VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hoàng Công Chất

Đền Hoàng Công Chất - Thành Bản Phủ, Đền thờ Hoàng Công Chất, Thành Bản Phủ, Thành Chiềng Lê

Ngôi đền nằm giữa lòng Thành Bản Phủ cổ bên bờ tả ngạn sông Nậm Rốm, nơi đồng bào vùng lòng chảo Mường Thanh phụng thờ vị thủ lĩnh áo vải từ châu thổ sông Hồng cùng sáu vị tướng lĩnh Kinh và Thái đã hợp sức giữ yên biên cương thế kỷ 18.

Đắp thành
1758 - 1762
Thành Bản Phủ rộng khoảng 80 mẫu bên sông Nậm Rốm
Phối thờ
Chúa Mường và 6 tướng
Hoàng Công Chất cùng Lò Ngải, Lò Khanh và bộ tướng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định năm 1981, lễ hội là Di sản phi vật thể năm 2015

Đi dọc Quốc lộ 279 về phía nam trung tâm Điện Biên Phủ chừng chín cây số, giữa thung lũng lúa nước Mường Thanh bằng phẳng bốn bề núi vây, quý vị sẽ thấy một gò đất rộng nổi lên bên bờ tả ngạn sông Nậm Rốm cùng những rặng tre gai dày đặc. Bước qua cổng nghi môn vào sân đền, điểm chạm mắt đầu tiên là gốc cổ thụ khổng lồ gồm ba loài đa, bồ đề và si quấn chặt thành một thân duy nhất, tỏa bóng xuống mái ngói đỏ trầm mặc.

Nơi quý vị đang đứng từng là khu Nội thành của Thành Bản Phủ, đại bản doanh do thủ lĩnh Hoàng Công Chất và nghĩa quân đắp từ năm 1758 đến năm 1762. Hơn hai thế kỷ rưỡi kể từ ngày ông hóa vào mùa xuân năm Kỷ Sửu 1769, ngôi đền giữa lòng thành cổ đã trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ cúng tiền nhân lớn nhất của đồng bào Thái, Kinh, Lào, Khơ Mú và Mông trên cánh đồng Mường Thanh.

IHoàng Công Chất Và Sáu Vị Thủ Lĩnh Nghĩa Quân

Đền Hoàng Công Chất thuộc mạch tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tiền nhân có công khai phá, bảo vệ bản mường của các dân tộc Tây Bắc. Khác với những ngôi đền miền xuôi thường mang tên chữ Hán từ sắc phong triều đình, ngôi đền ở Bản Phủ khởi sinh từ lòng tôn kính tự nguyện của người dân địa phương sau khi vị thủ lĩnh qua đời, nên phần tên chữ Hán ở đầu trang được để trống để giữ đúng thực tế sử liệu.

Theo sử liệu

Nhân vật trung tâm tại chính điện là Hoàng Công Chất, tên thật là Hoàng Công Thư, sinh ngày 20 tháng Giêng năm Bính Tuất (1706) tại thôn Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, trấn Sơn Nam Hạ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên mới (tỉnh Thái Bình cũ). Năm Vĩnh Hựu thứ năm đời vua Lê Ý Tông (1739), trước cảnh chính sự Đàng Ngoài rối ren, ông tập hợp dân nghèo khởi nghĩa ở Sơn Nam Hạ. Sau nhiều năm hoạt động ở đồng bằng rồi rút vào vùng rừng núi Thanh Hóa năm 1748, ông đưa lực lượng tiến lên miền Thượng đạo, vượt sông Mã và sông Đà gây dựng căn cứ tại Hưng Hóa, Mộc Châu rồi tiến vào thung lũng Mường Thanh thuộc châu Ninh Biên.

