VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm

Hành lễ tại Vạn Đạo Đường

Tam Giáo Á ĐôngNho Giáo

Mỗi máy một lượt ở mỗi khám, nghỉ 3 phút rồi mới làm tiếp. Làm khi lòng thật muốn.

Ba nén lớn cháy theo giờ Việt Nam, dù bạn ở múi giờ nào.

···lượt thành tâm
Mốc kế tiếp
· Hôm nay· Tuần này· Đang cháy

Vào Chính Điện, đủ 19 khám
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hán Nho: Đổng Trọng Thư, Thiên Nhân Cảm Ứng Và Lúc Nho Học Thành Học Thuyết Nhà Nước

漢儒, Hán đại Nho học

Đời Hán là lúc Nho học rời vai một học phái để thành khuôn của nhà nước. Cái giá của bước ấy là Nho phải ghép mình với âm dương, ngũ hành và điềm trời.

Khởi lập
Thế kỷ 2 trước Công nguyên, triều Tây Hán, Trung Hoa
Vùng
Trung Hoa đời Hán và các quận thuộc Hán, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân
Số tín đồ
Không áp dụng. Là một giai đoạn và một lối học, không có thành viên.
Tại Việt Nam
Nho vào Giao Chỉ từ thời Bắc thuộc, cùng thời với Hán Nho, qua các quan cai trị

ITổng Quan

Hán Nho là Nho học đời Hán, từ năm 206 trước Công nguyên tới năm 220. Đây là giai đoạn Nho được triều đình chọn làm học thuyết chính thống, có quan chức chuyên giảng kinh và có trường Thái học đào tạo người làm quan. Nhân vật tiêu biểu là Đổng Trọng Thư, 179 tới 104 trước Công nguyên.

Hán Nho không phải một tổ chức hay giáo hội. Nó là lối học và lối giải kinh của các học giả đời Hán, gắn chặt với bộ máy nhà nước. Chỗ riêng của nó so với Nho Tiên Tần là việc ghép lời Khổng Mạnh với vũ trụ luận âm dương ngũ hành, để giải thích vì sao vua phải có đức và vì sao trời báo điềm khi vua làm sai.

IILịch Sử Hình Thành

Nhà Tần đốt sách năm 213 trước Công nguyên. Đầu đời Hán, triều đình theo lối Hoàng Lão, tức Đạo gia về trị nước, chuộng vô vi. Các nhà nho phải chép lại kinh điển từ trí nhớ và từ những bản sót lại. Tới đời Hán Vũ Đế, tình thế đổi hẳn.

  • Khoảng 140 tới 134 TCNThiên nhân tam sách
    Đổng Trọng Thư dâng ba bài đối sách, đề nghị bãi bỏ bách gia, chỉ tôn Nho thuật. Năm cụ thể các nguồn ghi khác nhau.
  • 136 TCNĐặt Ngũ Kinh bác sĩ
    Triều đình đặt chức bác sĩ chuyên giảng Ngũ Kinh, Nho học thành học thuyết nhà nước.
  • 124 TCNLập Thái học
    Trường Thái học ở kinh đô lấy Ngũ Kinh làm chương trình, đào tạo người vào bộ máy.
  • 79Hội nghị Bạch Hổ Quan
    Vua Hán Chương Đế họp các nhà nho bàn chỗ vênh nhau giữa các bản kinh. Kết quả ghi trong Bạch Hổ Thông, trong đó Tam Cương được nêu thành hệ thống.
  • 127 tới 200Trịnh Huyền
    Chú giải gần như toàn bộ kinh điển, dung hòa hai phái kim văn và cổ văn.
  • 220Nhà Hán mất
    Thời loạn Tam Quốc, Huyền học và Phật Giáo nổi lên, Hán Nho mất vị trí trung tâm.

IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng

Thuyết trung tâm của Đổng Trọng Thư là thiên nhân cảm ứng 天人感應: trời và người cùng một khuôn, tác động qua lại. Vua là thiên tử, nhận mệnh trời để trị dân. Khi vua làm sai, trời giáng tai dị như lụt, hạn, nhật thực để cảnh báo. Nếu vua không sửa, trời có thể rút mệnh. Sách chính của ông là Xuân Thu phồn lộ, giải Kinh Xuân Thu theo hướng này.

Hán Nho cũng đặt ra những bộ khái niệm mà người Việt còn nghe tới nay. Ngũ Thường gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tam Cương là vua tôi, cha con, chồng vợ, được Đổng Trọng Thư diễn theo âm dương: bên trên là dương, bên dưới là âm.

Theo sử liệu

Học giới đời Hán chia hai phái lớn về bản kinh. Phái kim văn dùng các bản chép bằng lối chữ đời Hán, thiên về giải nghĩa lớn, có khi pha sấm vĩ. Phái cổ văn dùng các bản chép bằng chữ cổ được tìm lại, trong đó có bản tương truyền lấy từ vách nhà cũ họ Khổng, thiên về chú giải văn tự. Cuộc tranh luận này còn được các nhà khảo chứng đời Thanh và Khang Hữu Vi cuối thế kỷ 19 khơi lại.

Chỗ hay hiểu lầm

Người ta hay nghĩ Tam Cương và Ngũ Thường là lời Khổng Tử. Thực ra cả hai bộ đều không có trong Luận Ngữ mà do đời Hán hệ thống hóa. Phân biệt điều này giúp hiểu vì sao phong trào Tân Văn Hóa đầu thế kỷ 20 phê phán Tam Cương mà một số nhà Tân Nho vẫn bênh Khổng Tử.

