VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Diệu Tâm (Myōshin-ji), Kyoto

Myōshin-ji, 妙心寺, Diệu Tâm Tự, Chính Pháp Sơn Diệu Tâm Thiền Tự (Shōbōzan Myōshin Zen-ji, 正法山妙心禅寺)

Đại bản sơn lớn nhất của Thiền tông Lâm Tế Nhật Bản tại quận Ukyō, khởi nguyên năm 1337 từ ly cung của Thái thượng hoàng Hanazono và nổi tiếng với bức họa rồng tám phương trên trần Pháp Đường cùng quả chuông đồng đúc năm 698.

Khởi dựng
1337
Thái thượng hoàng Hanazono hiến ly cung, Quan Sơn Huệ Huyền khai sơn
Vân Long Đồ
Đường kính 12 m
danh họa Kanō Tan'yū vẽ suốt 8 năm trên trần Pháp Đường (1656)
Xếp hạng
Quốc bảo Nhật Bản
chuông đồng đúc năm 698, tranh Hyōnen-zu và 13 công trình cấp Quốc gia

Rời những con phố sầm uất của vùng trung tâm cố đô Kyoto để đi về phía tây bắc thuộc khu Hanazono (Hoa Viên), quận Ukyō, bước qua cổng Tổng Môn thấp bằng gỗ lợp ngói xám, quý vị như bước vào một thị trấn tu hành tĩnh lặng tách biệt khỏi thế sự. Những con đường lát đá phiến thẳng tắp chạy dài giữa hàng tường đất trát vữa trắng và mái ngói âm dương nối tiếp nhau của bốn mươi sáu viện tháp phụ. Ngay trục giữa là bảy tòa đại điện cổ kính đứng nối hàng từ nam lên bắc dưới bóng thông già, nơi tiếng guốc gỗ của chư tăng vang nhẹ trên nền đá phẳng. Giữa lòng Pháp Đường dựng từ năm 1656, ngước mắt nhìn lên vòm trần gỗ bá hương cao vợi, khách thập phương bắt gặp đôi mắt rồng khổng lồ trong bức Vân Long Đồ rộng mười hai mét của danh họa Kanō Tan'yū như đang chuyển mình giữa mây cuộn.

Chùa Diệu Tâm (妙心寺, Myōshin-ji), sơn hiệu Chính Pháp Sơn Diệu Tâm Thiền Tự (正法山妙心禅寺, Shōbōzan Myōshin Zen-ji), là đại bản sơn đứng đầu phái Diệu Tâm Tự, nhánh lớn nhất trong mười bốn phái của Thiền tông Lâm Tế (臨済宗, Rinzai-shū) tại Nhật Bản. Khởi nguyên vào năm 1337 từ ly cung Hagiwara của Thái thượng hoàng Hanazono và do Quốc sư Quan Sơn Huệ Huyền (Kanzan Egen) khai sơn, tổ đình này hiện thống lĩnh khoảng ba nghìn bốn trăm ngôi chùa trực thuộc khắp xứ Phù Tang, giữ vị thế một trung tâm Thiền học nghiêm mật suốt gần bảy thế kỷ.

Chùa Diệu Tâm (Myōshin-ji), Kyoto
Chùa Diệu Tâm (Myōshin-ji), Kyoto. Ảnh: Fg2, giấy phép Public domain, nguồn Wikimedia Commons.

ITông Phong Ứng Đeng Quan Và Dòng Thiền Lâm Tế Diệu Tâm

Chính điện (Phật Điện) của Chùa Diệu Tâm tôn trí bản tôn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (釈迦如来, Shaka Nyorai) bằng gỗ thếp vàng, hai bên tả hữu là hai vị đại đệ tử Tôn giả Ca Diếp (Makakashō) và Tôn giả A Nan (Ananda) đứng hầu. Hai chữ Diệu Tâm (妙心) trong hiệu chùa bắt nguồn từ điển tích Niêm hoa vi tiếu trên hội Linh Sơn: khi Đức Thế Tôn đưa cành hoa sen lên trước đại chúng, chỉ riêng Tôn giả Ca Diếp mỉm cười lãnh hội được Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, tức cái tâm vi diệu vượt ngoài ngôn ngữ văn tự được truyền trao trực tiếp từ thầy sang trò trong truyền thống Phật Giáo Thiền tông.

