ITổng Quan
Hán Nho là Nho học đời Hán, từ năm 206 trước Công nguyên tới năm 220. Đây là giai đoạn Nho được triều đình chọn làm học thuyết chính thống, có quan chức chuyên giảng kinh và có trường Thái học đào tạo người làm quan. Nhân vật tiêu biểu là Đổng Trọng Thư, 179 tới 104 trước Công nguyên.
Hán Nho không phải một tổ chức hay giáo hội. Nó là lối học và lối giải kinh của các học giả đời Hán, gắn chặt với bộ máy nhà nước. Chỗ riêng của nó so với Nho Tiên Tần là việc ghép lời Khổng Mạnh với vũ trụ luận âm dương ngũ hành, để giải thích vì sao vua phải có đức và vì sao trời báo điềm khi vua làm sai.
IILịch Sử Hình Thành
Nhà Tần đốt sách năm 213 trước Công nguyên. Đầu đời Hán, triều đình theo lối Hoàng Lão, tức Đạo gia về trị nước, chuộng vô vi. Các nhà nho phải chép lại kinh điển từ trí nhớ và từ những bản sót lại. Tới đời Hán Vũ Đế, tình thế đổi hẳn.
- Khoảng 140 tới 134 TCNThiên nhân tam sáchĐổng Trọng Thư dâng ba bài đối sách, đề nghị bãi bỏ bách gia, chỉ tôn Nho thuật. Năm cụ thể các nguồn ghi khác nhau.
- 136 TCNĐặt Ngũ Kinh bác sĩTriều đình đặt chức bác sĩ chuyên giảng Ngũ Kinh, Nho học thành học thuyết nhà nước.
- 124 TCNLập Thái họcTrường Thái học ở kinh đô lấy Ngũ Kinh làm chương trình, đào tạo người vào bộ máy.
- 79Hội nghị Bạch Hổ QuanVua Hán Chương Đế họp các nhà nho bàn chỗ vênh nhau giữa các bản kinh. Kết quả ghi trong Bạch Hổ Thông, trong đó Tam Cương được nêu thành hệ thống.
- 127 tới 200Trịnh HuyềnChú giải gần như toàn bộ kinh điển, dung hòa hai phái kim văn và cổ văn.
- 220Nhà Hán mấtThời loạn Tam Quốc, Huyền học và Phật Giáo nổi lên, Hán Nho mất vị trí trung tâm.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Thuyết trung tâm của Đổng Trọng Thư là thiên nhân cảm ứng 天人感應: trời và người cùng một khuôn, tác động qua lại. Vua là thiên tử, nhận mệnh trời để trị dân. Khi vua làm sai, trời giáng tai dị như lụt, hạn, nhật thực để cảnh báo. Nếu vua không sửa, trời có thể rút mệnh. Sách chính của ông là Xuân Thu phồn lộ, giải Kinh Xuân Thu theo hướng này.
Hán Nho cũng đặt ra những bộ khái niệm mà người Việt còn nghe tới nay. Ngũ Thường gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tam Cương là vua tôi, cha con, chồng vợ, được Đổng Trọng Thư diễn theo âm dương: bên trên là dương, bên dưới là âm.
Học giới đời Hán chia hai phái lớn về bản kinh. Phái kim văn dùng các bản chép bằng lối chữ đời Hán, thiên về giải nghĩa lớn, có khi pha sấm vĩ. Phái cổ văn dùng các bản chép bằng chữ cổ được tìm lại, trong đó có bản tương truyền lấy từ vách nhà cũ họ Khổng, thiên về chú giải văn tự. Cuộc tranh luận này còn được các nhà khảo chứng đời Thanh và Khang Hữu Vi cuối thế kỷ 19 khơi lại.
Người ta hay nghĩ Tam Cương và Ngũ Thường là lời Khổng Tử. Thực ra cả hai bộ đều không có trong Luận Ngữ mà do đời Hán hệ thống hóa. Phân biệt điều này giúp hiểu vì sao phong trào Tân Văn Hóa đầu thế kỷ 20 phê phán Tam Cương mà một số nhà Tân Nho vẫn bênh Khổng Tử.
IVKinh Học, Tế Lễ Và Tuyển Quan
Đời sống của Hán Nho xoay quanh kinh học. Mỗi bộ kinh có các nhà truyền riêng, học trò phải giữ đúng lời giải của thầy, gọi là giữ gia pháp. Nhà nước tuyển người qua lệ tiến cử hiếu liêm, tức cử người hiếu thảo và thanh liêm, rồi xét học vấn. Triều đình cũng cho khắc Ngũ Kinh lên bia đá, gọi là Hy Bình thạch kinh, từ năm 175 tới năm 183, để có một bản chuẩn chung.
VVị Trí Trong Lịch Sử Nho Học
Hán Nho để lại hai di sản lâu dài. Một là mô hình nhà nước lấy Nho học làm học thuyết chính thống và lấy người học Nho làm quan, mô hình mà Việt Nam, Triều Tiên về sau đều theo. Hai là thói quen giải thích chính trị bằng âm dương ngũ hành. Đời Tống, các nhà Lý học chê phần điềm trời và sấm vĩ, nhưng vẫn giữ khuôn nhà nước Nho giáo mà đời Hán dựng nên.
VITại Việt Nam
Hán Nho là lớp Nho học đầu tiên chạm tới đất Việt. Sử chép Tích Quang, thái thú Giao Chỉ, và Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân, đầu Công nguyên dạy dân lễ nghĩa và phép cưới hỏi. Cuối đời Hán, Sĩ Nhiếp, 137 tới 226, cai quản Giao Chỉ và được đời sau tôn là Học Tổ Nam Bang.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng thời này còn hẹp, chủ yếu ở tầng lớp quan lại và người giao thiệp với chính quyền đô hộ. Phải đợi nhà Lý, với Văn Miếu năm 1070 và khoa thi năm 1075, Nho học mới thật sự thành hệ thống ở Việt Nam. Ngày nay không có cộng đồng nào tự nhận theo Hán Nho.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.
VIIICác Nhánh Khác Của Nho Giáo
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đổng Trọng Thư có công gì với Nho học?
Ông đề nghị Hán Vũ Đế chỉ tôn Nho thuật, mở đường cho Nho thành học thuyết nhà nước. Ông cũng ghép Nho với âm dương ngũ hành qua thuyết thiên nhân cảm ứng, tạo khuôn giải thích chính trị dùng suốt đời Hán.
Kim văn và cổ văn khác nhau ra sao?
Đó là hai phái kinh học đời Hán dựa trên hai loại bản kinh. Kim văn dùng bản chép bằng chữ đời Hán và chuộng nghĩa lớn. Cổ văn dùng bản chữ cổ tìm lại được và chuộng chú giải văn tự.
Tam Cương có từ đời nào?
Ba giềng mối vua tôi, cha con, chồng vợ được Đổng Trọng Thư diễn giải và được Bạch Hổ Thông năm 79 nêu thành hệ thống. Luận Ngữ không có bộ khái niệm này.