Đầu thập niên 1750, Mường Thanh bị tàn phá bởi giặc Phẻ, thế lực vũ trang từ vùng Thượng Lào và biên giới Vân Nam tràn sang cướp bóc do Tạo Phạ Chẩu cầm đầu, đóng đồn tại Tam Vạn. Nhân dân Thái, Lào, Khơ Mú đứng trước nguy cơ mất ruộng đồng và tan rã bản mường. Khi ấy, hai thủ lĩnh người Thái bản địa có uy tín lớn là Lò Ngải (Lò Văn Ngải) và Lò Khanh (Lò Văn Khanh, sử cũ và truyền thuyết còn gọi là Bạc Cầm Khanh) đã chủ động kết nghĩa và hợp binh cùng nghĩa quân Hoàng Công Chất.

Từ năm 1751 đến tháng 5 năm Giáp Tuất (1754), liên quân Hoàng Công Chất, Lò Ngải và Lò Khanh vây hãm, tấn công căn cứ Tam Vạn, tiêu diệt chủ tướng Tạo Phạ Chẩu và quét sạch giặc Phẻ khỏi Mường Thanh. Sau chiến thắng, Hoàng Công Chất tổ chức khai khẩn ruộng hoang, đắp phai đào mương dẫn nước sông Nậm Rốm tưới cho cánh đồng Mường Thanh và mở rộng kiểm soát khắp vùng Mường Lò, Mường La, Mường Muổi, Mường Phăng tới tận Thượng Lào. Đồng bào Thái suy tôn ông là Chúa Mường (tiếng Thái là Chẩu Mường hay Pú Chẩu, tức Ông Chúa) và coi ông như vị phúc thần bảo hộ cả vùng lòng chảo.

Phối Thờ Sáu Vị Thủ Lĩnh Và Tinh Thần Gắn Kết Kinh Thái

Theo giáo nghĩa

Điểm đặc sắc trong cấu trúc thờ tự tại đền Bản Phủ là sự hòa quyện giữa tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc của người Việt với tín ngưỡng thờ phi mường (thần bảo hộ mường) của người Thái Đen. Trong tâm thức cư dân Mường Thanh, người có công đánh giặc cứu mường khi sống là Chúa Mường thì khi thác hóa thành thần linh cai quản non sông, che chở cho mùa màng tươi tốt.

Bên cạnh ngai và tượng thờ Hoàng Công Chất ở trung tâm hậu cung, đền dành trang trọng hệ thống ban thờ phối hưởng cho sáu vị thủ lĩnh trong bộ chỉ huy tại Thành Bản Phủ. Sáu vị gồm hai thủ lĩnh người Thái bản địa là Tướng Lò Ngải và Tướng Lò Khanh, vị tướng kế nghiệp là Hoàng Công Toản (con trai Hoàng Công Chất), vị tướng tham mưu người địa phương là Tướng Bun Phanh, cùng hai tướng người miền xuôi theo ông từ buổi đầu là Tướng Vũ Tả và Tướng Nguyễn Hữu. Việc phụng thờ chung các tướng Kinh và Thái trong một điện thờ suốt hơn hai trăm năm đã biến ngôi đền thành biểu tượng của khối đoàn kết các dân tộc nơi phên dậu phía tây.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghe tên Thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất thường nghĩ đây là công trình do triều đình phong kiến sắc lập. Thực tế, Hoàng Công Chất là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân đối kháng với chính quyền Lê Trịnh suốt ba mươi năm (1739 - 1769). Khi quân triều đình do Đoàn Nguyễn Thục chỉ huy tiến lên Mường Thanh năm Kỷ Sửu (1769) thì ông vừa qua đời vì lâm bệnh. Dù sử quan Lê Trịnh chép ông ở mục nghịch thần, nhân dân Tây Bắc lại nhìn nhận ông qua công lao đánh tan giặc Phẻ ngoại bang, bảo vệ biên giới và mở mang ruộng nước Mường Thanh, nên lập miếu phụng thờ từ đời này sang đời khác.

IIHơn Hai Thế Kỷ Rưỡi Giữa Cánh Đồng Mường Thanh

Lịch sử đền Hoàng Công Chất gắn liền với quá trình kiến thiết Thành Bản Phủ vào thế kỷ 18 và những đợt trùng tu bền bỉ của cư dân địa phương qua nhiều biến thiên thời cuộc.