Theo giáo nghĩa

Trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản thời trung đại, nếu năm ngôi đại tự thuộc hệ thống Ngũ Sơn Kyoto (Kyoto Gozan, gồm Tenryū-ji, Shōkoku-ji, Kennin-ji, Tōfuku-ji và Manju-ji) gắn bó mật thiết với chính quyền Mạc phủ Muromachi và phát triển mạnh về văn chương Hán học Ngũ Sơn, thì Diệu Tâm Tự cùng Đại Đức Tự (Daitoku-ji) lại thuộc dòng Lâm Hạ (林下, Rinka), tức các đạo tràng độc lập nằm ngoài hệ thống quan tự để giữ trọn lối tu khắc khổ thuần túy. Dòng pháp tại đây gọi là Ứng Đeng Quan (応灯関, Ōtōkan), ghép từ danh hiệu của ba bậc tổ sư kế thừa nhau: Nam Phổ Thiệu Minh (Đại Ứng Quốc Sư, 1235 tới 1308, người cầu pháp nhà Tống về Nhật), Tông Phong Diệu Siêu (Đại Đăng Quốc Sư, 1282 tới 1337, tổ khai sáng Daitoku-ji) và Quan Sơn Huệ Huyền (Vô Tướng Đại Sư, 1277 tới 1360, tổ khai sơn Myōshin-ji). Ngày nay toàn bộ mười bốn nhánh của Thiền tông Lâm Tế Nhật Bản đều nối pháp từ mạch Ứng Đeng Quan này.

Theo sử liệu

Theo trang sử chính thức của chùa (myoshinji.or.jp), vào năm 1337, Thái thượng hoàng Hanazono (花園法皇, Hoa Viên Pháp Hoàng, trị vì từ 1308 tới 1318), một bậc quân vương uyên bác đã quy y và thọ giáo sâu sắc với Quốc sư Tông Phong Diệu Siêu (Daitō Kokushi), muốn cải tạo ly cung Hagiwara (萩原殿) của mình ở vùng ngoại ô tây bắc kinh thành thành một ngôi thiền tự. Trước khi viên tịch vào tháng Mười Hai năm 1337, Quốc sư Tông Phong Diệu Siêu đã trao cho Thái thượng hoàng tấm biển đề hai chữ Diệu Tâm và tiến cử người đệ tử xuất sắc nhất của mình là thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền (関山慧玄, Kanzan Egen) làm vị trụ trì khai sơn. Khi Quan Sơn Huệ Huyền về trụ tích tại đây, ngài giữ giới luật và gia phong thanh bần nghiêm khắc tới mức mái am dột nước mưa, cơm cháo đạm bạc, nhưng chính đạo hạnh ấy đã đào tạo nên những bậc long tượng làm rạng rỡ tông môn.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe danh tiếng và quy mô đồ sộ của Chùa Diệu Tâm thường đinh ninh ngôi chùa này nằm trong danh sách Ngũ Sơn Kyoto do Mạc phủ bảo trợ. Thực tế Diệu Tâm Tự chưa bao giờ thuộc hệ Ngũ Sơn. Chính nhờ đứng độc lập ở vị thế Lâm Hạ và thiết lập chế độ luân phiên trụ trì cùng hệ thống quản lý tài chính minh bạch gọi là mẫu tiền (kanjō) từ thời Muromachi và Edo, phái Diệu Tâm Tự đã không bị suy thoái khi Mạc phủ Ashikaga sụp đổ, trái lại còn vươn lên thành phái Thiền lớn nhất Nhật Bản với khoảng 3.400 ngôi chùa trên tổng số gần 6.000 chùa Lâm Tế cả nước.

IIGần Bảy Thế Kỷ Khai Sơn, Hủy Hoại Và Trung Hưng

Trải qua gần bảy trăm năm kể từ ngày Thái thượng hoàng Hanazono phát nguyện xả bỏ ly cung lập tự, Diệu Tâm Tự đã đi qua nhiều biến cố lịch sử lớn của cố đô Kyoto: từ cuộc đàn áp của Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu cuối thế kỷ mười bốn, biển lửa của loạn Ōnin giữa thế kỷ mười lăm, cho tới thời kỳ trung hưng rực rỡ dưới sự hộ trì của các lãnh chúa chiến quốc và Mạc phủ Tokugawa.

