Men theo con đường rợp bóng thông xanh dẫn qua cổng Nam Đại Môn vào nội viện Chùa Pháp Long (Hōryū-ji) tại thị trấn cổ Ikaruga thuộc tỉnh Nara, quý vị sẽ bước vào một khoảng sân rải sỏi trắng mênh mang được bao bọc bởi dãy hành lang gỗ có hàng cột phình nhẹ ở phần thân giữa theo phong cách cổ đại. Ngay trước mắt là hai công trình gỗ đứng song hành suốt hơn mười ba thế kỷ: bên phải là tòa Kim Đường (Kondō) hai tầng mái uy nghiêm, bên trái là tòa Ngũ Trùng Tháp (Gojū-no-tō) vươn năm tầng diêm gỗ bách lên bầu trời vùng bồn địa Nara. Những thớ gỗ bách Nhật Bản (hinoki) tại đây đã được đốn hạ từ cuối thế kỷ 6 và đầu thế kỷ 7, biến nơi này thành quần thể kiến trúc gỗ cổ xưa nhất còn đứng vững trên mặt đất.
Được khởi dựng vào năm 607 SCN bởi Thái tử Shōtoku (Thánh Đức Thái Tử, 574 tới 622) cùng Nữ Thiên hoàng Suiko (Thôi Cổ Thiên Hoàng, trị vì 592 tới 628) để thực hiện di nguyện của tiên đế Yōmei, Chùa Pháp Long vừa là một già lam thờ Phật vừa là học viện Phật học đầu tiên của xứ Phù Tang dưới tên gọi Pháp Long Học Vấn Tự (Hōryū Gakumon-ji). Trải qua hơn 1.400 năm lịch sử với kho tàng gần 190 hạng mục công trình và cổ vật được xếp hạng Quốc bảo hoặc Tài sản Văn hóa Quan trọng của Nhật Bản, danh lam này đã trở thành di tích đầu tiên của đất nước Mặt Trời mọc được UNESCO vinh danh là Di sản Thế giới vào tháng 12 năm 1993.

IThánh Đức Thái Tử (Shōtoku Taishi), Đại Nguyện Của Thiên Hoàng Yōmei Và Cái Nôi Phật Giáo Asuka
Sự ra đời của Chùa Pháp Long gắn liền với giai đoạn chuyển mình lịch sử của Nhật Bản vào thời kỳ Asuka (538 tới 710), khi Phật giáo mới truyền từ vương quốc Bách Tế (Baekje) trên bán đảo Triều Tiên sang quần đảo Nhật Bản. Theo văn bia khắc trên vầng hào quang sau lưng pho tượng Dược Sư Như Lai (Yakushi Nyorai) đặt tại gian đông của Kim Đường, vào năm 586 SCN, Thiên hoàng Yōmei (Dụng Minh Thiên Hoàng, trị vì 585 tới 587) lâm trọng bệnh. Nhà vua đã phát nguyện trước hoàng hậu (sau này là Nữ Thiên hoàng Suiko) và hoàng tử Umayado (tức Thái tử Shōtoku) rằng sẽ kiến lập một ngôi già lam và đúc một pho tượng Phật Dược Sư để cầu tiêu trừ bệnh tật, nhưng nhà vua đã băng hà không lâu sau đó vào năm 587 trước khi tâm nguyện kịp hoàn thành.
Sau khi dẹp yên cuộc xung đột tôn giáo - chính trị với gia tộc Mononobe và lên giữ chức Nhiếp chính cho cô ruột là Nữ Thiên hoàng Suiko vào năm 593, Thái tử Shōtoku đã dời nơi ở từ vùng Asuka về xây dựng Ban Cưu Cung (Ikaruga no Miya, năm 601) tại vùng đất Ikaruga. Ngay sát bên hoàng cung của mình, Thái tử cùng Nữ Thiên hoàng Suiko đã đốc thúc khởi dựng ngôi chùa và hoàn tất đúc tượng Dược Sư Như Lai vào năm Đinh Mão, tức năm thứ 15 triều Thiên hoàng Suiko (607 SCN). Vì tọa lạc tại vùng đất Ikaruga nên đương thời ngôi chùa được gọi là Ban Cưu Tự (Ikaruga-dera, 斑鳩寺), đồng thời mang pháp hiệu Pháp Long Tự (Hōryū-ji, 法隆寺) với hàm ý nơi chánh pháp của Đức Phật hưng long thịnh vượng mãi mãi.