  • 1739 - 1751Từ châu thổ sông Hồng tiến lên Tây Bắc
    Năm Kỷ Mùi (1739), Hoàng Công Chất khởi nghĩa tại Sơn Nam Hạ. Năm 1748 ông chuyển quân vào Thanh Hóa rồi tiến lên vùng Thượng đạo dọc sông Mã, sông Đà và vào châu Ninh Biên (Mường Thanh).
  • 1754Liên kết Kinh Thái đại phá giặc Phẻ
    Tháng 5 năm Giáp Tuất (1754), nghĩa quân Hoàng Công Chất hợp lực cùng hai thủ lĩnh người Thái là Lò Ngải và Lò Khanh tấn công căn cứ Tam Vạn, tiêu diệt tướng giặc Tạo Phạ Chẩu, giải phóng lòng chảo Mường Thanh.
  • 1758 - 1762Xây dựng Thành Bản Phủ (Thành Chiềng Lê)
    Hoàng Công Chất giao cho con trai là Hoàng Công Toản cùng các tướng lĩnh và nhân dân đắp Thành Bản Phủ bên sông Nậm Rốm từ năm Mậu Dần (1758) đến năm Nhâm Ngọ (1762) làm thủ phủ quân sự, chính trị của cả vùng.
  • 1769Hoàng Công Chất qua đời và khởi lập miếu thờ
    Ngày 25 tháng 2 âm lịch năm Kỷ Sửu (1769), Hoàng Công Chất lâm bệnh qua đời tại Thành Bản Phủ. Sau khi nghĩa quân rút đi, đồng bào địa phương dựng ngôi miếu gỗ lợp tranh ngay trên nền Nội thành để hương khói tưởng niệm ông và sáu vị tướng.
  • 1943 - 1948Biến cố hỏa hoạn và dựng lại đền
    Theo hồ sơ di tích tỉnh Điện Biên, ngôi đền lợp tranh bị cháy năm 1943. Năm 1948, nhân dân trong vùng đóng góp công sức dựng lại đền trên nền cũ để duy trì việc tế lễ thường niên.
  • 1981Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành Quyết định số 10-VHTT/QĐ xếp hạng Thành Bản Phủ - Đền Hoàng Công Chất là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cổng thông tin huyện Điện Biên và Wikipedia ghi ngày ký là 9 tháng 2 năm 1981, còn một số tài liệu địa phương ghi ngày 12 tháng 2 năm 1981. Thư viện ghi nhận cả hai.
  • 2004Đại trùng tu kiến trúc đền thờ
    Sau các đợt sửa chữa năm 1981 và 1994, năm 2004 tỉnh Điện Biên trùng tu lớn ngôi đền bằng gỗ và gạch ngói truyền thống, đúc tượng đồng thờ Hoàng Công Chất và đại hồng chung.
  • 2013 - 2015Vinh danh Cây Di sản và Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Năm 2013, cụm cây đa, bồ đề, si trước sân đền được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Ngày 8 tháng 6 năm 2015, Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL đưa Lễ hội Đền Hoàng Công Chất vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Về cấp độ xếp hạng, một số bài viết du lịch đôi khi gộp nhầm Thành Bản Phủ vào quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Điện Biên Phủ. Trên thực tế pháp lý của Cục Di sản văn hóa, Thành Bản Phủ và Đền Hoàng Công Chất là di tích thời phong kiến thế kỷ 18, được xếp hạng riêng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 10-VHTT/QĐ năm 1981, kết hợp với danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho phần lễ hội năm 2015. Giai đoạn 2012 - 2017, tỉnh Điện Biên tiếp tục phục hồi một số đoạn lũy tre gai, hào nước, cổng thành và mở rộng hồ sen cảnh quan.