Theo sử liệu

Khi khảo cứu các nguồn sử liệu về năm khởi lập Chùa Diệu Tâm, có hai mốc niên đại thường được ghi nhận song song. Trang chính thức của chùa (myoshinji.or.jp) và hồ sơ di sản Kyoto lấy năm 1337 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 4 / Diên Nguyên thứ 2) làm năm khai sáng, vì đó là năm Thái thượng hoàng Hanazono quyết định chuyển ly cung Hagiwara thành chùa và Quốc sư Tông Phong Diệu Siêu ban hiệu Diệu Tâm Tự trước lúc viên tịch. Trong khi đó, một số bộ bách khoa toàn thư và biên niên sử Phật giáo Nhật Bản lại ghi năm 1342 (niên hiệu Khang Vĩnh nguyên niên) là năm hoàn tất việc cải tạo cung điện và thỉnh Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền chính thức nhập tự khai đường thuyết pháp sau khi mãn tang thầy. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả hai mốc 1337 và 1342 để phản ánh trọn vẹn quá trình từ lúc phát nguyện đặt hiệu tới khi chính thức khai đường.

Một điểm sử liệu đáng chú ý khác là biến cố năm 1399 (loạn Ōei). Do trụ trì đời thứ sáu là thiền sư Chuyết Đường (Settan) có mối liên hệ với lãnh chúa Ōuchi Yoshihiro chống lại Mạc phủ, Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu đã tịch thu toàn bộ ruộng đất của Diệu Tâm Tự, đổi tên chùa thành Long Vân Tự (Ryūun-ji) và giao cho nhánh Nam Thiền Tự quản lý suốt hơn ba thập niên. Mãi tới năm 1432, dưới thời Tướng quân Ashikaga Yoshinori, triều đình mới trả lại đất chùa cho môn phái của Quan Sơn Huệ Huyền, và thiền sư Nhật Phong Tông Thuấn (Nippō Sōshun, 1368 tới 1448) cùng ngài Nghĩa Thiên Huyền Thiệu đã đứng ra tái thiết ngôi tổ đình.

  • 698Đúc chuông đồng Hoàng Chung Điệu (Ōjikichō)
    Quả chuông đồng cổ nhất có khắc minh văn niên đại tại Nhật Bản (năm Mậu Tuất, tức năm 698 thời Thiên hoàng Monmu) được đúc tại vùng Chikuzen (đảo Kyūshū) trước khi được đưa về treo tại Diệu Tâm Tự nhiều thế kỷ sau.
  • 1337 - 1342Thái thượng hoàng Hanazono lập tự và Quan Sơn Huệ Huyền khai sơn
    Năm 1337 Thái thượng hoàng Hanazono hiến ly cung Hagiwara và nhận hiệu chùa Diệu Tâm từ Quốc sư Tông Phong Diệu Siêu, tới năm 1342 công trình hoàn tất cải tạo và Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền chính thức nhập tự làm sơ tổ khai sơn.
  • 1399 - 1432Kiếp nạn loạn Ōei và cuộc phục hưng lần thứ nhất
    Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu tịch thu chùa và đổi tên thành Long Vân Tự năm 1399. Tới năm 1432 chùa được hoàn trả tên cũ Diệu Tâm Tự và được Thiền sư Nhật Phong Tông Thuấn phục hưng.
  • 1467Biển lửa loạn Ōnin và đại sư Tuyết Giang Tông Thâm trung hưng
    Chiến loạn Ōnin năm 1467 thiêu rụi toàn bộ già lam. Thiền sư Tuyết Giang Tông Thâm (Sekkō Sōshin, 1408 tới 1486), trụ trì đời thứ sáu tính từ tổ khai sơn, được Hoàng thất và Hosokawa Katsumoto hộ trì để dựng lại chùa từ đống tro tàn, đào tạo nên Tứ Phái (Long Tuyền, Đông Hải, Linh Vân, Thánh Trạch) làm nền móng phát triển khắp toàn quốc.
  • 1599Dựng cổng Tam Môn (Sanmon)
    Tòa Tam Môn hai tầng gỗ bách sơn đỏ được dựng năm Khánh Trường thứ 4 (1599), trở thành một trong những cổng Tam Môn Thiền tông thời Azuchi-Momoyama cổ kính nhất còn nguyên vẹn tại Kyoto.
  • 1656Khánh thành Pháp Đường (Hattō) và vẽ Vân Long Đồ
    Pháp Đường được xây dựng năm Minh Lịch thứ 2 (1656) nhân kỷ niệm 300 năm ngày viên tịch của tổ Quan Sơn Huệ Huyền, nơi danh họa Kanō Tan'yū (1602 tới 1674) miệt mài suốt 8 năm để hoàn thành bức tranh rồng Vân Long Đồ trên trần gỗ.
  • 1827Tái thiết Phật Điện (Butsuden)
    Tòa Phật Điện hiện hữu được dựng lại hoàn chỉnh vào năm Văn Chính thứ 10 (1827) cuối thời Edo, hoàn thiện diện mạo trục Thất Đường Già Lam giữ nguyên cho tới ngày nay.
  • 1951 - 1962Xếp hạng Quốc bảo và Tài sản Văn hóa Quan trọng cấp Quốc gia
    Chuông đồng năm 698, bức tranh thủy mặc Hyōnen-zu tại viện Taizō-in và bút tích Đại Đăng Quốc Sư được xếp hạng Quốc bảo Nhật Bản, đồng thời 13 công trình kiến trúc thuộc trục chính Diệu Tâm Tự được công nhận Tài sản Văn hóa Quan trọng cấp Quốc gia.