Trong lịch sử tư tưởng Nhật Bản, Thái tử Shōtoku (574 tới 622) được tôn sùng là vị tổ sư khai sáng nền văn minh Phật giáo của quốc gia, sánh ngang với vua A Dục (Ashoka) của Ấn Độ cổ đại. Vào năm 604, ngài ban hành Hiến pháp Mười bảy điều (Jūshichijō Kenpō), trong đó ngay tại Điều thứ 2 đã tuyên cáo trước bá quan văn võ: Hãy hết lòng thành kính quy y Tam Bảo, bởi Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng, là chốn quy hướng tối hậu của muôn loài và là chuẩn mực tối cao của vạn quốc. Chính tại không gian của vùng đất Ikaruga và Chùa Pháp Long, Thái tử Shōtoku đã đích thân giảng giải và biên soạn bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ (Sangyō Gisho, bản chú giải chữ Hán cổ nhất còn lưu giữ tại Nhật Bản về ba bộ kinh Đại thừa gồm Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật và Kinh Thắng Man).
Lý tưởng Phật giáo mà Thái tử Shōtoku gửi gắm vào Chùa Pháp Long thông qua ba bộ kinh này mang tính nhập thế sâu sắc: lấy lòng từ bi bình đẳng của Kinh Pháp Hoa làm nền tảng cứu độ mọi chúng sinh, lấy hình tượng cư sĩ Duy Ma Cật trong Kinh Duy Ma Cật làm mẫu mực cho người tu hành giữa chốn triều chính thế tục, và lấy hình ảnh Thắng Man Phu Nhân trong Kinh Thắng Man để tôn vinh vai trò hộ pháp của Nữ Thiên hoàng Suiko cùng giới nữ lưu. Suốt nhiều thế kỷ thời Nara và Heian, Chùa Pháp Long là trung tâm nghiên cứu Tam Luận tông và đặc biệt là Pháp Tướng tông (Hossō-shū, tức Duy Thức học). Tới năm 1950, nhà chùa chính thức tách khỏi Pháp Tướng tông để thành lập Thánh Đức tông (Shōtoku-shū, 聖徳宗), lấy Chùa Pháp Long làm Đại bản sơn phụng thờ cả chư Phật lẫn thánh đức của vị Thái tử khai sáng.
Hệ thống thờ tự tại Chùa Pháp Long được chia thành hai khu vực riêng biệt là Tây Viện (Sai-in Garan, khu già lam trung tâm) và Đông Viện (Tō-in Garan, dựng trên nền cũ của cung điện Ban Cưu). Trong lòng Kim Đường ở Tây Viện, bàn thờ trung tâm được chia làm ba gian ứng với ba cõi Tịnh Độ của ba vị Phật: chính giữa là bộ tượng Thích Ca Tam Tôn (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hai vị Bồ Tát Dược Vương và Dược Thượng) đúc bằng đồng mạ vàng năm 623 để cầu siêu độ cho Thái tử Shōtoku vừa viên tịch, gian bên đông thờ Dược Sư Như Lai (vị Phật của phương Đông Lưu Ly thế giới gắn với lời nguyện năm 607 của Thiên hoàng Yōmei), và gian bên tây thờ bộ tượng A Di Đà Tam Tôn (vị Phật của phương Tây Cực Lạc thế giới, đúc bù năm 1232 để cầu phúc cho thân mẫu Thái tử là Hoàng thái hậu Anahobe no Hashihito). Bốn góc bệ thờ đứng sừng sững bộ tượng gỗ Tứ Thiên Vương (Trì Quốc, Tăng Trưởng, Quảng Mục, Đa Văn) chạm khắc khoảng năm 650, cổ vật tượng Tứ Thiên Vương xưa nhất Nhật Bản.
Tại Đại Giảng Đường phía bắc Tây Viện tôn trí bộ tượng Dược Sư Tam Tôn bằng gỗ bách thếp vàng thời Heian (năm 990), trong khi tại Thánh Linh Viện (Shōryō-in) ở dãy đông lại thờ chính pho tượng gỗ Thánh Đức Thái Tử ở tuổi 35 đang cầm quạt nghi lễ giảng kinh Thắng Man (tạo tác năm 1121 thời Heian). Đặc biệt, tại trung tâm Mộng Điện (Yumedono) của Đông Viện là nơi tôn trí mật tượng Cứu Thế Quan Âm (Guze Kannon) cao 178,8 cm bằng gỗ long não nguyên khối thếp vàng, tương truyền được tạc theo đúng chiều cao và dung mạo của Thái tử Shōtoku lúc sinh thời, thể hiện niềm tin rằng Thái tử chính là hóa thân của Đức Quan Thế Âm Bồ Tátgiáng thế cứu đời.
Nhiều du khách khi nghe danh hiệu Bách Tế Quan Âm (Kudara Kannon, pho tượng gỗ cao 2,09 mét có dáng đứng mảnh mai thanh thoát bậc nhất mỹ thuật cổ đại Nhật Bản, hiện trưng bày tại Đại Bảo Tạng Viện của chùa) thường đinh ninh rằng tên gọi này có từ thời Asuka và pho tượng được đưa trực tiếp từ vương quốc Bách Tế (Triều Tiên) sang. Thực tế khảo cứu sử liệu của nhà chùa và Viện Bảo tàng Quốc gia Tokyo cho thấy trong suốt thời cổ đại và trung đại, các biên niên sử của Hōryū-ji chỉ ghi chép đây là tượng Hư Không Tạng Bồ Tát (Kokūzō Bosatsu), và cái tên Bách Tế Quan Âm mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ 17 đầu thời Edo. Quan trọng hơn, kết quả phân tích giải phẫu gỗ xác nhận phần thân chính của pho tượng được chạm từ một thân gỗ long não (kusunoki) còn phần hộp bệ và bình tịnh thủy làm bằng gỗ bách Nhật Bản (hinoki), hai loại gỗ đặc trưng của các xưởng điêu khắc vùng Asuka tại Nhật Bản vào thế kỷ 7 dưới bàn tay của các nghệ nhân gốc Bách Tế định cư tại Nara.
