VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm

Hành lễ tại Vạn Đạo Đường

Tín ngưỡng ViệtĐạo Cao Đài

Mỗi máy một lượt ở mỗi khám, nghỉ 3 phút rồi mới làm tiếp. Làm khi lòng thật muốn.

Ba nén lớn cháy theo giờ Việt Nam, dù bạn ở múi giờ nào.

···lượt thành tâm
Mốc kế tiếp
· Hôm nay· Tuần này· Đang cháy

Vào Chính Điện, đủ 19 khám
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: Từ Thánh Thất Cầu Kho Sài Gòn Tới Tòa Thánh Tam Quan Bình Định

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

Tên hội thánh ghép hai địa danh cách nhau gần một ngàn cây số: Cầu Kho ở Sài Gòn, nơi đạo xuất phát, và Tam Quan ở Bình Định, nơi đạo bén rễ.

Khởi lập
Ban Tôn giáo Chính phủ ghi thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1937 tại Tam Quan, Bình Định. Tòa thánh khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1960.
Vùng
Bình Định cũ, nay thuộc Gia Lai, và các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên
Số tín đồ
8.545 tín đồ và 405 chức sắc, theo Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2015.
Tại Việt Nam
Trụ sở Tòa thánh Tam Quan, Hoài Nhơn. Công nhận tư cách pháp nhân năm 2001. 26 thánh thất đang hoạt động ở 8 tỉnh thành (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2015).

ITổng Quan

Cầu Kho là tên một khu phố cũ ở Sài Gòn. Tam Quan là một thị trấn ven biển Bình Định. Hội thánh mang cả hai cái tên vì đạo đi từ nơi này tới nơi kia.

Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan có trụ sở tại Tòa thánh Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai sau đợt sắp xếp năm 2025. Đây là hội thánh Cao Đài nhỏ, tập trung ở Nam Trung Bộ, với hơn nửa số thánh sở nằm trong Bình Định cũ.

IILịch Sử Hình Thành

Theo sử liệu

Theo bài Sơ lược quá trình hình thành và phát triển hội thánh đăng trên trang Ban Tôn giáo Chính phủ ngày 3 tháng 6 năm 2015, gốc của hội thánh là thánh thất Cầu Kho ở Sài Gòn, một cơ sở Cao Đài rất sớm. Tên Cầu Kho lấy từ ngôi nhà của Đốc học Đoàn Văn Bản gần trường tiểu học Cầu Kho.

Từ Cầu Kho, nhiều vị đem đạo ra miền Trung. Bài lịch sử Hội thánh Truyền giáo trên Nhịp Cầu Tam Giáo ghi các vị từ Cầu Kho về Bình Định từ năm 1932 và dựng thánh thất Tân Định tại Tam Quan cùng năm.

Cũng theo Ban Tôn giáo Chính phủ, hội thánh thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1937, do ông Phan Nghị cùng nhóm 12 vị đại diện của 6 tỉnh miền Trung đứng ra, lấy nhà ông Phan Bồi làm thánh thất trung ương. Từ năm 1956 tới 1960 hội thánh xây Tòa thánh tại Tam Quan và khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1960 bằng Đại lễ Đại hội An Thiên. Ngày 3 tháng 3 năm 2000, hội thánh lấy tên Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan.

  • 1932Đạo tới Tam Quan
    Các vị từ Cầu Kho lập thánh thất Tân Định tại Tam Quan.
  • 1937Thành lập
    Ông Phan Nghị và 12 vị đại diện 6 tỉnh miền Trung lập hội thánh.
  • 1960Khánh thành Tòa thánh
    Ngày 15 tháng 3, sau bốn năm xây dựng.
  • 2000Đổi tên
    Lấy tên Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan ngày 3 tháng 3.
  • 2001Công nhận pháp nhân
    Theo bài nghiên cứu năm 2024. Có nguồn ghi năm 2000.

IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng

Hội thánh giữ giáo lý chung của Cao Đài: thờ Đức Chí Tôn qua Thiên Nhãn, con mắt trái trong vòng tròn, không đặt trong tam giác, thờ Đức Phật Mẫu, theo tôn chỉ Tam Kỳ Phổ Độ, giữ ngũ giới cấm và chay kỳ.

Theo giáo nghĩa

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, hội thánh tổ chức theo nguyên tắc Ba Đài, Ba Phái, Ba Hội. Ba đài là Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài. Ba phái ứng với Tam Giáo. Ba hội là các hội nghị quyết định việc đạo theo cấp.

Chỗ hay hiểu lầm

Cầu Kho Tam Quan không phải một nhánh của Tây Ninh đặt ở miền Trung. Hội thánh có nguồn gốc riêng từ thánh thất Cầu Kho, cũng là nơi góp phần đưa đạo tới các tỉnh miền Trung trước khi có Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài ở Đà Nẵng.

IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống

Tín đồ cúng thời tại thánh thất và tại gia, giữ các lễ lớn chung của đạo. Tên gọi đại lễ khánh thành Tòa thánh năm 1960, Đại hội An Thiên, cho thấy hội thánh dùng lối gọi của các đàn cơ Nam Kỳ thời đầu. Thư viện chưa tìm được nguồn mô tả chi tiết lịch lễ riêng của hội thánh.