IIIKiến Trúc Thành Bản Phủ Và Không Gian Đền Thờ

Tổng thể khu di tích gồm lớp kiến trúc phòng thủ quân sự của Thành Bản Phủ bao bọc bên ngoài và lớp kiến trúc tâm linh của Đền Hoàng Công Chất ở trung tâm khu Nội thành xưa.

Theo khảo sát khảo cổ, Thành Bản Phủ (hay Thành Chiềng Lê) rộng khoảng 80 mẫu Bắc Bộ (hơn 28 hecta), mặt bằng hình ngũ giác không đều nương theo sông Nậm Rốm và suối Huổi Lé. Tường thành đắp bằng đất sét nện chặt cao khoảng 5 mét, chân thành rộng 10 đến 15 mét, mặt thành rộng 4 đến 6 mét để ngựa và voi chiến tuần tiễu. Trên mặt và sườn thành trồng giống tre gai thân đặc đan cài thành bức tường sinh học kiên cố, bên ngoài là hào nước rộng 4 đến 5 mét, sâu 3 đến 4 mét nối thông với sông suối. Thành chia làm hai khu bởi tường đất đắp ngang gồm Nội thành rộng khoảng 30 mẫu và Ngoại thành rộng khoảng 50 mẫu, mở bốn cửa Tiền, Hậu, Tả, Hữu có vọng gác.

Nghi môn và sân hội trung tâm

Cổng tam quan bốn trụ biểu đắp nổi tứ linh và câu đối chữ Hán, mở vào khoảng sân gạch rộng nơi diễn ra lễ đại tế và các vòng xòe cộng đồng trong hội tháng Hai.

Tòa đại bái và hậu cung kiểu chữ Đinh

Ngôi đền chính tôn tạo năm 2004 theo mặt bằng chữ Đinh gồm tiền tế năm gian và hậu cung ba gian, mái lợp ngói mũi hài đỏ, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt, khung gỗ chạm tứ quý và mây lửa.

Chính cung thờ Hoàng Công Chất và ban thờ sáu tướng

Gian giữa hậu cung đặt tượng đồng Hoàng Công Chất cùng bài vị. Các gian kế cận bài trí hương án thờ sáu vị thủ lĩnh gồm Lò Ngải, Lò Khanh, Hoàng Công Toản, Bun Phanh, Vũ Tả và Nguyễn Hữu.

Gác chuông và đại hồng chung 1,1 tấn

Bên cạnh đền chính là nhà bia và gác chuông hai tầng tám mái chồng diêm, treo quả chuông đồng nặng khoảng 1,1 tấn đúc năm 2004.

Cây Đoàn Kết (Cây Di sản Việt Nam)

Trước sân đền là cội cổ thụ hơn 250 năm tuổi gồm ba cây đa, bồ đề và si mọc quấn quyện chung một gốc. Tương truyền cây do Hoàng Công Chất cùng hai tướng Lò Ngải, Lò Khanh trồng, được công nhận Cây Di sản Việt Nam năm 2013.

Giếng Chúa, hồ sen và dấu tích lũy thành cổ

Khuôn viên còn bảo tồn Giếng Chúa cung cấp nước sinh hoạt cho bộ chỉ huy xưa, hệ thống hồ sen, ao cá cải tạo từ hào thành cổ, cùng một số đoạn tường đất và rặng tre gai.

Sự hiện diện của Cây Đoàn Kết ba thân một gốc ngay trước cửa đền mang tính biểu tượng sâu sắc. Cây đa đại diện cho làng quê Bắc Bộ nơi Hoàng Công Chất sinh thành, cây bồ đề gợi nhắc lòng từ bi, còn cây si gắn với núi rừng Tây Bắc. Ba loài cây sống hòa thuận qua hơn hai thế kỷ rưỡi là chứng nhân sinh học cho lời thề kết nghĩa giữa thủ lĩnh người Kinh và các tướng lĩnh người Thái năm xưa.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực địa và tọa độ vệ tinh, không phải nội dung chép trong văn bia hay hồ sơ di tích.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cục vùng Tây Bắc, cánh đồng Mường Thanh là một lòng chảo kiến tạo dài hơn hai mươi cây số, rộng chừng sáu cây số, bốn bề núi cao bao bọc như tường thành thiên nhiên giữ cho nội khí toàn vùng không bị gió rừng phân tán. Giữa lòng chảo ấy, Thành Bản Phủ và Đền Hoàng Công Chất tại tọa độ 21,31542 độ vĩ Bắc và 103,00499 độ kinh Đông chiếm giữ gò đất cao thuộc xã Thanh An, hội tụ đủ yếu tố sơn hoàn thủy bao của một đại doanh trạch kiêm huyệt đất linh từ.

