ITổng Quan
Ở nhiều làng Việt, nhất là ở miền Trung và Nam Bộ, dân làng thờ những người đầu tiên đến khai phá, lập làng. Họ được gọi là tiền hiền, khai canh 開耕 hay khai khẩn 開墾, và được thờ như tổ tiên chung của cả cộng đồng.
Đây là cấp làng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nằm giữa dòng họ và quốc gia. Người được thờ có thể thuộc một họ cụ thể, nhưng người cúng là cả làng, gồm cả những họ không có quan hệ máu mủ với vị ấy. Công lao mở đất đã biến một ông tổ của một họ thành ông tổ của một cộng đồng.
Việc thờ thường đặt ở đình làng, bên cạnh thần Thành hoàng, hoặc ở một nhà thờ tiền hiền riêng.
IILịch Sử Hình Thành
Tục này gắn chặt với con đường Nam tiến. Mỗi lần người Việt lập làng trên đất mới, những người đi đầu, thường là vài gia đình hay vài họ, được con cháu và người đến sau ghi công. Họ không phải thần, cũng không phải vua, mà là người thật có tên có họ, có khi còn mộ phần.
Ở Quảng Nam, nhiều làng kể nguồn gốc từ thế kỷ 15. Ví dụ làng Hiền Lương, xưa tên Đăng Lương, do năm họ lập nên, và theo Báo Đà Nẵng, tiền hiền họ Nguyễn Đình là ông Nguyễn Đại Lang, người theo vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành rồi ở lại lập nghiệp. Ở Nam Bộ, làng hình thành muộn hơn, từ thế kỷ 17 tới 19.
Theo bài nghiên cứu đăng trên Văn nghệ Huế, trước thời Duy Tân (1907 tới 1916), việc thờ khai canh, khai khẩn ở các làng vùng Huế là việc riêng của làng. Từ thời Duy Tân, triều Nguyễn bắt đầu ban sắc phong cho các vị này, đưa họ vào hệ thống thần được nhà nước công nhận.
- Thế kỷ 15Lập làng ở Quảng NamNhiều làng như Đăng Lương, sau là Hiền Lương, kể gốc từ những người đi theo các cuộc chinh phạt thời Lê Thánh Tông.
- Thế kỷ 17 tới 19Lập làng ở Nam BộNgười khẩn hoang lập ấp, sau được thờ làm tiền hiền ở đình.
- 1907 tới 1916Sắc phong thời Duy TânTriều Nguyễn bắt đầu ban sắc cho các vị khai canh, khai khẩn ở vùng Huế.
- 2018Xếp hạng di tíchNgày 20 tháng 4, nhà thờ tiền hiền làng Hiền Lương được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định 1341 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
IIITên Gọi Và Điểm Riêng
Các tên gọi không thống nhất giữa các vùng. Ở vùng Huế, khai canh thường chỉ những người đến trước, khai khẩn chỉ những người đến sau mở rộng ruộng đất. Ở Quảng Nam và Đà Nẵng, cặp từ quen dùng là tiền hiền và hậu hiền. Báo Đà Nẵng ghi ba lối hiểu: tiền hiền là người lập làng, còn hậu hiền có thể là người dựng đình chùa, người mở mang ruộng đất, hoặc người lập lại làng khi làng cũ bị xiêu tán.
Điểm riêng quan trọng: tiền hiền và hậu hiền thường thuộc những họ khác nhau. Làng thờ họ vì công chứ không vì huyết thống.
Người trong làng nói về các vị này bằng câu uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đất đang cày là đất các vị mở, nên cúng các vị là trả ơn, giống như con cháu cúng ông bà.
Hai vị khác nhau. Thành hoàng là vị thần bảo hộ làng, có thể là thần núi sông, danh nhân hay người có công với nước, thường do triều đình ban sắc. Tiền hiền là người thật đã mở đất lập làng. Ở nhiều đình, hai vị cùng được thờ nhưng ở hai vị trí khác nhau. Có nơi một vị tiền hiền về sau được sắc phong và thờ như Thành hoàng.