IIIThất Đường Già Lam, Vân Long Đồ Và 46 Viện Tháp Phụ

Mặt bằng tổng thể của Chùa Diệu Tâm rộng hơn 330.000 mét vuông, được quy hoạch chuẩn mực theo bố cục Thất Đường Già Lam (七堂伽藍, Shichidō Garan) của kiến trúc Thiền tông truyền từ Trung Hoa thời Tống và Nguyên sang Nhật Bản. Dọc theo trục chính từ nam lên bắc, các tòa đại điện xếp thẳng hàng trên một đường thẳng: Chokushimon (Sắc Sứ Môn, dựng năm 1610), Sanmon (Tam Môn, 1599), Butsuden (Phật Điện, 1827), Hattō (Pháp Đường, 1656) và Ōhōjō (Đại Phương Trượng, 1654). Hai bên tả hữu của trục chính là Yokushitsu (Dục Thất, tức nhà tắm hơi cổ gọi là Minh Trí Phong Lữ), Kyōzō (Kinh Tạng, 1673) ở phía đông và Kuri (Trù Khố, dựng năm 1653) ở phía đông bắc. Toàn bộ 13 hạng mục công trình trong khu trung tâm này đều được Chính phủ Nhật Bản xếp hạng Tài sản Văn hóa Quan trọng cấp Quốc gia (Jūyō Bunkazai).

Bao quanh khu Thất Đường Già Lam là một mạng lưới 46 viện tháp phụ (塔頭, tatchū) nằm dọc các con đường đá đan vuông góc như bàn cờ. Mỗi viện tháp phụ vốn là am viện do các vị cao tăng đệ tử và các gia tộc võ sĩ (như họ Hosokawa, Oda, Toyotomi, Tokugawa, Sanada, Ishida) lập nên để tu tập và thờ vọng tổ tiên, tạo thành một quần thể thiền viện trong thiền viện độc nhất vô nhị ở Kyoto.

Pháp Đường (Hattō, 1656) và bức Vân Long Đồ (Unryū-zu)

Tòa giảng đường trung tâm dựng năm 1656. Trên vòm trần gỗ hình tròn đường kính khoảng 12 mét là kiệt tác Vân Long Đồ do danh họa phái Kanō là Kanō Tan'yū vẽ từ năm 55 tuổi suốt 8 năm ròng. Bức họa dùng kỹ thuật bát phương nghễ (happō-nirami): dù người xem đứng ở bất kỳ góc nào trong điện và bước đi theo chiều kim đồng hồ hay ngược chiều kim đồng hồ, đôi mắt rồng vẫn luôn nhìn thẳng vào người xem và mây như cuộn lên hoặc hạ xuống.