Về thủy pháp, dòng sông Nậm Rốm chảy từ bắc xuống nam uốn lượn sát sườn phía tây tòa thành, trong khi suối Huổi Lé vòng qua phía nam rồi đổ vào sông Nậm Rốm, tạo thế lưỡng thủy giao hội ôm lấy hai mặt tây và nam. Hệ thống ao cá, hồ sen và hào thành cổ quanh chân đền đóng vai trò nội minh đường tụ thủy, giúp mạch nước ngầm luôn dồi dào như thấy ở Giếng Chúa. Đền tọa trên nền Nội thành, mặt chính mở về hướng Nam chếch Tây Nam nhìn ra sân rộng, hồ sen và cánh đồng Mường Thanh làm ngoại minh đường khoáng đạt. Sau lưng đền là nền đất cao của hậu thành cùng dãy núi phía đông lòng chảo làm hậu chẩm, hai bên có các dãy núi bao quanh thung lũng làm tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ chầu về, tạo thế tàng phong tụ khí bền vững.

VLễ Hội Thành Bản Phủ (Di Sản Phi Vật Thể Quốc Gia)

Hằng năm vào cuối tháng Hai âm lịch, nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên và du khách lại hội tụ về xã Thanh An dự Lễ hội Thành Bản Phủ - Đền Hoàng Công Chất. Đây là lễ hội truyền thống lớn nhất vùng lòng chảo Mường Thanh, kết hợp nghi thức tế lễ cổ truyền Bắc Bộ với văn hóa lễ hội bản mường của đồng bào Thái và các dân tộc Tây Bắc.

Lịch lễ hội truyền thống tại Đền Hoàng Công Chất - Thành Bản Phủ, Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2015. Nguồn: Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn) và Cổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên..
Thời gian âm lịchNghi lễ và hoạt độngNội dung chi tiết
Ngày 23 tháng 2Lễ cáo yết và chuẩn bị lễ vậtBan quản lý di tích và bô lão làm lễ mở cửa đền, bao sái ban thờ Hoàng Công Chất cùng sáu vị thủ lĩnh, dựng cây nêu và chuẩn bị lễ vật của các bản mường.
Ngày 24 tháng 2Lễ rước kiệu và khai hội chính thứcRước kiệu từ cổng thành vào sân đền trong tiếng trống hội, chiêng, đàn tính, đọc chúc văn ôn lại chiến thắng đánh giặc Phẻ năm 1754, dâng hương, múa rồng và múa xòe đại đoàn kết.
Ngày 25 tháng 2Ngày giỗ Hoàng Công Chất và hội bản mườngĐại tế chính kỵ ngày mất của Chúa Mường Hoàng Công Chất (25 tháng 2 năm Kỷ Sửu 1769). Phần hội có ném còn, kéo co, đẩy gậy, tó má lẹ, bắn nỏ, giã bánh dày và giao lưu dân ca.
Rằm, mùng một và Tết Nguyên đánLễ dâng hương thường kỳNhân dân và khách hành hương thắp hương cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu trên cánh đồng Mường Thanh.

