ITổng Quan
Thờ tổ dòng họ là cấp thứ hai của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, rộng hơn một nhà và hẹp hơn một làng. Đơn vị của nó là họ, tức mọi người cùng một ông tổ theo dòng cha.
Cấp này có ba thứ mà cấp gia đình không có: một ngôi nhà riêng để thờ là từ đường 祠堂, một cuốn sổ ghi các đời là gia phả 家譜, và một người đứng đầu là trưởng tộc. Ngày xưa còn có thứ tư là ruộng hương hỏa, phần tài sản chung dùng nuôi việc thờ.
Người trong họ về từ đường vào ngày giỗ tổ, ngày tế xuân thu, dịp Tết và dịp chạp mả. Ngoài việc thờ, từ đường còn là chỗ cả họ bàn việc chung, khen thưởng con cháu học giỏi và hòa giải chuyện trong nhà.
IILịch Sử Hình Thành
Tổ chức dòng họ theo dòng cha đã có ở Việt Nam từ lâu, nhưng khuôn từ đường, gia phả và trưởng tộc như ta biết hôm nay mang dấu Nho Giáo rất đậm. Khi Nho học thành nền của nhà nước quân chủ, việc lập họ, ghi phả, tế tổ được khuyến khích và được luật bảo hộ.
Quốc triều hình luật thời Lê, quen gọi là luật Hồng Đức, có điều khoản về ruộng hương hỏa: phần ruộng này để lo việc thờ cúng và không được chia bán như tài sản thường. Nhờ vậy nhiều họ nuôi được từ đường qua nhiều đời.
Thế kỷ 20 là thời đứt gãy. Chiến tranh, di cư và những thay đổi về đất đai làm nhiều từ đường hư hỏng hoặc bỏ không, nhiều cuốn gia phả cháy hoặc thất lạc. Từ cuối thế kỷ 20, việc dựng lại từ đường và chắp nối gia phả hồi phục mạnh.
- Thời Lê sơLuật hóa ruộng hương hỏaQuốc triều hình luật đặt điều khoản riêng cho phần tài sản dùng vào việc thờ cúng tổ tiên.
- Thế kỷ 20Đứt gãyNhiều từ đường xuống cấp, nhiều gia phả mất trong chiến tranh và di chuyển.
- Cuối thế kỷ 20 tới nayHồi phụcDựng lại từ đường, dịch gia phả chữ Hán ra quốc ngữ, lập ban liên lạc họ ở trong nước và hải ngoại.
IIINiềm Tin Và Điểm Riêng
Cấp dòng họ giữ cái lõi chung là sự tử như sự sinh và mối nối hai chiều giữa tổ tiên với con cháu. Điểm riêng là nó nối những người không còn quen mặt nhau. Hai người cùng họ ở hai tỉnh, chưa gặp bao giờ, nhận ra nhau qua cuốn phả và qua ông tổ chung.
Ý niệm phúc đức là của chung một dòng thể hiện rõ nhất ở cấp này. Một người đỗ đạt được coi là làm rạng danh cả họ, một người làm điều xấu được coi là làm nhục cả họ.
Lời dặn quen thuộc trong các cuốn phả là cây có cội, nước có nguồn, và con cháu phải biết mình đứng ở đời thứ mấy. Nhiều họ chép gia huấn, tức lời răn của tổ tiên, ngay đầu cuốn phả để đọc trong ngày giỗ tổ.
IVTừ Đường, Gia Phả Và Ngày Giỗ Họ
Từ đường thường là nhà ba gian hoặc năm gian. Gian giữa đặt khám thờ có bài vị thủy tổ, hai bên thờ các chi. Nhiều từ đường còn giữ hoành phi, câu đối, sắc phong và sự tích tiền nhân.