Chuông đồng Hoàng Chung Điệu (Ōjikichō, năm 698, Quốc bảo)

Quả chuông đồng đúc năm Mậu Tuất (698 SCN) thời Asuka - Hakuhō, cao khoảng 151,5 cm, đường kính miệng 86,4 cm, nặng gần 700 kg. Lòng trong ống treo chuông khắc dòng minh văn chữ Hán ghi rõ niên đại năm Mậu Tuất, là quả chuông Phật giáo có minh văn niên đại xác thực cổ nhất Nhật Bản và được xếp hạng Quốc bảo. Âm thanh quả chuông này từng được nhà văn Yoshida Kenkō ca ngợi trong tác phẩm Đồ Nhiên Thảo (Tsurezuregusa) thế kỷ 14 là chuẩn mực của cung Hoàng Chung.

Tam Môn (Sanmon, 1599) và Phật Điện (Butsuden, 1827)

Tam Môn hai tầng quy mô 5 gian 3 lối đi dựng năm 1599, tầng gác trên thờ Quán Thế Âm Bồ Tát và Thập Lục La Hán cùng bích họa thiên nữ và nhạc khí rực rỡ trên trần. Phía bắc Tam Môn là Phật Điện dựng lại năm 1827 bằng gỗ kiêu hùng, chính giữa thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hai tôn giả Ca Diếp và A Nan.

Dục Thất Minh Trí Phong Lữ (Akechi-buro, 1587)

Nhà tắm hơi cổ của chư tăng dựng năm 1587 (tái thiết năm 1656). Tương truyền do thiền sư Mật Tông (Mitshū), chú ruột của võ tướng Akechi Mitsuhide, cho dựng để hồi hướng siêu độ cho cháu mình sau biến cố chùa Honnō-ji năm 1582. Trong quy củ Thiền tông, việc tắm rửa bằng hơi nước nóng tại Dục Thất là một phần của công phu tu hành thanh tịnh thân tâm.

Thoái Tạng Viện (Taizō-in) và bức Quốc bảo Hyōnen-zu

Một trong những viện tháp phụ cổ nhất của Diệu Tâm Tự, thành lập năm 1404 bởi thiền sư Vô Nhân Như Đạo. Viện nổi tiếng với bức tranh thủy mặc Quốc bảo Hyōnen-zu (Biểu Niệm Đồ, tức Bắt cá trê bằng quả bầu hồ lô) do họa tăng Josetsu vẽ khoảng năm 1415 theo lệnh Tướng quân Ashikaga Yoshimochi kèm lời tán của 31 vị cao tăng Ngũ Sơn, cùng khu vườn khô Âm Dương (In'yō no Niwa) của Kanō Motonobu và khu vườn hồ Dư Hương Uyển (Yoko-en) thế kỷ 20.

Quế Xuân Viện (Keishun-in), Đại Tâm Viện (Daishin-in) và Xuân Quang Viện (Shunkō-in)

Các viện tháp phụ tiêu biểu mở cửa đón khách gồm Quế Xuân Viện (lập năm 1598) với bốn khu vườn Thiền nối tiếp (Thanh Tịnh, Tư Duy, Chân Như, Đà Na), Đại Tâm Viện (lập năm 1492 bởi Hosokawa Masamoto) với vườn đá khô Mẫu Đơn Đình, và Xuân Quang Viện (lập năm 1590) lưu giữ quả chuông đồng Nanban đúc năm 1577 tại Bồ Đào Nha có khắc hình thánh giá cùng hoa bách hợp của dòng Tên.

Chỗ hay hiểu lầm

Du khách lần đầu tới thăm thường nghĩ rằng toàn bộ 46 viện tháp phụ trong khuôn viên Chùa Diệu Tâm đều mở cửa tự do như một công viên công cộng. Trên thực tế, phần lớn các viện tháp phụ vẫn là tu viện nội trú đang hoạt động nghiêm mật của chư tăng và đóng cổng quanh năm. Chỉ có trục Thất Đường Già Lam trung tâm cùng ba viện tháp phụ (Taizō-in, Keishun-in, Daishin-in) mở cửa thường xuyên, trong khi một số viện danh tiếng khác như Tōrin-in (Đông Lâm Viện, nổi tiếng với vườn cây Sa La song thụ nở hoa tháng Sáu) hay khu vực nội điện của Thoái Tạng Viện chỉ mở vào các đợt triển lãm mùa xuân và mùa thu hàng năm.