IVNơi Thờ Và Lễ Tế
Ở Quảng Nam và Đà Nẵng, theo lệ cổ, bàn thờ Thành hoàng đặt ở chính điện, bàn thờ tiền hiền và hậu hiền đặt hai bên. Nhiều làng còn có nhà thờ tiền hiền riêng, dựng theo lối nhà rường ba gian hai chái. Ở Nam Bộ, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp, đình có bàn thờ tiền hiền, hậu hiền bên cạnh các bàn Hội đồng, Tả ban, Hữu ban.
| Vùng | Tên gọi quen | Nơi thờ | Dịp tế |
|---|---|---|---|
| Huế | Khai canh, khai khẩn | Đình, miếu, nhà thờ làng | Tế xuân, tế thu |
| Quảng Nam, Đà Nẵng | Tiền hiền, hậu hiền | Nhà thờ tiền hiền, hai bên chính điện đình | Lễ Kỳ Yên, xuân kỳ thu tế, lễ đầu năm |
| Nam Bộ | Tiền hiền, hậu hiền | Bàn thờ trong đình | Lễ Kỳ Yên đầu mùa mưa, thu tế cuối mùa mưa |
Ngày tế do từng làng định. Ví dụ theo Báo Đà Nẵng, làng Hiền Lương tế tiền hiền vào mùng bảy tháng Giêng. Ở Nam Bộ, lễ Kỳ Yên của đình là dịp lớn nhất, trong đó các vị tiền hiền, hậu hiền được dâng lễ cùng thần Thành hoàng.
VTổ Chức Và Phân Bố
Việc tế do ban quý tế đình làng lo, ở miền Nam còn gọi là ban hội hương. Với nhà thờ tiền hiền riêng, hội đồng các tộc họ lập làng thường cùng đứng ra. Không có tổ chức cấp cao hơn làng.
Tục này rõ nhất ở miền Trung và Nam Bộ, nơi lịch sử lập làng còn gần và còn được ghi trong gia phả, bia đá, sắc phong. Một ví dụ ở Nam Bộ là ông Nguyễn Tú, được Báo Cần Thơ giới thiệu là người gốc Quy Nhơn lập làng Mỹ Trà, nay thuộc Đồng Tháp. Bia Tiền Hiền ở Mỹ Trà đã được tỉnh Đồng Tháp xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
VINgày Nay
Nhiều đình và nhà thờ tiền hiền được tu bổ, một số được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Lễ Kỳ Yên ở đình Nam Bộ vẫn giữ được, có nơi thành dịp hội làng lớn.
Đô thị hóa đặt ra câu hỏi mới. Khi làng thành phường và người đến ở không còn gốc gác trong làng, việc thờ tiền hiền dễ chỉ còn là việc của vài họ lâu đời. Ngược lại, ở nhiều nơi, chính việc tế tiền hiền lại là dịp để người gốc làng ở xa tìm về.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.
VIIICác Nhánh Khác Của Thờ Cúng Tổ Tiên
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tiền hiền và hậu hiền khác nhau thế nào?
Tiền hiền là người đầu tiên đến khai phá, lập làng. Hậu hiền là người đến sau có công, như mở mang ruộng đất, dựng đình chùa, hoặc lập lại làng khi làng cũ tan. Hai nhóm thường thuộc các họ khác nhau.
Khai canh và khai khẩn khác nhau thế nào?
Theo cách dùng ở vùng Huế, khai canh chỉ những người đến trước mở đất, khai khẩn chỉ những người đến sau mở rộng. Cách dùng không thống nhất giữa các làng, có nơi dùng hai từ như nhau.
Có phải làng nào cũng thờ tiền hiền không?
Không. Tục này rõ nhất ở miền Trung và Nam Bộ, nơi lịch sử lập làng còn được ghi lại. Ở nhiều làng Bắc Bộ, việc thờ tập trung vào Thành hoàng, còn người lập làng có khi được thờ ở nhà thờ họ.