12 (điêu khắc kéo dài khoảng một thế kỷ từ cuối thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 12), còn Báo Văn Hóa ghi đầu thế kỷ 12 dưới triều Harivarman V. Tất cả đều là định niên theo phong cách và tiến hóa điêu khắc.
Số hiện vật. Tạp chí Thế giới Di sản ghi đợt năm 1989 phát hiện hàng trăm tác phẩm điêu khắc sa thạch và đợt cuối năm 2000 tìm thấy khoảng một trăm hiện vật nữa cùng nhiều mảnh vỡ. Một số bài giới thiệu tóm lược lại gộp chung thành hơn một trăm hiện vật.
Địa danh. Nhiều bài cũ ghi tháp thuộc xã Tam An, thị xã Tam Kỳ (trước khi huyện Phú Ninh tách ra năm 2005). Theo sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, xã Tam An cũ nhập với Tam Thành, Tam Phước và Tam Lộc thành xã Tây Hồ thuộc thành phố Đà Nẵng, còn tên Chiên Đàn được đặt cho xã mới giáp ranh ở phía nam (sáp nhập từ thị trấn Phú Thịnh, Tam Đàn và Tam Thái).
IIIChân tháp đá và thân tháp trơn
Ba tháp cùng một kiểu, đế vuông, mái là các tầng thu nhỏ dần lên trên, đứng song song theo trục bắc nam, cửa chính quay về hướng Đông. Mỗi tháp có một cửa ra vào và ba cửa giả. Tháp Giữa lớn nhất và còn giữ được phần thân cùng một tầng mái (chóp tháp bằng sa thạch gồm hai thớt bát giác chạm mặt Kala rơi ngay sau tháp), tháp Nam cỡ vừa và tháp Bắc nhỏ nhất nay đã sụp mất phần mái.
Nét nhận ra Chiên Đàn là sự tương phản giữa hai phần. Chân tháp ốp những thớt đá sa thạch lớn chạm khắc dày, còn thân tháp gạch gần như để trơn, chỉ tạo khối bằng các trụ ốp và đường gờ dọc. Mắt người xem vì thế bị kéo xuống sát mặt đất, nơi các hình người và thú chạy thành dải quanh chân tháp.
Những thớt sa thạch lớn ghép quanh chân tháp, chạm chiến sĩ cầm vũ khí đang múa, vũ nữ apsara, nhạc công, đầu thủy quái Makara và mặt Kala. Ở mặt bắc của tháp Giữa có phù điêu chạm đôi voi quay đầu vào nhau, giữa là một cụm hoa lá sen.
Không chạm hoa văn trên mặt gạch, khác hẳn những tháp cổ hơn như Khương Mỹ vốn phủ hoa văn trên tường. Trên đường diềm mái bằng sa thạch có chạm dãy mặt Kala.
Mỗi tháp có ba cửa giả và một cửa thật, vòm cửa không bè ra mà co lại rồi vuốt nhọn lên như hình mũi giáo, một nét của lớp kiến trúc chuyển sang giai đoạn muộn.
Tympanum bằng sa thạch chạm nữ thần Devi sáu tay đạp lưng trâu diệt quỷ Mahishasura, tìm thấy năm 1989.
Tảng đá lớn mài phẳng một mặt khắc tám dòng cổ tự Sanskrit, tìm thấy giữa năm 1997.
Hai bàn thờ tròn chạm hai tầng cánh sen (mỗi tầng tám cánh) trong nhà trưng bày, cùng bệ thờ linga và yoni đặt ngoài trời.
Hai thang phong cách cho một cụm tháp
Người đọc sách về Chiên Đàn hay gặp hai tên phong cách và dễ rối. Phần điêu khắc khai quật được xếp vào phong cách Chánh Lộ, thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 12 (giai đoạn sớm cuối thế kỷ 10 còn giữ nét Trà Kiệu, giai đoạn muộn cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 đã chớm nét Tháp Mẫm với hình Gajasimha và cánh sen vểnh nhọn). Phần kiến trúc lại được coi là chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định. Hai tên không mâu thuẫn, vì giới nghiên cứu xếp kiến trúc và điêu khắc Chăm Pa theo hai thang khác nhau. Phong cách Bình Định có phần giới thiệu kỹ ở bài về tháp Bánh Ít. Muốn thấy phong cách Mỹ Sơn A1 ở gốc, quý vị xem bài Mỹ Sơn.
