ITổng Quan
Phật Giáo Nam Tông Kinh là dòng Theravada của người Việt, khác với dòng Nam Tông của đồng bào Khmer. Dòng này bắt đầu năm 1938, khi ngôi chùa Bửu Quang được dựng ở Gò Dưa, Thủ Đức.
Giáo lý và giới luật theo Tam tạng Pali, giống Theravada ở Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan. Điểm riêng là kinh được tụng bằng tiếng Pali kèm bản dịch tiếng Việt, và cộng đồng là người Kinh vốn quen với chùa Bắc Tông. Trước năm 1981 dòng này mang tên Phật Giáo Nguyên Thủy. Nay là Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
IILịch Sử Hình Thành
Theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học, năm 1938 gia đình ông Bùi Ngươn Hứa hiến ba héc ta đất ở ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, Thủ Đức, cho nhóm cư sĩ gồm các ông Nguyễn Văn Hiểu, Văng Công Hương, Nguyễn Văn Quyến, Đoàn Văn Hường dựng chùa Bửu Quang. Các vị tăng tiên phong là Thiện Luật, Huệ Nghiêm, Bửu Chơn và Hộ Tông, xuất gia trong khoảng 1937 tới 1940. Theo các tiểu sử phổ biến, các vị học và thọ giới Theravada ở Campuchia rồi về nước hoằng pháp.
- 1938Chùa Bửu QuangNgôi chùa Theravada đầu tiên của người Việt, ở Gò Dưa, Thủ Đức.
- 1952Kiết giới SimaNgày 17 tháng 2 năm 1952, lễ kiết giới được tổ chức tại Bửu Quang, có sư trụ trì chùa Mahamontrey ở Campuchia chứng minh.
- 1953 và 1956Ra miền TrungChùa Tam Bảo ở Đà Nẵng lập năm 1953, Tăng Quang Tự ở Huế lập năm 1956.
- 1957Hội Phật giáo Nguyên thủyĐược chính quyền lúc ấy cho phép hoạt động.
- 1958Giáo hội Tăng già Nguyên thủyĐại hội ngày 11 tới 13 tháng 7 ở chùa Kỳ Viên bầu Hòa thượng Hộ Tông làm Tăng thống, hai phó là Bửu Chơn và Thiện Luật.
- 1964 và 1967Với Giáo hội Thống nhấtTham gia lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất năm 1964, rút ra năm 1967.
- 1981Giáo hội Phật giáo Việt NamLà một trong chín tổ chức, hệ phái lập Giáo hội.
- từ 2010Tên Nam tông KinhVăn phòng Giáo hội tại Thành phố Hồ Chí Minh dùng danh xưng Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Hệ phái tự xem mình là người giữ lời Phật dạy theo Tam tạng Pali, con đường giới, định, tuệ và quả vị A la hán. Chùa chỉ thờ Đức Phật Thích Ca. Tên gọi cũ Phật Giáo Nguyên Thủy nói lên chủ trương trở về lời dạy nguyên sơ.
So với Bắc Tông mà người Việt quen, điểm khác dễ thấy là:
- Tăng đắp y vàng, khất thực, ăn trước giờ ngọ, không bắt buộc ăn chay.
- Tụng kinh Pali, giảng bằng tiếng Việt, dựa trên kinh Nikaya và Vi Diệu Pháp.
- Thiền chỉ và thiền minh sát là pháp tu chính, không niệm Phật A Di Đà, không trì chú Đại Bi.
Hay có người nghĩ chùa Nam Tông ở Sài Gòn là chùa của người Khmer. Thực tế Nam Tông Kinh là cộng đồng người Việt, sinh hoạt bằng tiếng Việt, có lịch sử và tổ chức riêng. Hai dòng cùng giáo lý Theravada nhưng là hai hệ phái khác nhau trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống
Tăng sĩ giữ 227 giới Tỳ kheo theo Luật tạng Pali. Mùa mưa có ba tháng an cư, kết thúc bằng lễ dâng y Kathina, ngày lễ lớn nhất của cư sĩ trong năm. Nhiều chùa tổ chức khất thực vào những ngày nhất định để cư sĩ cúng dường.
Theravada không còn dòng tỳ kheo ni được mọi nơi công nhận, nên phụ nữ xuất gia ở Nam Tông Kinh tu theo hình thức tu nữ. Theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học, khoảng năm 2019 có 654 tu nữ, nhiều hơn một nửa số tăng.
Cư sĩ quy y Tam Bảo, giữ năm giới, ngày giới giữ tám giới. Các khóa thiền minh sát ngắn ngày, mở cho cả người không phải Phật tử, là hoạt động được nhiều người thành phố tìm tới.
VTổ Chức Và Phân Bố
Từ năm 1958 tới năm 1981, dòng này tổ chức thành Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, có Tăng thống đứng đầu và trụ sở ở chùa Kỳ Viên, Sài Gòn. Từ năm 1981, các vị lãnh đạo hệ phái tham gia Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua nhiều nhiệm kỳ, trong đó có các Hòa thượng Siêu Việt, Bửu Chánh, Thiện Tâm và Viên Minh.
| Chỉ số | Số liệu | Nguồn và năm |
|---|---|---|
| Chùa | 106 | Tạp chí Nghiên cứu Phật học, khoảng năm 2019 |
| Chư tăng | 1.100 | Tạp chí Nghiên cứu Phật học, khoảng năm 2019 |
| Tu nữ | 654 | Tạp chí Nghiên cứu Phật học, khoảng năm 2019 |
VINgày Nay
Ngày nay Nam Tông Kinh là một hệ phái trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đông nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ. Chùa Bửu Quang vẫn được xem là tổ đình. Các thiền viện như Thiền viện Viên Không ở núi Dinh, Bà Rịa Vũng Tàu cũ, do Thượng tọa Viên Minh lập, thu hút người muốn học thiền theo lối Pali.
Nhiều bộ kinh Pali đã có bản dịch tiếng Việt, giúp người Việt đọc trực tiếp lời dạy mà không cần qua chữ Hán. Hệ phái giữ quan hệ gần với Nam Tông Khmer và với các nước Theravada, nhiều tăng sĩ sang Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan để học.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.
VIIICác Nhánh Khác Của Phật Giáo
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nam Tông Kinh khác Nam Tông Khmer thế nào
Cùng giáo lý Theravada nhưng khác cộng đồng và lịch sử. Nam Tông Khmer là dòng của đồng bào Khmer có từ nhiều thế kỷ, sinh hoạt bằng tiếng Khmer. Nam Tông Kinh là dòng của người Việt bắt đầu từ năm 1938, sinh hoạt bằng tiếng Việt.
Ngôi chùa Nam Tông đầu tiên của người Việt là chùa nào
Là chùa Bửu Quang ở ấp Gò Dưa, Thủ Đức, dựng năm 1938 trên đất do gia đình ông Bùi Ngươn Hứa hiến cúng.
Phật Giáo Nguyên Thủy và Nam Tông Kinh có phải là một
Phải. Phật Giáo Nguyên Thủy là tên gọi cũ, gắn với Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam lập năm 1958. Từ khoảng năm 2010, Giáo hội Phật giáo Việt Nam dùng danh xưng Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh.
Nữ giới có xuất gia ở Nam Tông Kinh được không
Được, theo hình thức tu nữ. Khoảng năm 2019 hệ phái có 654 tu nữ theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học.