Trong ngày chính hội 24 và 25 tháng Hai âm lịch, nét độc đáo là sự hiện diện song hành của đội tế nam quan mặc áo thụng lam theo nghi thức miền xuôi và các đoàn đại biểu người Thái, Lào, Mông, Khơ Mú dâng lễ vật bản địa như xôi ngũ sắc, rượu cần, măng đắng, cá nướng (pa pỉnh tộp). Sau tuần tế, hàng trăm người dân cùng nắm tay trong vòng xòe lớn dưới bóng Cây Đoàn Kết, tái hiện không khí khao quân mừng chiến thắng của nghĩa quân Bản Phủ năm xưa.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bản Phủ, xã Thanh An (trước năm 2025 là xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên), tỉnh Điện Biên
Đường tới
Từ trung tâm phường Điện Biên Phủ (thành phố Điện Biên Phủ cũ), đi theo Quốc lộ 279 về hướng nam khoảng 9 km tới ngã ba xã Thanh An (xã Noong Hẹt cũ), rẽ phải theo đường liên xã có biển chỉ dẫn thêm khoảng 1 km là tới cổng khu di tích Thành Bản Phủ - Đền Hoàng Công Chất.
Toạ độ
21.31542, 103.00499
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền Hoàng Công Chất và Thành Bản Phủ, quý vị lưu ý mặc trang phục lịch sự, bỏ mũ nón và đi nhẹ nói khẽ khi vào tòa đại bái cùng hậu cung. Khu vực Cây Đoàn Kết hơn 250 năm tuổi là Cây Di sản Việt Nam được bảo vệ nghiêm ngặt, xin quý vị không bẻ cành, khắc chữ hay cắm hương vào rễ cây. Vào dịp chính hội 24 và 25 tháng Hai âm lịch, quý vị nên gửi xe ở bãi ngoài cổng thành và đi bộ qua khu vực hồ sen để giữ sự tôn nghiêm cho không gian lễ tế.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hoàng Công Chất

Contribute photos, information or video for Hoàng Công Chất Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hoàng Công Chất thờ những ai?

Đền thờ chính thủ lĩnh nông dân Hoàng Công Chất (1706 - 1769, được đồng bào Thái tôn gọi là Chúa Mường) và phối thờ sáu vị thủ lĩnh nghĩa quân gồm hai tướng người Thái bản địa là Lò Ngải và Lò Khanh, cùng các tướng Hoàng Công Toản, Bun Phanh, Vũ Tả và Nguyễn Hữu.

Thành Bản Phủ được xây dựng vào thời gian nào và có quy mô ra sao?

Thành Bản Phủ (hay Thành Chiềng Lê) được khởi đắp năm 1758 và hoàn thành năm 1762 bên sông Nậm Rốm. Thành rộng khoảng 80 mẫu Bắc Bộ, tường đất nện cao 5 mét trồng tre gai dày đặc, có hào nước bao quanh, chia làm Nội thành rộng 30 mẫu và Ngoại thành rộng 50 mẫu.

Cây cổ thụ trước sân đền Hoàng Công Chất có gì đặc biệt?

Đó là Cây Đoàn Kết hơn 250 năm tuổi, gồm ba loài cây đa, bồ đề và si mọc quấn quyện chung một gốc lớn. Tương truyền cây do Hoàng Công Chất cùng hai tướng Lò Ngải, Lò Khanh trồng và đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam năm 2013.

Lễ hội Thành Bản Phủ diễn ra vào ngày nào hằng năm?

Lễ hội diễn ra từ ngày 23 đến ngày 25 tháng Hai âm lịch hằng năm (chính hội là ngày 24 và 25 tháng Hai, gắn với ngày mất của Hoàng Công Chất và chiến thắng giải phóng Mường Thanh). Lễ hội được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2015.

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Đền Hoàng Công Chất thuộc xã nào?

Theo Nghị quyết số 1661/NQ-UBTVQH15 năm 2025, ba xã Noong Hẹt, Sam Mứn và Thanh An cũ của huyện Điện Biên được sáp nhập thành xã Thanh An mới. Do đó, khu di tích nay thuộc địa bàn xã Thanh An, tỉnh Điện Biên.

›Đọc Tiếp