IIHơn Mười Bốn Thế Kỷ Trường Tồn Và Cuộc Tranh Luận Lịch Sử Về Đợt Tái Thiết Sau Năm 670
Lịch sử của Chùa Pháp Long vừa là biên niên sử sống động của kiến trúc Phật giáo Đông Á, vừa là tâm điểm của cuộc tranh luận học thuật nổi tiếng kéo dài suốt hơn một trăm năm trong giới sử học và khảo cổ học Nhật Bản xoay quanh vụ hỏa hoạn năm 670 được chép trong chính sử Nhật Bản Thư Kỷ (Nihon Shoki).
- 601 - 607Thái tử Shōtoku dựng Ban Cưu Cung và khởi lập Chùa Pháp LongNăm 601, Thái tử Shōtoku xây dựng cung điện tại Ikaruga. Năm 607 (năm thứ 15 triều Nữ Thiên hoàng Suiko), Thái tử và Thiên hoàng hoàn thành xây dựng Ban Cưu Tự (Chùa Pháp Long ban đầu, nay giới khảo cổ gọi là Nhược Thảo Già Lam Wakakusa-garan) cùng tượng Phật Dược Sư theo di nguyện của Thiên hoàng Yōmei.
- 622 - 623Thái tử Shōtoku viên tịch và Tori Busshi đúc tượng Thích Ca Tam TônNgày 22 tháng 2 năm 622, Thái tử Shōtoku viên tịch ở tuổi 49. Tháng 3 năm 623, hoàng thất và triều thần giao cho đại điêu khắc gia Kuratsukuri no Tori (Tori Busshi) hoàn thành bộ tượng Thích Ca Tam Tôn bằng đồng mạ vàng đặt tại Kim Đường để hồi hướng công đức cho Thái tử và vương phi.
- 30/4/670Trận hỏa hoạn do sét đánh chép trong Nhật Bản Thư KỷBộ chính sử Nhật Bản Thư Kỷ (biên soạn năm 720) chép rằng vào rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm thứ 9 triều Thiên hoàng Tenji (670), một trận cháy lớn sau mưa giông sét đánh đã thiêu rụi toàn bộ ngôi chùa ban đầu, không còn sót lại một mái nhà nào.
- Cuối thế kỷ 7 - 711Tái thiết hoàn chỉnh quần thể Tây Viện (Sai-in) tại vị trí hiện nayNgay sau vụ cháy năm 670, công cuộc tái thiết Tây Viện được tiến hành dịch nhẹ về phía tây bắc với Kim Đường hoàn thành vào khoảng thập niên 680 và Ngũ Trùng Tháp cùng Trung Môn hoàn tất vào năm 711 (năm đắp quần tượng đất sét trong lòng tháp và đôi tượng Kim Cương Lực Sĩ).
- 739Cao tăng Gyōshin (Hành Tín) kiến lập Đông Viện và Mộng ĐiệnNhận thấy nền cũ của cung điện Ban Cưu nơi Thái tử Shōtoku từng sống bị hoang phế sau biến cố năm 643, thiền sư Gyōshin đã tấu xin triều đình cho dựng khu Đông Viện (Tō-in) vào năm 739 với tòa Mộng Điện (Yumedono) hình bát giác ở trung tâm để thờ mật tượng Cứu Thế Quan Âm.
- 925 và 990Tái thiết Đại Giảng Đường sau vụ cháy phía bắcNăm 925 (thời Heian), khu vực phía bắc Tây Viện bị cháy do sét đánh. Năm 990, nhà chùa dựng lại tòa Đại Giảng Đường (Daikōdō) bề thế khép kín mặt bắc của hành lang Tây Viện và thỉnh bộ tượng Dược Sư Tam Tôn bằng gỗ thếp vàng vào thờ.
- 1939 và 2001Khai quật Nhược Thảo Già Lam và giám định niên đại vòng cây năm 594Năm 1939, học giả Ishida Mosaku khai quật nền móng Nhược Thảo Già Lam ở góc đông nam, chứng minh ngôi chùa năm 607 thực sự từng bị cháy năm 670. Tới năm 2001, Viện Nghiên cứu Tài sản Văn hóa Quốc gia Nara công bố kết quả đo vòng cây xác nhận trụ tâm (shinbashira) của Ngũ Trùng Tháp hiện tại được đốn hạ từ năm 594 SCN.