IVThế đất và hướng
Người Chăm đặt Chiên Đàn theo lệ của đền tháp Ấn Độ Giáo, ba kalan dựng trên gò đất cao, cửa chính quay về phía mặt trời mọc, khu đền được hiểu như ngọn núi thiêng giữa đất đai có nước nuôi dưỡng. Lệ ấy không có gì dính tới phong thủy. Mục này là cách thư viện đọc lại nơi ấy bằng con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, đặt bên cạnh lệ Chăm cho bạn đọc tiện so, không phải điều chép trong bia hay trong tư liệu nào của cụm tháp.
Trước hết là nền cao giữa đồng. Ba tháp đứng trên một gò đất nhô hơn chung quanh, trong vùng đồng bằng phía nam xứ Quảng. Người Việt xem đất sẽ gọi đây là thế bình dương, đất bằng lấy chỗ nổi làm chỗ dựa thay cho núi. Người Chăm thì không cần núi ở ngoài, vì mỗi khối tháp đã là một ngọn núi vũ trụ (Meru).
Thứ hai là trục bắc nam và mặt Đông. Ba tháp xếp theo trục bắc nam, cùng mở cửa về Đông, phía trước tháp Giữa xưa có nhà dài mandapa và tháp cổng gopura nối tiếp về phía Đông. Theo phép cũ, khoảng đất trống trước mặt công trình gọi là minh đường, càng thoáng càng tốt. Theo lệ Ấn Độ, trục phía Đông là lối cho ánh sáng đầu ngày đi qua cổng và tiền đường vào tới vật thờ. Một bên nói chuyện khí, một bên nói chuyện ánh sáng, và hai chuyện ấy không nên gộp làm một.
Thứ ba là chỗ đứng bên đường lớn. Tháp nằm sát phía tây quốc lộ 1A, con đường chạy theo đúng trục bắc nam như chính ba tháp. Sự song song ấy là trùng hợp của địa hình dải đất hẹp miền Trung, không phải điều người dựng tháp tính. Nhưng nó làm cho Chiên Đàn thành một trong những tháp Chăm dễ gặp nhất với người đi đường.
Cuối cùng là ba ngọn không đều. Theo lối xem cũ, bộ ba có ngọn giữa cao là thế chủ, hai bên là thế phò. Ở Chiên Đàn thì ngọn Bắc nhỏ hơn ngọn Nam, nên cụm không cân hẳn. Thư viện chỉ ghi nhận hình thế ấy, không suy ra thứ bậc giữa ba vị thần, vì chưa biết tháp nào thờ vị nào.
VNghi thức đọc lại từ điêu khắc
Tại Chiên Đàn hiện không còn cộng đồng người Chăm làm lễ. Những đền tháp mà người Chăm Bàlamôn còn mở cửa làm lễ Katê hằng năm nằm ở vùng nam Trung Bộ, như tháp Po Klong Garai. Bảng dưới không phải lịch lễ, mà là những nghi thức đọc ra được từ chính kho điêu khắc của Chiên Đàn.
