ITổng Quan
Kim Cương Thừa là dòng Phật Giáo dùng chú, ấn và quán tưởng mạn đà la làm phương tiện tu. Chữ kim cương, tức vajra, chỉ cái không thể phá hoại, ví với bản tánh giác ngộ.
Kim Cương Thừa tự xem mình thuộc Đại Thừa. Lý tưởng vẫn là Bồ tát, cứu độ mọi loài. Điểm riêng nằm ở phương pháp: các bản văn gọi là tantra, lễ quán đảnh để được phép tu, và vai trò rất lớn của vị đạo sư.
Người ngoài thường biết dòng này qua Phật Giáo Tây Tạng, nhưng Mật giáo từng có mặt ở Trung Hoa đời Đường và còn sống ở Nhật Bản qua Chân Ngôn Tông. Chưa có số liệu đáng tin về số người theo Kim Cương Thừa trên toàn thế giới.
IILịch Sử Hình Thành
Các bản tantra Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ khoảng thế kỷ 6 tới 8 và được dạy trong các đại học viện như Nalanda, Vikramashila. Khi Phật Giáo suy tàn ở Ấn Độ khoảng thế kỷ 12 và 13, Tây Tạng trở thành nơi giữ phần lớn kho kinh luận Mật giáo, dịch sang tiếng Tạng thành hai bộ Kangyur và Tengyur.
- thế kỷ 8Mật giáo đời ĐườngCác ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, Bất Không dịch kinh Mật ở Trường An.
- khoảng 779Tu viện SamyeVua Trisong Detsen mời Tịch Hộ và Liên Hoa Sinh, dựng tu viện đầu tiên của Tây Tạng. Dòng Nyingma nhận mình khởi từ thời này.
- 816Không Hải lập núi KoyaSau khi học Mật giáo ở Trường An, Không Hải lập Chân Ngôn Tông ở Nhật Bản.
- 1042Atisha tới Tây TạngMở đầu thời truyền bá lần thứ hai. Các dòng Kadam, Sakya, Kagyu ra đời trong thế kỷ 11.
- 1409Tông Khách Ba lập chùa GandenKhởi đầu dòng Gelug, chú trọng giới luật và học vấn.
- 1578Danh hiệu Đạt Lai Lạt MaAltan Khan của Mông Cổ trao danh hiệu cho Sonam Gyatso, vị được tôn là Đạt Lai Lạt Ma thứ ba.
- 1959Cộng đồng lưu vongĐạt Lai Lạt Ma thứ 14 sang Ấn Độ. Nhiều tu viện được dựng lại ở Ấn Độ, Nepal và sau đó ở phương Tây.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Kim Cương Thừa tự nhận là con đường nhanh trong Đại Thừa. Theo giáo lý của dòng này, người tu đã có căn bản về xuất ly, lòng bi và tánh Không thì có thể dùng thân, khẩu, ý làm phương tiện, qua ấn, chú và quán tưởng, để chuyển hóa ngay trong một đời.
- Đạo sư: tiếng Tạng gọi là lama, người truyền pháp và trao quán đảnh. Không có quán đảnh thì không được tu các pháp Mật.
- Tái sinh có danh hiệu: tulku là vị được nhận là tái sinh của một bậc thầy trước. Đạt Lai Lạt Ma và Karmapa là hai hệ tulku được biết nhiều nhất.
- Pháp tu tối thượng: Đại Viên Mãn, tức Dzogchen, ở dòng Nyingma, và Đại Thủ Ấn, tức Mahamudra, ở dòng Kagyu.
- Lộ trình tuần tự: Bồ Đề Đạo Thứ Đệ của Tông Khách Ba là bộ luận căn bản của dòng Gelug.
Nhiều người gọi mọi tăng sĩ Tây Tạng là Lạt Ma. Thực tế lama nghĩa là thầy, là danh xưng dành cho người đủ khả năng dạy. Một tăng sĩ bình thường chưa hẳn là lama, còn có lama là cư sĩ có gia đình, nhất là ở dòng Nyingma.
IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống
Người mới vào thường làm các pháp dự bị gọi là ngöndro, gồm lễ lạy, trì chú thanh tịnh, cúng dường mạn đà la và pháp hợp nhất với đạo sư. Sau đó mới nhận quán đảnh và tu các pháp bổn tôn.
