VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm

Hành lễ tại Vạn Đạo Đường

Tín ngưỡng ViệtThờ Cúng Tổ Tiên

Mỗi máy một lượt ở mỗi khám, nghỉ 3 phút rồi mới làm tiếp. Làm khi lòng thật muốn.

Ba nén lớn cháy theo giờ Việt Nam, dù bạn ở múi giờ nào.

···lượt thành tâm
Mốc kế tiếp
· Hôm nay· Tuần này· Đang cháy

Vào Chính Điện, đủ 19 khám
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thờ Tiền Hiền, Khai Canh Ở Làng: Những Người Mở Đất Được Thờ Như Tổ Tiên Chung

Tiền hiền, hậu hiền, khai canh 開耕, khai khẩn 開墾

Người lập làng thường thuộc một họ, nhưng cả làng thờ họ như tổ tiên của mình. Đó là lúc việc thờ tổ vượt ra khỏi dòng máu để thành việc của một cộng đồng.

Khởi lập
Gắn với việc lập làng trên đường Nam tiến, rõ nhất từ thế kỷ 15 trở đi ở miền Trung và từ thế kỷ 17 ở Nam Bộ.
Vùng
Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Nam Bộ, có ở nhiều nơi khác.
Số tín đồ
Chưa có số liệu đáng tin về số đình hay nhà thờ tiền hiền.
Tại Việt Nam
Ban quý tế đình làng hoặc hội đồng tộc họ lo việc tế.

ITổng Quan

Ở nhiều làng Việt, nhất là ở miền Trung và Nam Bộ, dân làng thờ những người đầu tiên đến khai phá, lập làng. Họ được gọi là tiền hiền, khai canh 開耕 hay khai khẩn 開墾, và được thờ như tổ tiên chung của cả cộng đồng.

Đây là cấp làng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nằm giữa dòng họ và quốc gia. Người được thờ có thể thuộc một họ cụ thể, nhưng người cúng là cả làng, gồm cả những họ không có quan hệ máu mủ với vị ấy. Công lao mở đất đã biến một ông tổ của một họ thành ông tổ của một cộng đồng.

Việc thờ thường đặt ở đình làng, bên cạnh thần Thành hoàng, hoặc ở một nhà thờ tiền hiền riêng.

IILịch Sử Hình Thành

Tục này gắn chặt với con đường Nam tiến. Mỗi lần người Việt lập làng trên đất mới, những người đi đầu, thường là vài gia đình hay vài họ, được con cháu và người đến sau ghi công. Họ không phải thần, cũng không phải vua, mà là người thật có tên có họ, có khi còn mộ phần.

Ở Quảng Nam, nhiều làng kể nguồn gốc từ thế kỷ 15. Ví dụ làng Hiền Lương, xưa tên Đăng Lương, do năm họ lập nên, và theo Báo Đà Nẵng, tiền hiền họ Nguyễn Đình là ông Nguyễn Đại Lang, người theo vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành rồi ở lại lập nghiệp. Ở Nam Bộ, làng hình thành muộn hơn, từ thế kỷ 17 tới 19.

Theo sử liệu

Theo bài nghiên cứu đăng trên Văn nghệ Huế, trước thời Duy Tân (1907 tới 1916), việc thờ khai canh, khai khẩn ở các làng vùng Huế là việc riêng của làng. Từ thời Duy Tân, triều Nguyễn bắt đầu ban sắc phong cho các vị này, đưa họ vào hệ thống thần được nhà nước công nhận.

  • Thế kỷ 15Lập làng ở Quảng Nam
    Nhiều làng như Đăng Lương, sau là Hiền Lương, kể gốc từ những người đi theo các cuộc chinh phạt thời Lê Thánh Tông.
  • Thế kỷ 17 tới 19Lập làng ở Nam Bộ
    Người khẩn hoang lập ấp, sau được thờ làm tiền hiền ở đình.
  • 1907 tới 1916Sắc phong thời Duy Tân
    Triều Nguyễn bắt đầu ban sắc cho các vị khai canh, khai khẩn ở vùng Huế.
  • 2018Xếp hạng di tích
    Ngày 20 tháng 4, nhà thờ tiền hiền làng Hiền Lương được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định 1341 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.