| Nghi thức | Nội dung | Dấu vết tại Chiên Đàn |
|---|---|---|
| Tắm linga | Chủ tế rót nước, sữa hoặc dầu thơm lên linga, nước chảy qua rãnh yoni ra ngoài. | Bệ thờ linga và yoni bày ngoài trời trong khu di tích. |
| Nhạc và múa dâng thần | Âm nhạc và điệu múa là một phần của việc cúng, do người của đền đảm nhận. | Phù điêu vũ nữ apsara, chiến sĩ múa và nhạc công chạy quanh chân tháp đá. |
| Thờ nữ thần Devi | Tôn vinh năng lực của các vị thần hợp lại trong một nữ thần. | Mi cửa chạm Mahishasuramardini tìm năm 1989 và lá nhĩ chạm Uma ở tháp Nam. |
| Kể sử thi qua đá | Các tích trong sử thi được chạm để người đi quanh đền đọc theo. | Những cảnh lấy cảm hứng từ sử thi Ramayana trên chân tháp và hiện vật khai quật. |
| Tụ họp trước khi vào lễ | Người dự lễ sửa soạn và chờ ở một nhà dài trước khi vào đền. | Nền nhà dài mandapa phía trước tháp Giữa phát lộ cuối năm 2000. |
| Dâng cúng và khắc bia | Việc dựng và dâng đền được ghi lại bằng chữ trên đá. | Bia tám dòng chữ Phạn tìm năm 1997. |
Muốn thấy một cụm ba tháp cổ hơn chừng hai thế kỷ mà còn giữ hoa văn trên thân, quý vị xem bài tháp Khương Mỹ, cách đây chừng 10 cây số về phía đông nam. Còn cách Chiên Đàn chừng 4,8 cây số là Văn Thánh Khổng Miếu Tam Kỳ, một nơi thờ Nho giáo của người Việt, có lễ tế theo lịch riêng. Hai nơi gần nhau nhưng thuộc hai truyền thống khác hẳn, và quý vị nên đọc riêng từng nơi.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Chiên Đàn, xã Tây Hồ (xã Tam An cũ, huyện Phú Ninh cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng, phía tây quốc lộ 1A. Nghị quyết sắp xếp năm 2025 gộp Tam An, Tam Thành, Tam Phước và Tam Lộc thành xã Tây Hồ, nhưng trang của thành phố về xã Chiên Đàn mới lại liệt tháp vào thắng cảnh của xã Chiên Đàn
- Đường tới
- Làng Chiên Đàn, xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng, trước là xã Tam An cũ, huyện Phú Ninh cũ, tỉnh Quảng Nam cũ, nằm sát phía tây quốc lộ 1A. Cách Văn Thánh Tam Kỳ chừng 4,8 cây số, cách tháp Khương Mỹ chừng 10 cây số, cách Phật viện Đồng Dương chừng 17 cây số.
- Toạ độ
- 15.6158, 108.4425
Đây là di tích kiến trúc và khảo cổ, lệ của nơi này là lệ giữ đá. Không chạm tay lên phù điêu ở chân tháp và trong nhà trưng bày, vì mặt sa thạch đã mủn. Không trèo lên phần chân của hai tháp bên, không đặt đồ lên bệ linga và yoni ngoài trời. Việc chụp ảnh trong nhà trưng bày tùy quy định từng lúc, xin hỏi người trông coi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Chiên Đàn
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Chiên Đàn thờ ai
Ba tháp thờ bộ Tam Vị của Ấn Độ Giáo là Shiva, Vishnu và Brahma, mỗi tháp một vị. Chưa có nguồn chắc chắn cho biết tháp nào thờ vị nào. Ngoài ra, mi cửa chạm nữ thần Devi diệt quỷ trâu tìm được năm 1989 và lá nhĩ chạm nữ thần Uma ở tháp Nam cho thấy nữ thần này cũng có chỗ trong việc thờ tự ở đây.
Tháp Chiên Đàn xây năm nào
Không có bia ghi năm dựng, niên đại định theo phong cách và các nguồn còn vênh. Trang của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ghi cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11, Tạp chí Thế giới Di sản ghi thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 12, còn Báo Văn Hóa ghi đầu thế kỷ 12 dưới triều vua Harivarman V.
Tháp Chiên Đàn có gì đặc biệt
Giá trị lớn nhất nằm ở kho điêu khắc đá từ ba đợt khai quật năm 1989, 1997 và 2000, gồm mi cửa nữ thần Devi diệt quỷ trâu, bia tám dòng chữ Phạn, hai bàn thờ tròn chạm hoa sen, nền nhà dài mandapa cùng hàng trăm phù điêu vũ nữ, nhạc công, chiến sĩ và linh vật bày ngay cạnh tháp.
Tháp Chiên Đàn thuộc phong cách nào
Phần điêu khắc được xếp vào phong cách Chánh Lộ, thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 12. Phần kiến trúc được coi là chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định, nhận ra qua chân tháp đá chạm dày, thân tháp gạch để trơn và cửa giả vòm nhọn hình mũi giáo.
Tháp Chiên Đàn và tháp Khương Mỹ khác nhau thế nào
Cả hai đều là cụm ba tháp Chăm ở phía nam xứ Quảng, cách nhau chừng 10 cây số. Khương Mỹ cổ hơn chừng hai thế kỷ, giá trị nằm ở hoa văn chữ S cuộn trên thân tháp. Chiên Đàn muộn hơn, thân tháp gạch để trơn, giá trị nằm ở kho điêu khắc đá sa thạch khai quật quanh chân tháp.