Trong đời sống cư sĩ, người Tạng đi nhiễu quanh tháp và tu viện, xoay kinh luân, treo cờ phướn in kinh chú trước gió. Câu chú sáu chữ Om mani padme hum gắn với Bồ tát Quán Thế Âm là câu quen thuộc nhất.
Tu viện lớn như Sera, Drepung, Ganden là đại học của tăng sĩ, với chương trình tranh luận triết học kéo dài nhiều năm để lấy học vị Geshe. Ở Nhật, tăng sĩ Chân Ngôn tu pháp hộ ma bằng lửa, và núi Koya là nơi hành hương lớn.
VTổ Chức Và Phân Bố
Mỗi dòng có hệ thống tu viện và người đứng đầu riêng. Gelug do Ganden Tripa đứng đầu về hình thức, dù Đạt Lai Lạt Ma là vị được biết rộng nhất. Sakya có Sakya Trizin, nhánh Karma Kagyu có Karmapa. Nyingma trong lịch sử không có một người đứng đầu chung. Ở Nhật, Chân Ngôn Tông chia nhiều phái, lớn nhất là Koyasan Shingon.
| Nơi | Số liệu | Nguồn và năm |
|---|---|---|
| Trung Quốc | Khoảng 3.800 tu viện Tạng truyền | Sách trắng Chính phủ Trung Quốc, năm 2018 |
| Mông Cổ | 87,1 phần trăm người có tôn giáo tự nhận là Phật tử | Tổng điều tra dân số Mông Cổ năm 2020, theo báo cáo tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ năm 2022 |
| Toàn thế giới | Chưa có số liệu đáng tin | Pew năm 2012 không nêu tỷ lệ riêng cho Kim Cương Thừa |
VITại Việt Nam
Việt Nam không có hệ phái Kim Cương Thừa riêng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Yếu tố Mật lại thấm rất sâu vào chùa Bắc Tông. Thời khóa hằng ngày có trì chú Đại Bi, Thập Chú, Chú Lăng Nghiêm. Lễ cúng thí thực buổi chiều và lễ chẩn tế cô hồn dựa vào nghi thức Du Già Diệm Khẩu có gốc Mật giáo đời Đường.
Sách Thiền Uyển Tập Anh chép về các thiền sư thời Lý như Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, Giác Hải, vốn nổi danh về trì chú và phép lạ. Giới nghiên cứu xem đó là dấu vết Mật giáo trong Phật Giáo Việt Nam thời ấy. Các dòng Tây Tạng chưa có cộng đồng tổ chức đáng kể ở Việt Nam.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Chày kim cương
Vajra, Tạng rdo rje
VIIICác Nhánh Con
- Nyingma
- Sakya
- Kagyu
- Gelug
- Jonang
- Chân Ngôn Tông Nhật Bản
IXCác Nhánh Khác Của Phật Giáo
XNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Kim Cương Thừa và Mật Tông có phải là một
Gần như vậy. Mật Tông là tên chung cho dòng Phật Giáo dùng chú, ấn, quán tưởng. Kim Cương Thừa là tên thường dùng cho dạng Mật giáo phát triển đầy đủ ở Ấn Độ rồi truyền sang Tây Tạng, còn Chân Ngôn Tông là dạng Mật giáo ở Nhật Bản.
Bốn dòng lớn của Phật Giáo Tây Tạng là gì
Nyingma, dòng cổ nhất nhận gốc từ Liên Hoa Sinh. Sakya và Kagyu, ra đời thế kỷ 11. Gelug, do Tông Khách Ba lập đầu thế kỷ 15. Ngoài ra còn dòng Jonang nhỏ hơn.
Đạt Lai Lạt Ma có phải là người đứng đầu mọi dòng Tây Tạng không
Không. Đạt Lai Lạt Ma thuộc dòng Gelug và được nhiều người Tạng tôn kính, nhưng mỗi dòng có người đứng đầu riêng. Về hình thức, Gelug do Ganden Tripa đứng đầu.
Chùa Việt có tu Mật không
Có, nhưng không thành tông riêng. Chú Đại Bi, Chú Lăng Nghiêm và nghi thức cúng thí thực là phần Mật trong thời khóa của chùa Bắc Tông.