VTổ Chức Và Phân Bố

Hội thánh có hai cấp: trung ương và cơ sở. Việc lớn quyết định tại Đại hội đại biểu Nhơn sanh toàn phái. Các kỳ đại hội đã họp năm 2000, 2006, 2010 và nhiệm kỳ 2015 tới 2020, theo Ban Tôn giáo Chính phủ. Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2025 tới 2030, có Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Nguyễn Tiến Trọng dự.

Chỉ sốCon sốNguồn và năm
Tín đồ8.545Ban Tôn giáo Chính phủ, 2015
Chức sắc405Ban Tôn giáo Chính phủ, 2015
Thánh thất26 đang hoạt động, 3 không hoạt độngBan Tôn giáo Chính phủ, 2015
Phạm vi8 tỉnh thành miền Trung và Tây NguyênBan Tôn giáo Chính phủ, 2015
Thánh sở33, trong đó 20 ở Bình ĐịnhNhịp Cầu Giáo Lý, không ghi năm

VINgày Nay

Hội thánh được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân năm 2001, theo bài nghiên cứu trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2024. Hội thánh là thành viên cơ chế liên giao hành đạo giữa các tổ chức Cao Đài.

Tòa thánh Tam Quan được tái thiết và lạc thành năm 2007, theo Nhịp Cầu Giáo Lý. Sau năm 2025, Tam Quan thuộc tỉnh Gia Lai. Tín đồ tập trung ở vùng Hoài Nhơn và các huyện phía Bắc Bình Định cũ.

VIIBiểu Tượng Của Nhánh

Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.

VIIICác Nhánh Khác Của Đạo Cao Đài

Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây NinhĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây NinhHội thánh lớn nhất, trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh với Đền Thánh.Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh ĐạoĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo, Tòa thánh An HộiTách khỏi Tây Ninh năm 1934, trụ sở Tòa thánh An Hội ở Bến Tre, nay thuộc Vĩnh Long.Dùng biểu tượng chung của đạoHội Thánh Cao Đài Tiên ThiênTiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội thánh Cao Đài Tiên ThiênTrụ sở Tòa thánh Châu Minh ở Bến Tre, nay thuộc Vĩnh Long, lập năm 1937.Dùng biểu tượng chung của đạoHội Thánh Truyền Giáo Cao ĐàiĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài, Trung Hưng Bửu TòaHội thánh chính của Cao Đài ở miền Trung, trụ sở Trung Hưng Bửu Tòa tại Đà Nẵng, lập năm 1956.Dùng biểu tượng chung của đạoHội Thánh Cao Đài Minh Chơn ĐạoĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo, Tòa thánh Ngọc SắcTrụ sở Tòa thánh Ngọc Sắc ở Thới Bình, Cà Mau, dựng lại năm 1954 sau khi tòa cũ bị phá năm 1946.Dùng biểu tượng chung của đạoHội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam QuanĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam QuanTrụ sở Tòa thánh Tam Quan ở Hoài Nhơn, Bình Định, nay thuộc Gia Lai, lập năm 1954, dựng lại năm 2007.Dùng biểu tượng chung của đạoDòng Chiếu MinhChiếu Minh Vô Vi, Chiếu Minh Tam Thanh Vô ViDòng gắn với ông Ngô Văn Chiêu, người đầu tiên nhận Thiên Nhãn năm 1921.Hội Thánh Cao Đài Chơn LýĐại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội thánh Cao Đài Chơn LýTrụ sở Tòa thánh Chơn Lý ở Mỹ Tho, Tiền Giang, nay thuộc Đồng Tháp, dựng khoảng 1928 tới 1931, là một trong những nhánh tách sớm nhất.Dùng biểu tượng chung của đạoHội Thánh Cao Đài Bạch YBạch Y Liên Đoàn Chơn Lý, Tòa thánh Ngọc KinhCòn gọi Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý, trụ sở Tòa thánh Ngọc Kinh ở Kiên Giang, nay thuộc An Giang, lập năm 1955.Dùng biểu tượng chung của đạoThánh thất Cao Đài độc lậpCao Đài Bảo Thủ Chơn Truyền, Cao Đài Pháp Chánh TruyềnCác thánh thất và tín đồ không sinh hoạt trong hội thánh được công nhận, tự gọi là giữ luật pháp chơn truyền năm 1926.Dùng biểu tượng chung của đạo

IXNguồn Tham Khảo

Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.

  1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan (3 tháng 6 năm 2015)
  2. Ban Tôn giáo Chính phủ, Phó Trưởng ban Nguyễn Tiến Trọng dự Đại hội Nhơn sanh lần thứ VI của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan
  3. Nhịp Cầu Tam Giáo, Sơ lược về lịch sử Hội thánh Truyền giáo Cao Đài
  4. Nhịp Cầu Giáo Lý, Các Tòa Thánh Đạo Cao Đài
  5. Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Thị Quế Hương, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 9 năm 2024

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao gọi là Cầu Kho Tam Quan?

Cầu Kho là thánh thất ở Sài Gòn, nơi đạo xuất phát. Tam Quan ở Bình Định là nơi hội thánh lập trụ sở. Hội thánh lấy tên ghép này từ ngày 3 tháng 3 năm 2000.

Hội thánh này có bao nhiêu tín đồ?

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2015, hội thánh có 8.545 tín đồ, 405 chức sắc và 26 thánh thất đang hoạt động ở 8 tỉnh thành.

Cầu Kho Tam Quan được công nhận năm nào?

Năm 2001, theo bài nghiên cứu trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2024. Một số nguồn ghi năm 2000.

›Đọc Tiếp