- 1949, 1950 và 1993Ra đời Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa và ghi danh Di sản Thế giới UNESCOVụ chập điện làm hỏng bích họa Kim Đường ngày 26 tháng 1 năm 1949 đã thúc đẩy Quốc hội Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa năm 1950. Tháng 12 năm 1993, quần thể Chùa Pháp Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới đầu tiên của Nhật Bản.
Cuộc tranh luận về việc liệu Kim Đường và Ngũ Trùng Tháp hiện nay của Chùa Pháp Long được xây từ năm 607 hay được dựng lại sau năm 670 (gọi là Pháp Long Tự tái kiến phi tái kiến luận tranh) là một trong những chương hấp dẫn nhất của sử học Nhật Bản hiện đại. Một bên là truyền thống nội tự và các kiến trúc sư như Sekino Tadashi đầu thế kỷ 20 dựa vào tỷ lệ thước đo Cao Ly (Koma-jaku) cùng phong cách thức cột cổ sơ để khẳng định công trình chưa từng bị cháy. Bên kia là các sử gia như Kume Kunitake và Kida Sadakichi căn cứ vào dòng ghi chép dứt khoát trong quyển 27 sách Nhật Bản Thư Kỷ ngày 30 tháng 4 năm 670 rằng Chùa Pháp Long bị cháy sau tiếng sấm lớn, không còn sót lại một ngôi nhà nào để khẳng định chùa đã được xây lại.
Lời giải cho mâu thuẫn giữa hai nguồn tư liệu đến từ khảo cổ học và khoa học tự nhiên. Cuộc khai quật năm 1939 tại khu vườn phía đông nam Tây Viện (khu Nhược Thảo Già Lam, Wakakusa-garan) đã tìm thấy nền đá tảng của một ngôi tháp và một kim đường cổ hơn nằm thẳng hàng theo trục bắc - nam lệch với trục hiện tại, đi kèm các mảnh ngói cháy xém mang hoa văn thời Asuka sơ kỳ, xác nhận ghi chép về vụ cháy năm 670 trong Nhật Bản Thư Kỷ là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, khi Viện Nghiên cứu Tài sản Văn hóa Quốc gia Nara áp dụng phương pháp niên đại học vòng cây (dendrochronology) lên các cấu kiện gỗ của khu Tây Viện hiện tại vào đầu thế kỷ 21, giới khoa học lại phát hiện một sự thật đáng kinh ngạc: cây gỗ bách làm trụ tâm (shinbashira) xuyên suốt lòng Ngũ Trùng Tháp đã được đốn hạ từ năm 594 SCN, và một số thanh gỗ trong Kim Đường có niên đại chặt hạ từ trước năm 670. Điều này chứng tỏ khi tái thiết Tây Viện ngay sau vụ cháy năm 670, các nghệ nhân thời Asuka đã tận dụng lại những cây gỗ quý đốn từ thời Thái tử Shōtoku còn lưu kho hoặc chuyển từ công trình cổ sang, giúp Hōryū-ji giữ vững vị thế công trình kiến trúc gỗ cổ nhất thế giới.
IIIKiến Trúc Tây Viện - Đông Viện, Kỹ Thuật Cột Trụ Tâm Chống Động Đất Và Kho Tàng Quốc Bảo
Khuôn viên Chùa Pháp Long rộng khoảng 18,7 hecta, bảo lưu 55 công trình kiến trúc cổ được xếp hạng bảo tồn (trong đó có tới 19 tòa nhà được xếp hạng Quốc bảo Nhật Bản từ thời Asuka, Nara, Heian, Kamakura và Muromachi). Khác với bố cục chùa tháp thời Tứ Thiên Vương Tự (Shitennō-ji ở Osaka) hay Nhược Thảo Già Lam ban đầu vốn xếp cổng, tháp và kim đường nằm thẳng hàng một trục dọc khiến tòa tháp che khuất chính điện, khu Tây Viện của Chùa Pháp Long sau năm 670 đã sáng tạo ra bố cục kiểu Pháp Long Tự (Hōryū-ji shiki garan haichi): đặt Kim Đường ở bên phải (phía đông) và Ngũ Trùng Tháp ở bên trái (phía tây) đứng song song cân xứng nhau trong lòng sân hành lang, giúp người hành hương vừa bước qua Trung Môn đã chiêm ngưỡng trọn vẹn cả bảo tháp chứa xá-lợi lẫn ngôi điện thờ Phật.
