ITổng Quan
Chữ Thiền phiên âm từ tiếng Phạn dhyāna, nghĩa là định, lắng tâm. Thiền Tông là tông Đại Thừa lấy việc tự mình thấy rõ bản tâm làm cửa vào giác ngộ, dùng tọa thiền và lời chỉ dạy trực tiếp của thầy thay cho giảng giải dài dòng.
Thiền Tông hình thành ở Trung Hoa, gọi là Chan, rồi sang Nhật thành Zen, sang Triều Tiên thành Seon, sang Việt Nam thành Thiền. Hai dòng còn thịnh nhất ngày nay là Lâm Tế và Tào Động. Từ thế kỷ 20, Zen trở thành dạng Phật Giáo được phương Tây biết tới rộng rãi, qua sách vở, trung tâm thiền và cả nghệ thuật.
IILịch Sử Hình Thành
Theo truyền thống Thiền, Đức Phật đưa cành hoa trước đại chúng, chỉ ngài Ca Diếp mỉm cười, và tâm ấn được truyền từ đó qua 28 vị tổ Ấn Độ tới Bồ Đề Đạt Ma. Ngài sang Trung Hoa khoảng đầu thế kỷ 6 và truyền xuống tới Lục Tổ Huệ Năng.
Giới sử học xem các danh sách truyền thừa này phần lớn được soạn về sau để khẳng định chính danh. Các bản thảo tìm thấy ở Đôn Hoàng đầu thế kỷ 20 cho thấy Thiền sơ kỳ đa dạng hơn nhiều so với lời kể truyền thống.
- đầu thế kỷ 6Bồ Đề Đạt MaĐược truyền thống tôn là sơ tổ Thiền Tông Trung Hoa.
- 638 tới 713Lục Tổ Huệ NăngPháp Bảo Đàn Kinh ghi lời dạy của Ngài về đốn ngộ, thấy tánh ngay trong khoảnh khắc.
- thế kỷ 9 tới 10Ngũ giaNăm nhà Thiền gồm Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn.
- 1191Vinh Tây đưa Lâm Tế về NhậtEisai lập dòng Rinzai ở Nhật Bản.
- 1227Đạo Nguyên đưa Tào Động về NhậtDōgen về nước, năm 1243 lập chùa Eihei-ji, chùa tổ của Sōtō.
- thế kỷ 12Tri Nột ở Cao LyChinul đặt nền cho Seon Hàn Quốc, về sau thành Tào Khê Tông.
- thế kỷ 20Sang phương TâyCác thiền sư Nhật, Hàn, Việt lập trung tâm ở châu Âu và Bắc Mỹ.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Thiền Tông tự tóm lược mình trong bốn câu: giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Nghĩa là truyền riêng ngoài kinh giáo, không dựng trên chữ nghĩa, chỉ thẳng vào tâm người, thấy tánh thì thành Phật. Ai cũng sẵn Phật tánh, việc tu là nhận ra nó.
- Công án và thoại đầu: dòng Lâm Tế dùng những câu hỏi đáp của các thiền sư xưa để người tu tham cứu cho tới khi vỡ ra. Các tập như Bích Nham Lục, Vô Môn Quan gom các công án ấy.
- Mặc chiếu, chỉ quản đả tọa: dòng Tào Động nhấn vào việc ngồi yên, soi sáng trong im lặng. Đạo Nguyên dạy rằng chính việc ngồi đã là giác ngộ hiển hiện.
- Tâm truyền tâm: thầy ấn chứng chỗ thấy của trò. Dòng truyền thừa thầy trò là xương sống của Thiền Tông.
Câu bất lập văn tự hay bị hiểu là Thiền bỏ kinh sách. Thực tế Thiền Tông có một kho văn lớn gồm ngữ lục, đăng lục, tập công án, và các thiền viện vẫn tụng Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh. Câu ấy nói rằng chữ nghĩa là ngón tay chỉ trăng, không phải mặt trăng.
IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống
Trung tâm của đời sống thiền viện là tọa thiền, thường xen với thiền hành. Người tu gặp riêng thầy để trình chỗ thấy. Các khóa thiền tập trung kéo dài nhiều ngày, ở Nhật gọi là sesshin.
Lao động là một phần của việc tu. Truyền thống gắn với ngài Bách Trượng thế kỷ 8 câu nói một ngày không làm là một ngày không ăn. Nấu ăn, quét sân, làm vườn đều được xem là thiền. Thanh quy của Bách Trượng đặt khuôn cho sinh hoạt thiền viện Trung Hoa về sau.