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Thiền tông truyền từ Trung Hoa sang Nhật Bản mang theo quy thức kiến tạo già lam rất chặt chẽ về phương vị và trục đối xứng, kết hợp với phép Kasō (家相, Gia tướng) và Chisō (地相, Địa tướng) của kinh đô Heian-kyō được định vị theo Tứ Tượng (Huyền Vũ phía bắc, Chu Tước phía nam, Thanh Long phía đông, Bạch Hổ phía tây). Tuy nhiên, để quý vị độc giả quen thuộc với phép phong thủy hình thế cổ truyền của người Việt có cơ sở đối chiếu trực quan, phần dưới đây trình bày cách đọc địa cuộc của thư viện dưới lăng kính long mạch và sơn hướng truyền thống.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc của lòng chảo cố đô Kyoto, vùng Hanazono (Hoa Viên) tại quận Ukyō nằm ở góc tây bắc của bình nguyên Yamashiro. Từ dãy núi phía bắc và tây bắc như núi Kinugasa (衣笠山, Y Lạp Sơn) và núi Narabigaoka (双ヶ丘, Song Cương), các mạch đồi thấp hạ sơn thoải dần xuống vùng đất bằng phẳng nơi Thái thượng hoàng Hanazono từng đặt ly cung Hagiwara. Ở tọa độ 35,0232 độ vĩ Bắc và 135,7202 độ kinh Đông, thế đất của Diệu Tâm Tự cao ráo, nền đất cát sỏi thoát nước tốt, phía bắc và tây bắc có dãy đồi Kinugasa và Ryōan-ji che chắn gió bấc mùa đông làm hậu chẩm vững chãi, phía tây có mạch đồi đôi Narabigaoka ôm vòng như cánh tay hữu Bạch Hổ hộ vệ, còn phía đông hướng về trung tâm kinh thành Kyoto và dòng sông Hori, sông Kamo chảy xuôi làm tả Thanh Long dẫn thủy tụ khí.

Về sơn hướng và bố cục trục, toàn bộ khu Thất Đường Già Lam của Chùa Diệu Tâm được thiết lập theo thế tọa Bắc hướng Nam chính cung (Tý sơn Ngọ hướng). Từ cổng Sắc Sứ Môn (Chokushimon) sát mặt đường phía nam, một đường thần đạo thẳng tắp xuyên qua Tam Môn, Phật Điện, Pháp Đường cho tới Đại Phương Trượng ở phía bắc. Việc đặt bốn tòa đại điện lớn nhất trên cùng một trục Bắc Nam không lệch một phân tạo nên sự trang nghiêm tuyệt đối, giúp đón nhận trọn vẹn dương khí và ánh sáng phương Nam, đồng thời dùng từng lớp mái điện và sân đá cuội xen kẽ để tiết chế luồng gió, khiến khí trường đi vào nội viện trở nên tĩnh tại, hợp với pháp môn tọa thiền quán tâm. Hơn bốn mươi viện tháp phụ vây quanh bốn phía như hàng rào la thành đa tầng, khóa chặt khí mạch bên trong khuôn viên 33 hecta, tạo nên cục diện nội tàng u tịch, ngoại hộ trùng điệp hiếm thấy giữa lòng đô thị.

VPháp Hội Thiền Môn Và Lịch Lễ Tiết Trong Năm

Là đại bản sơn của hơn ba nghìn bốn trăm ngôi chùa Lâm Tế, nhịp sống tu học tại Diệu Tâm Tự và Chuyên Môn Đạo Tràng (Senmon Dōjō) diễn ra nghiêm cẩn suốt bốn mùa. Các đại lễ tưởng niệm chư vị tổ sư khai sơn và các kỳ nhập thất tọa thiền đều được cử hành theo dương lịch kể từ cuộc cải cách lịch pháp thời Minh Trị, giữ nguyên nghi quỹ tụng niệm và lễ nhạc cổ truyền từ thời Muromachi.