IVKinh Học, Tế Lễ Và Tuyển Quan

Đời sống của Hán Nho xoay quanh kinh học. Mỗi bộ kinh có các nhà truyền riêng, học trò phải giữ đúng lời giải của thầy, gọi là giữ gia pháp. Nhà nước tuyển người qua lệ tiến cử hiếu liêm, tức cử người hiếu thảo và thanh liêm, rồi xét học vấn. Triều đình cũng cho khắc Ngũ Kinh lên bia đá, gọi là Hy Bình thạch kinh, từ năm 175 tới năm 183, để có một bản chuẩn chung.

VVị Trí Trong Lịch Sử Nho Học

Hán Nho để lại hai di sản lâu dài. Một là mô hình nhà nước lấy Nho học làm học thuyết chính thống và lấy người học Nho làm quan, mô hình mà Việt Nam, Triều Tiên về sau đều theo. Hai là thói quen giải thích chính trị bằng âm dương ngũ hành. Đời Tống, các nhà Lý học chê phần điềm trời và sấm vĩ, nhưng vẫn giữ khuôn nhà nước Nho giáo mà đời Hán dựng nên.

VITại Việt Nam

Hán Nho là lớp Nho học đầu tiên chạm tới đất Việt. Sử chép Tích Quang, thái thú Giao Chỉ, và Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân, đầu Công nguyên dạy dân lễ nghĩa và phép cưới hỏi. Cuối đời Hán, Sĩ Nhiếp, 137 tới 226, cai quản Giao Chỉ và được đời sau tôn là Học Tổ Nam Bang.

Theo sử liệu

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng thời này còn hẹp, chủ yếu ở tầng lớp quan lại và người giao thiệp với chính quyền đô hộ. Phải đợi nhà Lý, với Văn Miếu năm 1070 và khoa thi năm 1075, Nho học mới thật sự thành hệ thống ở Việt Nam. Ngày nay không có cộng đồng nào tự nhận theo Hán Nho.

VIIBiểu Tượng Của Nhánh

Hán Nho

Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.

VIIICác Nhánh Khác Của Nho Giáo

Tống Nho, Lý Học Trình Chu宋明理學 程朱學派, Trình Chu lý họcDòng dựng cặp lý và khí thành vũ trụ luận đầy đủ, đường tu là cách vật trí tri.Nho Tiên Tần先秦儒家, Tiên Tần Nho giaNho thời Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, bàn đạo làm người và phép trị nước, chưa dựng siêu hình học.Tâm Học Lục Vương陸王心學, 陽明心學Chủ trương lý ở trong tâm chứ không ở ngoài vật.Dùng biểu tượng chung của đạoHán Nho漢儒, Hán đại Nho họcĐổng Trọng Thư đề nghị bãi bỏ bách gia, lấy Nho làm học thuyết chính thống.Dùng biểu tượng chung của đạoThanh Nho Khảo Chứng考證學, 樸學, Hán học 漢學Đời Thanh, giới học giả quay về khảo cứu văn tự để tìm đúng lời thánh hiền, gọi là Hán học, đối lại Tống học trọng nghĩa lý.Dùng biểu tượng chung của đạoTân Nho Gia新儒家, 當代新儒學Dòng thế kỷ 20 đáp lại phong trào Ngũ Tứ, nhận khoa học và dân chủ phương Tây mà vẫn giữ mạch học tâm tính.Dùng biểu tượng chung của đạoNho Học Việt NamNho học, Hội Tư văn, Văn MiếuNho ở Việt Nam thành hệ thống từ nhà Lý với Văn Miếu năm 1070, khoa thi 1075, Quốc Tử Giám 1076.Nho Giáo Hàn Quốc, Thành Quân Quán성균관 成均館 Seonggyungwan, 유교 YugyoThành Quân Quán lập ở Hán Dương ngày 25 tháng 9 năm 1398, nay là tổ chức Nho giáo của Hàn Quốc.Dùng biểu tượng chung của đạoKhổng Giáo IndonesiaAgama Khonghucu, MATAKIN (Majelis Tinggi Agama Khonghucu Indonesia)Dạng Nho giáo được tổ chức như một tôn giáo có hội đồng, nơi thờ và nghi lễ riêng, là một trong sáu tôn giáo được Nhà nước Indonesia công nhận.

IXNguồn Tham Khảo

Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.

  1. Wikipedia, Dong Zhongshu
  2. Stanford Encyclopedia of Philosophy, Dong Zhongshu
  3. Britannica, Dong Zhongshu
  4. Wikipedia, New Texts Confucianism

?Hỏi Đáp Nhanh

Đổng Trọng Thư có công gì với Nho học?

Ông đề nghị Hán Vũ Đế chỉ tôn Nho thuật, mở đường cho Nho thành học thuyết nhà nước. Ông cũng ghép Nho với âm dương ngũ hành qua thuyết thiên nhân cảm ứng, tạo khuôn giải thích chính trị dùng suốt đời Hán.

Kim văn và cổ văn khác nhau ra sao?

Đó là hai phái kinh học đời Hán dựa trên hai loại bản kinh. Kim văn dùng bản chép bằng chữ đời Hán và chuộng nghĩa lớn. Cổ văn dùng bản chữ cổ tìm lại được và chuộng chú giải văn tự.

Tam Cương có từ đời nào?

Ba giềng mối vua tôi, cha con, chồng vợ được Đổng Trọng Thư diễn giải và được Bạch Hổ Thông năm 79 nêu thành hệ thống. Luận Ngữ không có bộ khái niệm này.

›Đọc Tiếp