Ảnh hưởng của Zen thấm vào văn hóa Nhật như trà đạo, cắm hoa, vườn đá, thư pháp. Vòng tròn ensō vẽ một nét là biểu tượng quen thuộc của Thiền Nhật Bản.
VTổ Chức Và Phân Bố
Thiền Tông không có một giáo hội chung. Ở Trung Hoa và Việt Nam, phần lớn chùa Đại Thừa nhận dòng truyền thừa Lâm Tế, dù thực hành dung hợp với Tịnh Độ. Ở Nhật Bản, Sōtō có hai chùa tổ là Eihei-ji và Sōji-ji, và theo nhà nghiên cứu William Bodiford năm 2006 có khoảng 14.000 chùa. Rinzai chia thành nhiều nhánh độc lập, mỗi nhánh có chùa tổ riêng. Ở Hàn Quốc, Tào Khê Tông là giáo hội Phật Giáo lớn nhất. Chưa có số liệu đáng tin về tổng số người theo Thiền trên thế giới.
VITại Việt Nam
Sách Thiền Uyển Tập Anh thời Trần chép ba dòng thiền sớm: Tỳ Ni Đa Lưu Chi tới năm 580, Vô Ngôn Thông tới năm 820, Thảo Đường vào thời Lý năm 1069. Một số nhà nghiên cứu cho rằng các dòng này được sắp xếp lại về sau theo mô hình Trung Hoa. Thời Trần, vua Trần Nhân Tông xuất gia năm 1299 và lập Thiền phái Trúc Lâm, thiền phái do người Việt lập đầu tiên, với ba vị tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.
- thế kỷ 17Lâm Tế và Tào Động sang Việt NamCác thiền sư Trung Hoa như Nguyên Thiều ở Đàng Trong, Chuyết Công ở Đàng Ngoài lập dòng Lâm Tế. Tào Động có mặt ở miền Bắc và ở Huế.
- 1667 tới 1742Thiền sư Liễu QuánLập dòng Lâm Tế Liễu Quán, dòng Việt hóa lan rộng khắp miền Trung và miền Nam.
- 1971 tới 2002Phục hưng Trúc LâmHòa thượng Thích Thanh Từ lập Thiền viện Chân Không năm 1971, Trúc Lâm Đà Lạt năm 1993, Trúc Lâm Yên Tử năm 2002.
- 1982Làng MaiThiền sư Thích Nhất Hạnh, thuộc dòng Lâm Tế Liễu Quán, lập đạo tràng Làng Mai ở Pháp. Ngài mất năm 2022 tại chùa Từ Hiếu, Huế.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Vòng tròn thiền
円相 Ensō
VIIICác Nhánh Con
- Lâm Tế
- Tào Động
- Hoàng Bá (Ōbaku) Nhật Bản
- Tào Khê Tông Hàn Quốc
- Thiền phái Trúc Lâm
- Lâm Tế Liễu Quán
IXCác Nhánh Khác Của Phật Giáo
XNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thiền Tông và Zen có phải là một
Cùng một tông. Chan là cách đọc Trung Hoa, Zen là cách đọc Nhật, Seon là cách đọc Hàn, Thiền là cách đọc Việt của cùng chữ 禪. Mỗi nước phát triển thành những dòng có nét riêng.
Lâm Tế và Tào Động khác nhau thế nào
Lâm Tế nhấn vào tham công án để đạt chỗ bừng ngộ. Tào Động nhấn vào ngồi yên soi sáng, xem việc ngồi đã là giác ngộ hiển hiện. Nhiều thiền sư dùng cả hai.
Thiền phái Trúc Lâm là gì
Là thiền phái do vua Trần Nhân Tông lập sau khi xuất gia năm 1299, hợp nhất các dòng thiền có sẵn thời Trần. Từ cuối thế kỷ 20, Hòa thượng Thích Thanh Từ phục hưng dòng này qua hệ thống thiền viện Trúc Lâm.
Chùa Việt có phải chùa Thiền không
Phần lớn chùa Bắc Tông ở Việt Nam nhận dòng truyền thừa Lâm Tế, nên về pháp phái là chùa Thiền. Nhưng thời khóa thường có cả niệm Phật và trì chú, nên gọi là chùa Thiền thuần túy thì chưa đủ.