ITổng Quan
Nho học Việt Nam là cách người Việt tiếp nhận, dạy, thi và sống theo Nho học suốt gần một nghìn năm. Nó thành hệ thống từ nhà Lý, với Văn Miếu năm 1070, khoa thi đầu năm 1075, Quốc Tử Giám năm 1076. Nó lên địa vị độc tôn thời Lê sơ, tiếp tục dưới triều Nguyễn, và khép lại về mặt thiết chế với khoa thi cuối năm 1919.
Nho học ở Việt Nam là một truyền thống học thuật và đạo đức, không phải một giáo hội. Không có người đứng đầu, không có sổ tín đồ, không có tu sĩ. Người được gọi là nhà nho là người đã học chữ thánh hiền, không phải người đã qua lễ nhập đạo. Vì vậy hôm nay không thể đếm số người theo, dù dấu vết của nó có mặt trong gần như mọi gia đình Việt.
IILịch Sử Hình Thành
- Đầu Công nguyên tới thế kỷ 3Thời Bắc thuộcTích Quang, Nhâm Diên dạy lễ nghĩa, Sĩ Nhiếp được tôn là Học Tổ Nam Bang. Ảnh hưởng còn hẹp.
- 1070 tới 1076Nhà Lý dựng nềnLập Văn Miếu năm 1070, mở khoa thi đầu tiên năm 1075, lập Quốc Tử Giám năm 1076.
- Thế kỷ 14Chu Văn AnNgười thầy dạy ở Quốc Tử Giám đời Trần, về sau được thờ ở Văn Miếu Hà Nội.
- 1428 tới 1527Lê sơ độc tôn NhoHơn một trăm năm, 26 khoa thi tiến sĩ, 989 tiến sĩ. Lệ dựng bia tiến sĩ bắt đầu năm 1484.
- 1808 tới 1834Triều NguyễnVăn Miếu Huế dựng năm 1808, Minh Mạng mở trường tới phủ huyện năm 1823 và ban Mười huấn điều năm 1834.
- 1919Khoa thi cuốiKhoa thi Hội và thi Đình cuối cùng ở Huế, khép lại 844 năm khoa cử.
Theo tư liệu của Văn Miếu Quốc Tử Giám, nền khoa cử ấy có 183 khoa thi lớn với 2.898 tiến sĩ và phó bảng. Các con số khác nhau tùy cách tính các khoa và các triều, nên nên đọc như số liệu của một nguồn chứ không phải con số duy nhất.
IIIĐặc Điểm Của Nho Học Việt
Về kinh điển, Nho học Việt Nam theo Tống Nho, học Tứ Thư theo chú giải Chu Hy. Nhưng nó có mấy nét riêng. Thứ nhất, nó sống chung với Phật Giáo, Đạo Giáo và tín ngưỡng bản địa, nhiều nhà nho vừa làm quan theo Nho vừa đi chùa, vừa thờ thành hoàng. Thứ hai, nó gắn với ý thức tự chủ: học chữ Hán, thi theo lối phương Bắc, nhưng để dựng một nhà nước riêng. Thứ ba, chữ trung với vua và chữ hiếu với cha mẹ được nhấn mạnh hơn cả, thành lõi của nếp nhà.
Hiểu lầm hay gặp là coi mọi lễ tục cổ truyền đều là Nho. Thờ cúng tổ tiên có thể có nền bản địa từ trước, Nho cấp cho nó khuôn lễ và cách lý giải bằng chữ hiếu. Đình làng thờ thành hoàng, đốt vàng mã, xem ngày giờ đều không nằm trong sách gia lễ của nhà nho.
IVNhững Nhà Nho Tiêu Biểu
| Người | Thời gian | Dấu ấn |
|---|---|---|
| Chu Văn An | 1292 tới 1370 | Thầy dạy Quốc Tử Giám đời Trần, được thờ ở Văn Miếu |
| Lê Thánh Tông | Trị vì 1460 tới 1497 | Đưa Nho học lên độc tôn, ban 24 điều giáo huấn |
| Nguyễn Bỉnh Khiêm | 1491 tới 1585 | Nhà nho đời Mạc, dạy học, được dân gian tôn là Trạng Trình |
| Lê Quý Đôn | 1726 tới 1784 | Nhà bác học đời Lê trung hưng, soạn nhiều bộ sách lớn |
| Hồ Sĩ Tân | 1690 tới 1760 | Tác giả Thọ Mai gia lễ, khuôn tang lễ của nhiều gia đình Việt |
| Trần Trọng Kim | 1883 tới 1953 | Soạn bộ Nho giáo đầu thập niên 1930, tổng kết Nho học bằng chữ quốc ngữ |
VHọc, Thi, Tế Và Gia Lễ
Nho học Việt sống ở bốn tầng. Tầng triều đình có Văn Miếu, tế Khổng Tử xuân thu nhị kỳ. Tầng làng xã có hội Tư văn, nhóm những người có học trong làng, lo việc tế ở văn chỉ, văn từ, nơi thờ Khổng Tử và các bậc khoa bảng của làng. Tầng dòng họ có từ đường, gia phả, giỗ họ. Tầng gia đình có bàn thờ gia tiên và các nghi thức tang, giỗ, cưới theo sách gia lễ như Thọ Mai gia lễ.
VINgày Nay
Nho học không nằm trong 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, và không có tổ chức nào đại diện. Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám quản lý, là nơi vinh danh thủ khoa, xin chữ đầu năm và tổ chức lễ tế Khổng Tử. 82 bia tiến sĩ tại đây, ghi các khoa từ 1442 tới 1779, được UNESCO đưa vào Chương trình Ký ức Thế giới năm 2011.
Ngoài Hà Nội còn Văn Miếu Mao Điền ở Hải Dương cũ nay thuộc Hải Phòng, Văn Miếu Xích Đằng ở Hưng Yên, Văn Thánh Miếu Huế dựng năm 1808, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long dựng năm 1866. Nhiều hội khuyến học và dòng họ vẫn làm lễ ở các văn chỉ làng.
Dấu vết sâu nhất vẫn là nếp nhà: bàn thờ gia tiên, ngày giỗ theo âm lịch, gia phả được chép tiếp, và những câu như tôn sư trọng đạo hay tiên học lễ hậu học văn. Nho học Việt Nam hôm nay ít là một học thuyết người ta chọn theo, mà là một lớp văn hóa người ta sống cùng.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Khuê Văn Các
奎文閣
VIIICác Nhánh Khác Của Nho Giáo
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nho giáo có phải tôn giáo được công nhận ở Việt Nam không?
Không. Nho giáo không nằm trong 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và không có tổ chức đại diện. Văn Miếu là di tích do cơ quan văn hóa quản lý.
Khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam là năm nào?
Năm 1919, dưới triều Khải Định, tại Huế. Lễ truyền lô ngày 24 tháng 5 năm 1919 lấy bảy tiến sĩ và mười sáu phó bảng, khép lại 844 năm khoa cử.
Hội Tư văn là gì?
Là nhóm những người có học trong một làng thời xưa, lo việc tế lễ ở văn chỉ, văn từ, nơi thờ Khổng Tử và các vị đỗ đạt của làng. Hội cũng góp phần giữ việc học và phong tục trong làng.
Văn Miếu Quốc Tử Giám có bao nhiêu bia tiến sĩ?
Hiện còn 82 bia, ghi các khoa thi từ năm 1442 tới năm 1779, được UNESCO ghi vào Chương trình Ký ức Thế giới năm 2011.