Nhìn kỹ vào hệ thống cột gỗ bách của Trung Môn, Kim Đường, Ngũ Trùng Tháp và dãy Hành lang (Kairō), quý vị sẽ nhận ra các thân cột tròn không thẳng đuột mà phình nhẹ ở khoảng một phần ba thân cột rồi thu nhỏ dần về phía đầu cột. Đây chính là kỹ thuật tạo độ phình entasis (tiếng Nhật gọi là dōbari 胴張り), một di sản kiến trúc khởi nguồn từ đền đài Hy Lạp cổ đại, truyền qua vùng Gandhara (Tây Bắc Ấn Độ) theo Con đường Tơ lụa sang Trung Hoa thời Bắc Ngụy - Nam Bắc triều, qua bán đảo Triều Tiên rồi dừng chân nguyên vẹn tại vùng đất Ikaruga này cùng với các vòm đấu củng chạm hình mây cuộn (kumo-hijiki) và lan can chữ Vạn (manji-kuzushi).
Khác với các cổng chùa thông thường có số gian lẻ (3 hoặc 5 gian) để mở lối đi chính giữa, Trung Môn của Hōryū-ji có mặt tiền rộng 4 gian với một cây cột gỗ đứng ngay chính giữa lối đi, chia cổng làm hai lối vào đông và tây. Hai bên cổng đặt đôi tượng Kim Cương Lực Sĩ (Niō: tượng A-hình sơn đỏ bên phải và tượng Hồng-hình sơn đen bên trái) đắp đất sét trên cốt gỗ năm 711, cặp tượng Hộ pháp Niō cổ xưa nhất còn tồn tại ở Nhật Bản.
Tòa chính điện lâu đời nhất của Tây Viện (dài 5 gian 18,5 mét, rộng 4 gian 15,2 mét, cao 17,8 mét) có hai tầng mái cong với hệ thống đấu củng hình mây và bốn cây cột hiên tầng một quấn rồng gỗ chạm nổi. Bên trong tôn trí pho tượng Thích Ca Tam Tôn bằng đồng mạ vàng do đại sư Tori Busshi đúc năm 623 với nụ cười cổ sơ (archaic smile) và nếp áo đối xứng uy nghiêm, cùng tượng Dược Sư Như Lai (607) và bộ tượng gỗ Tứ Thiên Vương (khoảng năm 650).
Ngôi bảo tháp năm tầng bằng gỗ cổ nhất thế giới có tỷ lệ thu nhỏ dần cực kỳ duyên dáng: chiều rộng tầng năm trên cùng chỉ bằng đúng một nửa chiều rộng tầng một (tỷ lệ 10:9:8:7:5). Xuyên suốt từ đỉnh tháp xuống tảng đá tảng chôn sâu 3 mét dưới lòng đất (nơi cất giữ bình xá-lợi bằng thủy tinh, vàng và bạc) là cây trụ tâm (shinbashira) đường kính gần 1 mét bằng gỗ bách chặt hạ năm 594 SCN, hoạt động như một con lắc giảm chấn độc lập giúp ngọn tháp đứng vững qua hàng trăm trận động đất lớn suốt hơn 1.300 năm mà chưa một lần đổ sụp.
Bao quanh bốn mặt chân trụ tâm ở tầng trệt Ngũ Trùng Tháp là bốn hang núi giả đắp đất sét cùng 80 bức tượng đất nung sống động tạo tác năm 711: mặt Đông tái hiện cuộc đối pháp giữa cư sĩ Duy Ma Cật và Bồ Tát Văn Thù, mặt Bắc khắc họa cảnh Đức Phật Thích Ca nhập Niết-bàn với các đệ tử khóc thương bi thiết, mặt Tây là cảnh chia xá-lợi Phật và mặt Nam là cõi Tịnh Độ của Phật Di Lặc.
Cách Tây Viện khoảng 300 mét về phía đông là khu Đông Viện do thiền sư Gyōshin dựng năm 739 trên nền cung điện cũ của Thái tử Shōtoku. Trung tâm Đông Viện là tòa Mộng Điện (Yumedono) hình bát giác lợp ngói với bảo châu bằng đồng mạ vàng tỏa tia sáng trên đỉnh mái. Bên trong khám thờ bát giác giữa điện lưu giữ mật tượng Cứu Thế Quan Âm bằng gỗ long não thếp vàng cao 178,8 cm, từng được bọc kín trong hàng trăm thước vải trắng suốt hàng thế kỷ cho tới năm 1884 và nay chỉ mở cửa chiêm bái định kỳ vào mùa xuân và mùa thu.
Khu nhà bảo tàng Đại Bảo Tạng Viện (Daihozō-in, khánh thành năm 1998) lưu giữ những báu vật vô giá thời Asuka và Nara: pho tượng Bách Tế Quan Âm cao 2,09 mét, chiếc khám thờ Ngọc Trùng Trù Tử (Tamamushi no Zushi) cao 2,33 mét từng được trang sức bằng hàng ngàn cánh bọ cánh cứng ngũ sắc (ngọc trùng) dưới lớp viền đồng chạm trổ kèm bức tranh sơn mài vẽ tích Xả thân nuôi hổ (Shashin-shikō) cổ nhất Nhật Bản, và khám thờ Quất Phu Nhân Niệm Trì Phật.