IIITên Gọi Và Điểm Riêng

Các tên gọi không thống nhất giữa các vùng. Ở vùng Huế, khai canh thường chỉ những người đến trước, khai khẩn chỉ những người đến sau mở rộng ruộng đất. Ở Quảng Nam và Đà Nẵng, cặp từ quen dùng là tiền hiền và hậu hiền. Báo Đà Nẵng ghi ba lối hiểu: tiền hiền là người lập làng, còn hậu hiền có thể là người dựng đình chùa, người mở mang ruộng đất, hoặc người lập lại làng khi làng cũ bị xiêu tán.

Điểm riêng quan trọng: tiền hiền và hậu hiền thường thuộc những họ khác nhau. Làng thờ họ vì công chứ không vì huyết thống.

Theo giáo nghĩa

Người trong làng nói về các vị này bằng câu uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đất đang cày là đất các vị mở, nên cúng các vị là trả ơn, giống như con cháu cúng ông bà.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai vị khác nhau. Thành hoàng là vị thần bảo hộ làng, có thể là thần núi sông, danh nhân hay người có công với nước, thường do triều đình ban sắc. Tiền hiền là người thật đã mở đất lập làng. Ở nhiều đình, hai vị cùng được thờ nhưng ở hai vị trí khác nhau. Có nơi một vị tiền hiền về sau được sắc phong và thờ như Thành hoàng.

IVNơi Thờ Và Lễ Tế

Ở Quảng Nam và Đà Nẵng, theo lệ cổ, bàn thờ Thành hoàng đặt ở chính điện, bàn thờ tiền hiền và hậu hiền đặt hai bên. Nhiều làng còn có nhà thờ tiền hiền riêng, dựng theo lối nhà rường ba gian hai chái. Ở Nam Bộ, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp, đình có bàn thờ tiền hiền, hậu hiền bên cạnh các bàn Hội đồng, Tả ban, Hữu ban.

Tóm theo các nguồn địa phương. Mỗi làng có lệ riêng. Nguồn: Văn nghệ Huế, Báo Đà Nẵng, Nguyễn Hữu Hiệp trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển.
VùngTên gọi quenNơi thờDịp tế
HuếKhai canh, khai khẩnĐình, miếu, nhà thờ làngTế xuân, tế thu
Quảng Nam, Đà NẵngTiền hiền, hậu hiềnNhà thờ tiền hiền, hai bên chính điện đìnhLễ Kỳ Yên, xuân kỳ thu tế, lễ đầu năm
Nam BộTiền hiền, hậu hiềnBàn thờ trong đìnhLễ Kỳ Yên đầu mùa mưa, thu tế cuối mùa mưa

Ngày tế do từng làng định. Ví dụ theo Báo Đà Nẵng, làng Hiền Lương tế tiền hiền vào mùng bảy tháng Giêng. Ở Nam Bộ, lễ Kỳ Yên của đình là dịp lớn nhất, trong đó các vị tiền hiền, hậu hiền được dâng lễ cùng thần Thành hoàng.

VTổ Chức Và Phân Bố

Việc tế do ban quý tế đình làng lo, ở miền Nam còn gọi là ban hội hương. Với nhà thờ tiền hiền riêng, hội đồng các tộc họ lập làng thường cùng đứng ra. Không có tổ chức cấp cao hơn làng.

Tục này rõ nhất ở miền Trung và Nam Bộ, nơi lịch sử lập làng còn gần và còn được ghi trong gia phả, bia đá, sắc phong. Một ví dụ ở Nam Bộ là ông Nguyễn Tú, được Báo Cần Thơ giới thiệu là người gốc Quy Nhơn lập làng Mỹ Trà, nay thuộc Đồng Tháp. Bia Tiền Hiền ở Mỹ Trà đã được tỉnh Đồng Tháp xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

VINgày Nay

Nhiều đình và nhà thờ tiền hiền được tu bổ, một số được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Lễ Kỳ Yên ở đình Nam Bộ vẫn giữ được, có nơi thành dịp hội làng lớn.

