ITổng Quan
Tịnh Độ Tông dạy người tu niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tin vào lời nguyện của Ngài và nguyện sinh về cõi Cực Lạc. Câu Nam mô A Di Đà Phật mà người Việt nói hằng ngày là dấu vết rõ nhất của tông này.
Tông này thuộc Đại Thừa và dựa vào ba bộ kinh gọi chung là Tịnh Độ Tam Kinh: Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà. Ở Trung Hoa và Việt Nam, Tịnh Độ hiếm khi là một giáo hội riêng. Nó là pháp tu mà hầu hết các chùa Bắc Tông cùng dùng. Riêng ở Nhật Bản, Tịnh Độ thành những giáo đoàn độc lập, trong đó Tịnh Độ Chân Tông là dòng đông người theo nhất nước này.
IILịch Sử Hình Thành
Niềm tin vào cõi Phật A Di Đà có mặt ở Ấn Độ và Trung Á từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Kinh nói về pháp quán Phật hiện tiền được dịch sang chữ Hán từ cuối thế kỷ 2. Truyền thống Trung Hoa tôn ngài Huệ Viễn là sơ tổ, nhưng giới sử học cho rằng Tịnh Độ thành một dòng rõ nét nhờ các ngài Đàm Loan, Đạo Xước và Thiện Đạo trong thế kỷ 6 và 7.
- 402Bạch Liên XãHuệ Viễn cùng 123 người lập hội ở núi Lư, cùng phát nguyện sinh về Tây phương. Tên Liên Tông bắt nguồn từ đây.
- thế kỷ 6Đàm LoanChú giải Vãng Sinh Luận, đặt nền cho ý niệm nương tha lực của Phật.
- thế kỷ 7Thiện ĐạoĐề cao pháp xưng danh niệm Phật, ảnh hưởng lớn tới Tịnh Độ Nhật Bản sau này.
- thế kỷ 10Vĩnh Minh Diên ThọChủ trương Thiền Tịnh song tu, mô hình mà chùa Trung Hoa và Việt Nam theo tới nay.
- 1175Pháp Nhiên lập Tịnh Độ Tông NhậtHonen dạy chuyên niệm Phật là đủ để vãng sinh.
- thế kỷ 13Thân Loan và Tịnh Độ Chân TôngShinran, đệ tử Pháp Nhiên, dạy lòng tin là cốt lõi và sống đời có gia đình.
- 1602Tây và Đông Bản Nguyện TựTịnh Độ Chân Tông chia hai phái lớn, còn tới nay.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Theo Kinh Vô Lượng Thọ, khi còn là Tỳ kheo Pháp Tạng, Phật A Di Đà phát 48 lời nguyện, trong đó có nguyện ai chí tâm niệm danh hiệu Ngài thì được sinh về cõi của Ngài. Người tu Tịnh Độ giữ ba điều tín, nguyện, hạnh: tin lời nguyện, nguyện vãng sinh, và thực hành niệm Phật.
- Tha lực và tự lực: các tông khác nhấn vào sức tu của chính mình. Tịnh Độ nhấn vào sức nguyện của Phật. Ở Trung Hoa và Việt Nam, hai sức được xem là đi cùng nhau.
- Bốn cách niệm Phật: trì danh, quán tưởng, quán tượng và thật tướng. Trì danh là cách phổ biến nhất.
- Điểm của Tịnh Độ Chân Tông: Thân Loan dạy rằng ngay cả lòng tin cũng do Phật trao. Niệm Phật là lời cảm tạ chứ không phải công phu để đổi lấy vãng sinh.
Hay có người hiểu Cực Lạc là một thiên đường để hưởng phúc mãi mãi. Theo kinh Tịnh Độ, Cực Lạc là cõi có điều kiện thuận lợi để tu tiếp cho tới khi thành Phật. Nhiều vị thầy Tịnh Độ cũng giảng Tịnh Độ ở ngay tâm, theo câu tâm tịnh thì cõi tịnh.
IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống
Pháp tu căn bản là niệm Nam mô A Di Đà Phật, thành tiếng hoặc thầm, thường dùng chuỗi hạt để đếm. Thời khóa tối ở chùa Bắc Tông thường tụng Kinh A Di Đà và niệm Phật. Nhiều chùa tổ chức Phật thất, tức bảy ngày chuyên niệm Phật.