Một sự kiện lịch sử gắn liền với tòa Kim Đường của Chùa Pháp Long là vụ chập đệm sưởi điện của thợ chép tranh vào sáng sớm ngày 26 tháng 1 năm 1949, khi công trình đang được tháo dỡ tầng trên để trùng tu. Ngọn lửa đã làm cháy sạm mười hai bức bích họa tuyệt mỹ thời đầu thế kỷ 8 vẽ cảnh Tịnh Độ của bốn vị Phật và các vị Bồ Tát (những bức tranh tường từng được sánh ngang với bích họa hang đá Đôn Hoàng ở Trung Quốc và hang Ajanta ở Ấn Độ). Nỗi tiếc thương chấn động toàn xã hội Nhật Bản trước tổn thất ấy đã trực tiếp dẫn tới việc Quốc hội Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa (Bunkazai Hogohō) vào năm 1950 và chọn ngày 26 tháng 1 hằng năm làm Ngày Phòng cháy Tài sản Văn hóa toàn quốc. Phần tường gốc bị cháy sạm cùng các bức bích họa vẫn được gia cố hóa học và bảo quản nghiêm ngặt trong kho chuyên dụng của chùa, còn trên tường Kim Đường hiện nay là bộ tranh phục dựng hoàn hảo do 14 danh họa hàng đầu Nhật Bản như Yasuda Yukihiko và Maeda Seison thực hiện vào năm 1967. Quý vị muốn tìm hiểu thêm về các đại tự viện cổ của tỉnh Nara có thể xem bài viết về Chùa Đông Đại (Tōdai-ji).
IVThế Đất Và Hướng
Theo giáo nghĩa nguyên thủy, Phật giáo không đặt nền tảng giải thoát trên thuật phong thủy địa lý, nhưng khi truyền vào Nhật Bản thời Asuka và Nara thông qua các học giả tinh thông Âm Dương đạo (Onmyōdō) và lịch pháp từ Bách Tế cùng Trung Hoa, việc chọn đất lập cung thất và già lam tại vùng Ikaruga đã tuân thủ chặt chẽ phép Tứ Thần Tương Ứng (Shijin Sōō, 四神相応). Phần dưới đây trình bày góc nhìn đối chiếu thế đất thực địa của Chùa Pháp Long theo phép phong thủy hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét về đại cục sơn thủy và long mạch, Chùa Pháp Long tọa lạc tại tọa độ 34,61444 độ vĩ Bắc và 135,73417 độ kinh Đông, nằm ở rìa phía tây bắc của vùng bồn địa Nara (còn gọi là bình nguyên Yamato). Từ phía bắc và tây bắc của ngôi chùa, dãy núi Yata (Yata-kyūryō, 矢田丘陵) và sườn đồi Matsuo-yama hạ thấp dần độ cao thành những ngọn đồi thông thoai thoải ôm bọc lấy toàn bộ khu vực Tây Viện và Đông Viện, đóng vai trò hậu chẩm Huyền Vũ vững chãi che chắn gió bấc mùa đông. Phía trước mặt chùa về hướng nam khoảng 1,5 km là dòng sông Yamato (Yamato-gawa, 大和川) chảy từ đông sang tây hợp lưu với dòng sông Tatsuta (Tatsuta-gawa, 竜田川) ở phía tây và dòng sông Tomio (Tomio-gawa, 富雄川) ở phía đông. Ba dòng sông này tạo thành thế tam thủy giao hội và đường ngọc đái thủy uốn vòng ôm lấy cánh đồng bằng phẳng màu mỡ của thị trấn Ikaruga, biến cả vùng đất thành một ngoại minh đường rộng rãi, tàng phong tụ khí đắc cách bậc nhất xứ Yamato.
Xét về sơn hướng và bố cục Âm Dương trong nội viện, trục chính từ Nam Đại Môn qua Trung Môn vào Đại Giảng Đường của Chùa Pháp Long được định vị theo hướng tọa Bắc hướng Nam (lệch nhẹ khoảng 3 tới 5 độ về hướng Nam Đông Nam sau đợt tái thiết cuối thế kỷ 7 để khớp với địa hình sườn đồi chân núi Yata, khác với trục của Nhược Thảo Già Lam năm 607 vốn lệch khoảng 20 độ về hướng Tây Nam). Trong nội cục Tây Viện, việc đặt Kim Đường (khối nhà ngang rộng lớn, thấp và đầm chắc, mang tính Âm - Địa) ở bên phải (phía đông, vế Tả Thanh Long nhìn từ Đại Giảng Đường xuống) và đặt Ngũ Trùng Tháp (khối tháp vươn cao vút 32,45 mét lên tầng không, mang tính Dương - Thiên) ở bên trái (phía tây, vế Hữu Bạch Hổ) tạo nên sự cân bằng động lực học và thị giác kỳ diệu giữa phương đứng và phương ngang, giữa trời và đất. Cùng với đó, sự phân chia giữa Tây Viện (khu già lam thờ Phật vĩnh cửu) ở phía tây và Đông Viện Mộng Điện (nền cung điện cũ thờ thánh linh Thái tử Shōtoku) ở phía đông còn kết nối trọn vẹn mạch khí giữa đạo pháp và vương quyền trên dải đất thiêng Ikaruga.