Đô thị hóa đặt ra câu hỏi mới. Khi làng thành phường và người đến ở không còn gốc gác trong làng, việc thờ tiền hiền dễ chỉ còn là việc của vài họ lâu đời. Ngược lại, ở nhiều nơi, chính việc tế tiền hiền lại là dịp để người gốc làng ở xa tìm về.

VIIBiểu Tượng Của Nhánh

Thờ Tiền Hiền, Khai Canh Ở Làng

Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.

VIIICác Nhánh Khác Của Thờ Cúng Tổ Tiên

Thờ Gia Tiên Trong Gia ĐìnhThờ cúng gia tiênCấp phổ biến nhất, diễn ra trên bàn thờ trong nhà: thắp hương mùng một, ngày rằm, ngày giỗ, Tết, Thanh Minh, Vu Lan.Thờ Tổ Dòng HọTừ đường 祠堂, nhà thờ họCấp dòng họ, có từ đường thờ thủy tổ, gia phả ghi các đời, trưởng họ chủ tế, xưa có ruộng hương hỏa nuôi việc thờ.Thờ Quốc Tổ Hùng VươngTín ngưỡng thờ cúng Hùng VươngCấp quốc gia, thờ các Vua Hùng như tổ chung của người Việt, giỗ ngày mùng mười tháng ba âm lịch, trung tâm là Đền Hùng, Phú Thọ.Tôn Kính Tổ Tiên Trong Gia Đình Công GiáoHướng dẫn việc tôn kính tổ tiênSau huấn thị Plane compertum est 1939 và thông cáo của Hội đồng Giám mục năm 1965, 1974, gia đình Công Giáo Việt Nam được đặt ảnh, bày hoa đèn, thắp hương, làm giỗ.Dùng biểu tượng chung của đạoThờ Cửu Huyền Thất Tổ Trong Các Đạo Nội Sinh Nam Bộ九玄七祖 Cửu Huyền Thất TổCác đạo nội sinh ở Nam Bộ giữ bàn thờ tổ tiên như một ngôi thờ trong nhà.Dùng biểu tượng chung của đạoThờ Tiền Hiền, Khai Canh Ở LàngTiền hiền, hậu hiền, khai canh 開耕, khai khẩn 開墾Cấp làng, thờ những người đầu tiên khai phá lập làng như tổ tiên chung của cộng đồng, thường ở đình hoặc nhà thờ tiền hiền.Dùng biểu tượng chung của đạo

IXNguồn Tham Khảo

Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.

  1. Văn nghệ Huế, Tìm hiểu tín ngưỡng thờ Khai canh, Khai khẩn ở một số làng xã vùng Huế
  2. Báo Đà Nẵng, Tiền hiền, hậu hiền
  3. Báo Đà Nẵng, Nhà thờ Tiền hiền làng Hiền Lương
  4. Nguyễn Hữu Hiệp, Cúng đình ở Nam Bộ
  5. Báo Cần Thơ, Nguyễn Tú, vị Tiền Hiền của Nam bộ
  6. Báo Đồng Nai, Tục thờ tiền hiền, hậu hiền

?Hỏi Đáp Nhanh

Tiền hiền và hậu hiền khác nhau thế nào?

Tiền hiền là người đầu tiên đến khai phá, lập làng. Hậu hiền là người đến sau có công, như mở mang ruộng đất, dựng đình chùa, hoặc lập lại làng khi làng cũ tan. Hai nhóm thường thuộc các họ khác nhau.

Khai canh và khai khẩn khác nhau thế nào?

Theo cách dùng ở vùng Huế, khai canh chỉ những người đến trước mở đất, khai khẩn chỉ những người đến sau mở rộng. Cách dùng không thống nhất giữa các làng, có nơi dùng hai từ như nhau.

Có phải làng nào cũng thờ tiền hiền không?

Không. Tục này rõ nhất ở miền Trung và Nam Bộ, nơi lịch sử lập làng còn được ghi lại. Ở nhiều làng Bắc Bộ, việc thờ tập trung vào Thành hoàng, còn người lập làng có khi được thờ ở nhà thờ họ.

›Đọc Tiếp