Tịnh Độ gắn chặt với việc lo cho người sắp mất. Người thân và ban hộ niệm ngồi bên niệm Phật để người sắp mất giữ được chánh niệm, gọi là trợ niệm. Ngày 17 tháng 11 âm lịch là ngày vía Phật A Di Đà, nhiều chùa Việt và Hoa tổ chức lễ lớn.
Ở Nhật, tín đồ Tịnh Độ niệm Namu Amida Butsu. Tăng sĩ Tịnh Độ Chân Tông lập gia đình và chùa thường truyền trong một dòng họ.
VTổ Chức Và Phân Bố
Ở Trung Hoa, Đài Loan và Việt Nam, Tịnh Độ không có giáo hội riêng mà sống trong các chùa Đại Thừa, các niệm Phật đường và hội cư sĩ. Truyền thống Trung Hoa xếp mười ba vị tổ Tịnh Độ, từ Huệ Viễn tới ngài Ấn Quang mất năm 1940.
Ở Nhật Bản, Tịnh Độ Tông có chùa tổ là Tri Ân Viện ở Kyoto. Tịnh Độ Chân Tông có hai phái lớn là Hongwanji, chùa tổ Tây Bản Nguyện Tự, và Otani, chùa tổ Đông Bản Nguyện Tự. Wikipedia mục Jōdo Shinshū cho biết dòng này là dòng Phật Giáo được thực hành rộng nhất ở Nhật, nhưng chưa có số tín đồ đáng tin kèm năm. Người Nhật di cư đưa Tịnh Độ Chân Tông sang Hawaii và Bắc Mỹ, nay là Buddhist Churches of America.
VITại Việt Nam
Ở Việt Nam, Tịnh Độ không phải hệ phái riêng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nó là pháp tu phổ biến nhất trong chùa Bắc Tông và trong nhà Phật tử. Câu Nam mô A Di Đà Phật được dùng để chào nhau, để niệm khi gặp chuyện, để tiễn người mất. Chùa Việt tu theo lối Thiền Tịnh song tu, sáng thiền, tối tụng Kinh A Di Đà.
Ngoài Giáo hội còn có Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, một tổ chức cư sĩ do ông Nguyễn Văn Bồng, pháp danh Minh Trí, lập năm 1934 ở Nam Bộ. Hội lấy niệm Phật đi cùng làm phước làm tôn chỉ, mỗi hội quán có phòng thuốc Nam chữa bệnh miễn phí. Theo trang của Hội, năm 2006 có 206 hội quán từ Khánh Hòa tới Cà Mau. Hội được Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo theo quyết định ngày 27 tháng 11 năm 2007 và hoạt động độc lập, không thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Hoa sen, theo tên Liên Tông
蓮
VIIICác Nhánh Con
- Tịnh Độ Tông Nhật Bản (Jōdo-shū)
- Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản (Jōdo Shinshū)
- Thời Tông Nhật Bản (Ji-shū)
IXCác Nhánh Khác Của Phật Giáo
XNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nam mô A Di Đà Phật nghĩa là gì
Nam mô là phiên âm chữ Phạn namo, nghĩa là quy kính. Cả câu nghĩa là con xin quy kính Phật A Di Đà. A Di Đà nghĩa là vô lượng quang và vô lượng thọ, tức ánh sáng và thọ mạng không lường.
Tịnh Độ Tông và Thiền Tông có đối nghịch nhau không
Ở Nhật, hai bên là các tông riêng. Ở Trung Hoa và Việt Nam, từ thế kỷ 10 đã có chủ trương Thiền Tịnh song tu, nên phần lớn chùa Việt tu cả hai trong cùng một thời khóa.
Tịnh Độ Tông dựa vào những kinh nào
Ba bộ chính là Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà ngắn, được tụng hằng ngày trong chùa Việt.
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội có phải Tịnh Độ Tông không
Đây là một tổ chức cư sĩ Việt Nam lập năm 1934, tu theo pháp niệm Phật và làm thuốc Nam phước thiện. Hội được công nhận năm 2007 và hoạt động độc lập với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nên là một tổ chức riêng chứ không phải toàn bộ Tịnh Độ Tông.