VĐại Lễ Thánh Linh Hội (Oshōryō-e), Lễ Mở Khám Cứu Thế Quan Âm Và Nghi Tiết Cổ Truyền
Là tổ đình của Thánh Đức tông với truyền thống lễ nhạc cung đình thời Asuka và Nara được gìn giữ suốt hơn mười bốn thế kỷ, Chùa Pháp Long duy trì hệ thống pháp hội trang nghiêm quanh năm, trong đó nổi bật nhất là các nghi lễ tưởng niệm Thái tử Shōtoku và hai đợt mở cửa khám thờ mật tượng Hibutsu vào mùa xuân và mùa thu.
| Thời gian (Dương lịch) | Tên pháp hội / Nghi lễ | Nội dung và nghi thức cổ truyền tiêu biểu |
|---|---|---|
| Ngày 8 tới 14 tháng 1 (Dương lịch) | Pháp hội Kim Đường Tu Chính Hội (Kondō Shushō-e) | Khóa lễ cầu nguyện quốc thái dân an đầu năm mới cử hành suốt bảy ngày đêm trong lòng Kim Đường cổ kính dưới ánh nến và tiếng tụng niệm thần chú cầu nguyện hòa bình từ thế kỷ 8. |
| Ngày 3 tháng 2 (Dương lịch) | Lễ hội Truy Na (Tsuina-e) tiết Lập xuân | Nghi thức trừ tà đón phúc vào đêm tiết Phân (Setsubun) diễn ra phía trước Tây Viên Đường (Saiendō, nơi thờ Dược Sư Như Lai Phong Minh), có ba vị quỷ thần Đỏ, Xanh, Đen xuất hiện rồi bị thần tướng Bì Sa Môn Thiên dùng gậy phép xua đuổi. |
| Ngày 22 tới 24 tháng 3 (Dương lịch) | Pháp hội Thánh Linh Hội (Oshōryō-e) tưởng niệm Thái tử Shōtoku | Đại lễ quan trọng nhất trong năm tưởng niệm ngày viên tịch của Thái tử Shōtoku tại Thánh Linh Viện, trình diễn vũ nhạc cung đình Gagaku và múa mặt nạ Bugaku cổ truyền trên sân khấu đá ngoài trời (cứ 10 năm một lần tổ chức quy mô cực lớn gọi là Đại Thánh Linh Hội). |
| Ngày 11 tháng 4 tới 18 tháng 5 (Dương lịch) | Đợt mở khám mùa xuân chiêm bái mật tượng Cứu Thế Quan Âm | Một trong hai dịp duy nhất trong năm nhà chùa mở cửa khám thờ tại Mộng Điện (Yumedono) ở Đông Viện để Phật tử và du khách được trực tiếp chiêm bái pho mật tượng Cứu Thế Quan Âm bằng gỗ long não thếp vàng. |
| Ngày 16 tháng 5 tới 15 tháng 8 (Dương lịch) | Khóa lễ Hạ An Cư (Geango) giảng Tam Kinh tại Thượng Đường | Truyền thống có từ năm 1070: chư tăng vân tập suốt 90 ngày mùa hạ tại Thượng Đường (Jōdō, tầng trên của Thánh Linh Viện) để luân phiên trùng tuyên và giảng giải bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ do Thái tử Shōtoku biên soạn. |
| Ngày 22 tháng 10 tới 22 tháng 11 (Dương lịch) | Đợt mở khám mùa thu chiêm bái mật tượng Cứu Thế Quan Âm | Đợt mở cửa khám thờ Mộng Điện lần thứ hai trong năm vào tiết thu lá đỏ, giúp khách hành hương chiêm ngưỡng dung mạo Cứu Thế Quan Âm hóa thân của Thái tử Shōtoku. |
Vào những năm kỷ niệm tròn mười năm hoặc một trăm năm ngày viên tịch của Thái tử Shōtoku (chẳng hạn năm 2021 kỷ niệm tròn 1.400 năm ngày ngài viên tịch 622 tới 2021 theo cách tính tuổi truyền thống Đông Á), Đại Thánh Linh Hội (Daishōryō-e) tại Chùa Pháp Long được cử hành với đoàn rước kiệu phượng hoàng (Hōren) uy nghiêm đi từ Đông Viện Mộng Điện sang Tây Viện Thánh Linh Viện, kèm theo hàng chục điệu múa mặt nạ Gigaku và Bugaku có lịch sử từ thời Asuka và Nara, thu hút đông đảo Phật tử khắp Nhật Bản cùng du khách và cộng đồng Phật tử Việt Nam sinh sống tại vùng Kansai (Osaka, Kyoto, Nara) về chiêm bái.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Tọa lạc tại số 1-1 Hōryūji Sannai, thị trấn Ikaruga, huyện Ikoma, tỉnh Nara. Từ ga JR Nara hoặc ga JR Ōsaka/Tennoji, quý vị đi tàu tuyến JR Yamatoji Line tới ga Hōryūji (khoảng 12 phút từ ga Nara hoặc 40 phút từ ga Ōsaka), sau đó đi bộ khoảng 20 phút qua hàng thông cổ thụ hoặc bắt xe buýt Nara Kōtsū từ cửa bắc ga Hōryūji khoảng 5 phút tới ngay bến Hōryūji-mae trước Nam Đại Môn.
