ITổng Quan
Nho Tiên Tần là cách giới nghiên cứu gọi Nho học trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa năm 221 trước Công nguyên. Ba gương mặt chính là Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử. Họ bàn cách làm người và cách trị nước, chưa dựng siêu hình học về lý và khí như đời Tống về sau.
Thời ấy Nho gia chỉ là một trong Bách Gia Chư Tử, cạnh tranh với Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia. Nó không có triều đình đỡ lưng, không có miếu thờ, không có khoa cử. Nó là một nhóm thầy trò truyền nhau cách đọc sách cổ và cách giữ lễ. Mọi dòng Nho về sau, từ Hán Nho tới Tân Nho Gia, đều tự nhận là quay về đọc cho đúng các vị thầy của giai đoạn này.
IILịch Sử Hình Thành
- 551 tới 479 TCNKhổng TửDạy học ở nước Lỗ, chu du các nước khoảng mười bốn năm mà không được dùng, về Lỗ dạy học tới khi mất.
- Thế kỷ 5 TCNThế hệ học tròTăng Tử, Tử Tư và các môn đồ khác chép lời thầy. Luận Ngữ hình thành dần qua nhiều lớp người chép.
- 371 tới 289 TCNMạnh TửHọc với môn đồ của Tử Tư, cháu Khổng Tử. Đi thuyết các vua Tề, Lương, nêu tính người vốn thiện và thuyết dân quý quân khinh.
- Khoảng 300 tới 237 TCNTuân TửNhiều lần đứng đầu học cung Tắc Hạ ở nước Tề. Học trò ông có Hàn Phi Tử và Lý Tư, hai người về sau thuộc Pháp gia.
- 213 TCNĐốt sáchNhà Tần đốt sách các nhà, khép lại giai đoạn Tiên Tần. Nho học phải chờ tới đời Hán mới hồi phục.
Nho gia thời này không thống nhất. Sách Hàn Phi Tử, thiên Hiển Học, chép rằng sau Khổng Tử, Nho chia thành tám phái. Năm 1993, các thẻ tre khai quật ở Quách Điếm, tỉnh Hồ Bắc, trong một ngôi mộ được xác định vào khoảng năm 300 trước Công nguyên, cho thấy nhiều bản văn Nho gia chưa từng được biết, lấp một phần khoảng trống giữa Khổng Tử và Mạnh Tử.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Khổng Tử để lại bộ khái niệm nền: nhân là lòng coi người khác cũng là người, lễ là cái khuôn giữ quan hệ khỏi đổ vỡ, chính danh là mỗi cái danh kèm một bó bổn phận, quân tử là người tự sửa mình. Hai người kế tục lớn nhất đồng ý với những điều ấy nhưng tách nhau ở một câu hỏi gốc: bản tính con người ra sao.
| Điểm so sánh | Mạnh Tử | Tuân Tử |
|---|---|---|
| Tính người | Vốn thiện. Ai thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng cũng động lòng | Vốn hướng về tư lợi. Cái thiện là do công sức con người làm ra |
| Gốc của đạo đức | Bốn mầm có sẵn: trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi | Lễ và thầy uốn nắn, như uốn gỗ cong cho thẳng |
| Việc tu dưỡng | Nuôi giữ cái mầm cho khỏi mất | Học tập bền bỉ, tích lũy mà nên người |
| Trời | Trời có ý chí đạo đức, gắn với mệnh | Trời là tự nhiên, có lệ thường, không đáp lời cầu xin |
| Chính trị | Dân là quý, vua là nhẹ. Vua bất nhân thì mất tư cách vua | Lễ nghĩa do thánh vương đặt ra để phân định, tránh tranh giành |
Hay có người nghĩ Tuân Tử dạy con người là ác nên xem nhẹ đạo đức. Thực ra ông coi trọng đạo đức hơn ai hết, chỉ cho rằng nó phải được học và rèn chứ không tự có. Chữ ác trong câu tính người vốn ác nên hiểu là thô, chưa được gọt giũa.
IVHọc, Lễ Và Việc Làm Quan
Thực hành của Nho Tiên Tần gói trong ba việc. Thứ nhất là học: học Thi, Thư, lễ, nhạc, cùng sáu nghệ lễ, nhạc, bắn, cưỡi, viết, tính. Thứ hai là giữ lễ trong đời thường, từ cách để tang cha mẹ tới cách tiếp khách. Thứ ba là ra làm quan để đem đạo vào việc trị dân. Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử đều từng đi thuyết các vua, và cả ba đều ít được dùng như ý.
Theo Luận Ngữ, Khổng Tử nhận dạy mọi người, chỉ cần đem lễ vật nhỏ tới xin học. Nho gia về sau coi đó là mốc mở việc học ra ngoài tầng lớp quý tộc.
VTruyền Thừa
Nho Tiên Tần không có tổ chức theo nghĩa giáo hội. Nó truyền qua các nhóm thầy trò, qua những nơi như học cung Tắc Hạ ở nước Tề, nơi vua nuôi học giả nhiều phái để bàn luận. Kinh điển của thời này còn lại tới nay là Luận Ngữ, Mạnh Tử, Tuân Tử, cùng các phần trong Lễ Ký như Đại Học, Trung Dung, được đời sau gán cho Tăng Tử và Tử Tư.
VITại Việt Nam
Nho Tiên Tần không có mặt ở Việt Nam như một cộng đồng, vì chính nó cũng không phải cộng đồng. Nó có mặt qua sách. Luận Ngữ và Mạnh Tử nằm trong Tứ Thư mà sĩ tử Việt học suốt 844 năm khoa cử, từ năm 1075 tới năm 1919. Ở Văn Miếu Hà Nội, Khổng Tử được thờ chính giữa, Mạnh Tử và Tử Tư nằm trong hàng Tứ Phối. Nhiều câu người Việt nói hằng ngày như điều mình không muốn thì đừng làm cho người, hay dân vi quý, đều đi thẳng từ các sách của giai đoạn này.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Hạnh Đàn
杏壇
VIIICác Nhánh Con
- Khổng Tử
- Mạnh Tử
- Tuân Tử
IXCác Nhánh Khác Của Nho Giáo
XNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nho Tiên Tần khác Tống Nho thế nào?
Nho Tiên Tần bàn đạo làm người và phép trị nước bằng những lời cụ thể. Tống Nho, hơn một nghìn năm sau, dựng thêm một vũ trụ luận về lý và khí để giải thích vì sao đạo đức có gốc trong trời đất.
Mạnh Tử và Tuân Tử ai đúng?
Trang này không phân xử. Mỗi bên có lý lẽ riêng và đều nhận mình nối Khổng Tử. Lịch sử cho thấy đời Tống chọn Mạnh Tử làm chuẩn, còn tư tưởng Tuân Tử ảnh hưởng mạnh tới lối trị nước đời Hán.
Khổng Tử có viết sách không?
Luận Ngữ không do ông viết mà do học trò chép lại qua nhiều lớp. Truyền thống cho rằng ông san định Ngũ Kinh và soạn Xuân Thu, nhưng phần lớn giới nghiên cứu nay không nhận điều ấy.