Gia phả ghi theo thứ tự các đời: tên húy, tên chữ, ngày mất, nơi mộ táng, vợ chồng con cái. Về mặt thực dụng, đây là cuốn lịch giỗ của cả họ. Về mặt sử liệu, nhiều cuốn phả cổ đã được giới nghiên cứu dùng để tìm hiểu làng xã và di dân.
| Dịp | Việc thường làm |
|---|---|
| Giỗ tổ họ | Cả họ tụ về từ đường, trưởng tộc chủ tế, sau lễ là bữa cỗ chung. Ngày do từng họ định. |
| Tế xuân, tế thu | Nhiều họ giữ hai kỳ tế trong năm theo lối xuân thu nhị kỳ. |
| Tết Nguyên Đán | Con cháu về từ đường thắp hương trước khi đi chúc Tết họ hàng. |
| Thanh Minh, chạp mả | Cả họ đi sửa sang mộ tổ, mộ các chi. |
| Họp họ | Bàn việc tu sửa từ đường, quỹ họ, khuyến học, ghi bổ sung gia phả. |
Không. Nhiều họ nhỏ hoặc họ mới di cư không có từ đường, việc thờ tổ đặt ở nhà người trưởng tộc. Có từ đường hay không phụ thuộc vào số người, của cải và lịch sử của từng họ.
VTrưởng Tộc, Chi Phái Và Hội Đồng Gia Tộc
Trưởng tộc theo lệ là con trưởng của chi trưởng, nối đời từ ông tổ. Người này giữ việc chủ tế, giữ gia phả và trông nom từ đường. Họ đông thì chia thành các chi, phái, mỗi chi có trưởng chi riêng.
Ngày nay nhiều họ lập thêm hội đồng gia tộc hoặc ban liên lạc, có trưởng ban, thủ quỹ, thư ký. Trưởng tộc giữ vai lễ nghi, còn ban liên lạc lo việc chung như quỹ họ, sửa từ đường, trao thưởng khuyến học. Ở tầm rộng hơn có các hội theo họ như Hội đồng họ Nguyễn Việt Nam, nhưng đó là tổ chức của từng họ, không phải một tổ chức chung cho việc thờ tổ.
Nghiên cứu của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An ghi nhận làng ở Hội An thường có nhiều họ cùng sống, khác kiểu làng một họ hay gặp ở Bắc Bộ. Các họ Việt ở đây thường dùng chung một chữ lót cho cả họ, còn các họ Hoa đặt chữ lót theo một bài thơ, mỗi đời một chữ, để biết ai thuộc đời nào.
VINgày Nay
Việc thờ tổ dòng họ đang hồi phục rõ. Nhiều họ quyên góp dựng lại từ đường, mời người biết chữ Hán dịch gia phả cổ ra quốc ngữ, rồi in thành sách. Gia phả nay được đánh máy, dựng sơ đồ, đưa lên nhóm trực tuyến để con cháu ở xa tra cứu.
Người Việt ở nước ngoài cũng tìm về. Có người lần đầu về quê dự giỗ tổ, có người góp tiền sửa từ đường, có họ lập chi ở hải ngoại và ghi thêm các đời sinh ở nước ngoài vào phả.
Một số từ đường có giá trị kiến trúc hay lịch sử đã được xếp hạng di tích. Ví dụ nhà thờ tiền hiền làng Hiền Lương, gắn với năm họ lập làng, được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh ngày 20 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định số 1341 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Bài vị thủy tổ
牌位
VIIICác Nhánh Khác Của Thờ Cúng Tổ Tiên
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Từ đường và nhà thờ họ khác nhau không?
Là một. Từ đường 祠堂 là chữ Hán, nhà thờ họ là cách gọi thường. Ở miền Trung còn gặp chữ nhà thờ tộc. Họ đông có thể có thêm nhà thờ chi bên cạnh từ đường chung của cả họ.
Ai được làm trưởng tộc?
Theo lệ cũ là con trai trưởng của chi trưởng, nối đời từ ông tổ. Khi dòng trưởng không còn người hoặc người ấy ở xa, họ có thể bàn cử người khác. Việc điều hành thực tế ngày nay thường do hội đồng gia tộc hay ban liên lạc lo.
Mất gia phả thì làm sao nối lại?
Các họ thường dò từ bia mộ, sắc phong, câu đối trong từ đường, sổ sách ở đình làng và trí nhớ của người già. Nhiều họ còn liên hệ với các chi đã di cư để đối chiếu bản phả họ giữ. Phần không chắc nên ghi rõ là chưa xác minh.