- Toạ độ
- 34.61444, 135.73417
Khi tới chiêm bái Chùa Pháp Long (Hōryū-ji), quý vị lưu ý toàn bộ không gian bên trong Kim Đường, Ngũ Trùng Tháp, Đại Giảng Đường, Đại Bảo Tạng Viện và Mộng Điện đều nghiêm cấm chụp ảnh, quay phim cũng như chạm tay vào các cột gỗ bách cổ hơn 1.300 năm tuổi. Khuôn viên chùa trải dài từ Tây Viện sang Đông Viện trên quãng đường rải sỏi dài gần 1 km, vì vậy quý vị nên mang giày đế mềm dễ đi bộ và giữ sự tĩnh lặng trang nghiêm khi đi ngang qua các khu nội viện tu học của chư tăng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Pháp Long (Hōryū-ji, 法隆寺)
Contribute photos, information or video for Hōryū-jiThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Chùa Pháp Long (Hōryū-ji) được công nhận là quần thể kiến trúc gỗ cổ xưa nhất thế giới?
Khu Tây Viện của Chùa Pháp Long bao gồm Kim Đường, Ngũ Trùng Tháp, Trung Môn và phần lớn dãy Hành lang có niên đại xây dựng từ cuối thế kỷ 7 đến trước năm 711 (thời kỳ Asuka), đặc biệt cây gỗ bách làm trụ tâm của Ngũ Trùng Tháp đã được giám định vòng cây xác nhận đốn hạ từ năm 594 SCN. Đây là những công trình bằng gỗ có niên đại cổ xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn trên thế giới.
Chùa Pháp Long do ai khởi dựng và gắn với tâm nguyện lịch sử nào?
Chùa được khởi dựng vào năm 607 SCN bởi Thái tử Shōtoku (Thánh Đức Thái Tử, 574 tới 622) và Nữ Thiên hoàng Suiko nhằm hoàn thành di nguyện của thân phụ Thái tử là Thiên hoàng Yōmei (băng hà năm 587), người từng phát nguyện trên giường bệnh sẽ lập chùa và đúc tượng Phật Dược Sư để cầu tiêu trừ bệnh tật.
Nhờ kết cấu kỹ thuật nào mà Ngũ Trùng Tháp của Chùa Pháp Long không bao giờ bị đổ bởi động đất suốt hơn 1.300 năm?
Ngũ Trùng Tháp cao 32,45 mét của Hōryū-ji có tỷ lệ các tầng thu nhỏ dần từ dưới lên trên (tầng năm chỉ rộng bằng một nửa tầng một), các tầng xếp chồng lên nhau bằng mộng gỗ linh hoạt không dùng đinh cứng, và đặc biệt ở chính giữa lòng tháp có cây trụ tâm (shinbashira) bằng gỗ bách nguyên khối đứng độc lập trên đá tảng, hoạt động như một con lắc giảm chấn triệt tiêu sóng địa chấn.
Mật tượng Cứu Thế Quan Âm tại Mộng Điện (Yumedono) có gì đặc biệt và khi nào được mở cửa chiêm bái?
Pho tượng Cứu Thế Quan Âm (Guze Kannon) đặt trong khám thờ giữa Mộng Điện ở Đông Viện được chạm từ gỗ long não nguyên khối thếp vàng cao 178,8 cm, tương truyền tạc theo đúng kích thước và dung mạo của Thái tử Shōtoku. Tượng từng được bọc kín bằng vải trắng suốt hàng thế kỷ cho tới năm 1884 và hiện chỉ mở cửa cho công chúng chiêm bái hai đợt mỗi năm vào mùa xuân (11/4 tới 18/5) và mùa thu (22/10 tới 22/11).
Vụ cháy bích họa Kim Đường năm 1949 đã tác động thế nào tới pháp luật bảo tồn di sản của Nhật Bản?
Ngày 26 tháng 1 năm 1949, một sự cố chập điện trong quá trình trùng tu đã làm cháy sạm mười hai bức bích họa thế kỷ 8 vô giá trên tường tầng một của Kim Đường. Chấn động trước tổn thất này, Quốc hội Nhật Bản đã ban hành Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa vào năm 1950 và chọn ngày 26 tháng 1 hằng năm làm Ngày Phòng cháy Tài sản Văn hóa toàn quốc.