Lịch các pháp hội chính hàng năm tại Đại bản sơn Diệu Tâm Tự (Myōshin-ji). Nguồn: Trang chính thức của Chùa Diệu Tâm (myoshinji.or.jp) và Hiệp hội Du lịch Thành phố Kyoto..
Thời gianTheo lịch nàoTên lễ và pháp hộiNội dung nghi thức
1 tới 3 tháng 1Dương lịchLễ chúc phúc đầu năm (Shūshō-e)Chư tăng vân tập tại Phật Điện và Pháp Đường cử hành khóa lễ cầu quốc thái dân an đầu năm mới sau đêm gióng 108 tiếng chuông Trừ dạ (Joya no Kane).
15 tháng 2Dương lịchNiết Bàn Hội (Nehan-e)Tưởng niệm ngày Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn, treo bức tranh Niết Bàn Đồ cỡ lớn và tụng kinh cúng dường tại Pháp Đường.
8 tháng 4Dương lịchPhật Đản Hội (Gōtan-e / Hana-matsuri)Lễ mừng Đức Phật đản sinh, thiết lập Hoa Ngự Đường và cử hành nghi thức tắm tượng Phật sơ sinh bằng nước trà ngọt (amacha).
1 tới 2 tháng 6Dương lịchLễ húy kỵ Thái thượng hoàng Hanazono (Kaisan Hōō Gyoki)Đại lễ tưởng niệm công đức Thái thượng hoàng Hanazono, vị đại thí chủ khai sáng chùa, với khóa lễ tụng kinh trọng thể của chư vị hòa thượng các viện.
Giữa tháng 6Dương lịchHội ngắm hoa Sa La (Sara Sōju o Mederu Kai)Mở cửa đặc biệt tại Đông Lâm Viện (Tōrin-in) khi hàng cây Sa La song thụ (Stewartia pseudocamellia) nở hoa trắng buổi sáng và rụng vào chiều tối, biểu trưng cho lý vô thường của nhà Phật.
9 tới 10 tháng 8Dương lịchChợ chuông gió cầu an mùa Vu Lan (Obon)Nghi lễ đón tiếp hương linh tổ tiên dịp lễ Obon vùng Kyoto và cầu siêu bạt độ chư hương linh.
11 tới 12 tháng 12Dương lịchLễ húy kỵ Tổ khai sơn Quan Sơn Huệ Huyền (Kaisanki)Pháp hội lớn nhất trong năm của phái Diệu Tâm Tự, tưởng niệm ngày viên tịch của Quốc sư Quan Sơn Huệ Huyền (Vô Tướng Đại Sư) với sự tham dự của chư tăng từ khắp cả nước.
1 tới 8 tháng 12Dương lịchTuần lễ nhiếp tâm Lạp Bát (Rōhatsu Dai-sesshin)Tăng sinh trong Chuyên Môn Đạo Tràng tọa thiền liên tục suốt ngày đêm trong bảy ngày để kỷ niệm sự kiện Đức Phật thành đạo vào sáng mồng 8 tháng 12.

Ngoài các đại lễ thường niên, vào cuối tuần đầu tiên của mỗi tháng dương lịch, Chùa Diệu Tâm tổ chức khóa tọa thiền công cộng và nghe pháp thoại dành cho cư sĩ tại gia, trong khi viện tháp phụ Xuân Quang Viện (Shunkō-in) thường xuyên tổ chức các buổi hướng dẫn thiền định bằng tiếng Anh cho du khách quốc tế tìm hiểu truyền thống Thiền Lâm Tế Nhật Bản.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
1 Hanazono Myoshinji-cho, Ukyo-ku, Kyoto 616-8035 (京都府京都市右京区花園妙心寺町1)
Đường tới
Từ ga Kyoto, quý vị đi tuyến tàu JR Sagano (San'in Main Line) khoảng 12 phút tới ga Hanazono (花園駅), từ đó đi bộ khoảng 5 phút về phía bắc là tới cổng Tổng Môn phía nam, hoặc đi tàu điện cổ Keifuku (Randen) tuyến Kitano tới ga Myōshin-ji rồi đi bộ 3 phút vào cổng phía bắc.
Toạ độ
35.0232, 135.7202
Khi tới nơi

Khuôn viên Chùa Diệu Tâm là đạo tràng tu học đang hoạt động của hàng trăm chư tăng, nên khi bước qua cổng Tổng Môn quý vị cần giữ bước chân nhẹ nhàng và nói chuyện khẽ khàng. Khi vào tham quan bên trong Pháp Đường (Hattō), nhà tắm cổ Minh Trí Phong Lữ (Yokushitsu) và các viện tháp phụ như Thoái Tạng Viện, quý vị phải tháo giày dép ở bậc thềm gỗ và tuyệt đối không chụp ảnh bức họa rồng Vân Long Đồ trên trần cũng như các bảo vật bên trong điện. Các ngõ đá dẫn vào những viện tháp phụ có treo biển không phận sự miễn vào là khu nội viện tu tập, xin quý vị tôn trọng ranh giới và chỉ tham quan các viện có mở cổng đón khách.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Diệu Tâm (Myōshin-ji), Kyoto

Contribute photos, information or video for Myōshin-ji

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Diệu Tâm (Myōshin-ji) thuộc tông phái Phật giáo nào và có quy mô ra sao?

Chùa Diệu Tâm là đại bản sơn đứng đầu phái Diệu Tâm Tự, nhánh lớn nhất trong 14 phái của Thiền tông Lâm Tế (Rinzai-shū) tại Nhật Bản. Quần thể tổ đình tại quận Ukyō, Kyoto rộng hơn 330.000 mét vuông với trục Thất Đường Già Lam ở trung tâm và 46 viện tháp phụ bao quanh, đồng thời thống lĩnh khoảng 3.400 ngôi chùa trực thuộc trên khắp nước Nhật.

Ai là người sáng lập Chùa Diệu Tâm và vì sao có hai mốc năm 1337 và 1342?

Ngôi chùa do Thái thượng hoàng Hanazono phát tâm hiến tặng ly cung Hagiwara của mình để lập thành thiền tự và thỉnh Quốc sư Quan Sơn Huệ Huyền (Kanzan Egen, đệ tử của Đại Đăng Quốc Sư) làm tổ khai sơn. Mốc năm 1337 là năm Thái thượng hoàng quyết định lập tự và nhận hiệu chùa Diệu Tâm từ Đại Đăng Quốc Sư, còn năm 1342 là năm hoàn tất việc cải tạo cung điện và Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền chính thức nhập tự thuyết pháp.

Bức họa rồng Vân Long Đồ trên trần Pháp Đường có điểm gì đặc biệt?

Bức Vân Long Đồ (Unryū-zu) được danh họa Kanō Tan'yū vẽ bằng mực nho trên vòm trần gỗ bá hương hình tròn đường kính 12 mét của Pháp Đường (dựng năm 1656) trong suốt 8 năm ròng. Nhờ kỹ thuật hội họa bát phương nghễ (nhìn tám hướng), dù người xem đứng ở bất kỳ góc nào trong Pháp Đường thì đôi mắt rồng vẫn luôn nhìn thẳng vào người ấy, và khi đi vòng quanh điện sẽ thấy thân rồng và mây như đang chuyển động.

Quả chuông đồng tại Chùa Diệu Tâm vì sao được xếp hạng Quốc bảo Nhật Bản?

Quả chuông đồng Hoàng Chung Điệu (Ōjikichō) của chùa có khắc dòng minh văn chữ Hán bên trong ghi rõ năm đúc là năm Mậu Tuất (tức năm 698 SCN thời Thiên hoàng Monmu). Đây là quả chuông Phật giáo có minh văn niên đại xác thực cổ nhất còn tồn tại ở Nhật Bản, nổi tiếng từ thời trung đại nhờ âm vang chuẩn cung Hoàng Chung được nhắc tới trong tác phẩm Đồ Nhiên Thảo thế kỷ 14.

Khi tới thăm Chùa Diệu Tâm, du khách nên ghé thăm những viện tháp phụ nào?

Trong số 46 viện tháp phụ (tatchū) quanh trục chính, có ba viện mở cửa quanh năm rất đáng chiêm bái là Thoái Tạng Viện (Taizō-in, nổi tiếng với bức tranh Quốc bảo Bắt cá trê bằng bầu hồ lô Hyōnen-zu và vườn đá Âm Dương cùng vườn hồ Dư Hương Uyển), Quế Xuân Viện (Keishun-in với bốn khu vườn Thiền tĩnh mặc) và Đại Tâm Viện (Daishin-in với vườn khô Mẫu Đơn Đình).

›Đọc Tiếp