VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi

Đền thờ Vua Lê Thái Tổ, Bia Vua Lê Thái Tổ, Bia cổ Hoài Lai

Quần thể đền thờ uy nghiêm trên triền đồi bờ bắc sông Đà, nơi gìn giữ khối đá ma nhai khắc bài thơ ngự chế 132 chữ Hán của vua Lê Thái Tổ năm Tân Hợi 1431 nhằm trấn giữ cương vực Tây Bắc của nước Đại Việt.

Niên đại bia
Tháng Chạp 1431
năm Tân Hợi, niên hiệu Thuận Thiên thứ tư
Bảo vật quốc gia
Bia Vua Lê Thái Tổ
132 chữ Hán, công nhận ngày 22/12/2016
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 10-VHTT/QĐ ngày 09/02/1981

Đi dọc theo cung đường tỉnh lộ 127 men sườn núi phía bắc dòng sông Đà từ trung tâm tỉnh Lai Châu về hướng tây nam chừng một trăm mười kilômét, khi tới địa phận bản Chang thuộc xã Lê Lợi, quý vị sẽ bắt gặp một quần thể đền thờ uy nghi nằm trên triền đồi cao nhìn thẳng xuống mặt nước lòng hồ thủy điện Sơn La. Giữa màu xanh thẫm của núi rừng biên viễn và dải nước sông Đà uốn lượn dưới chân đồi, cổng tam quan đá cùng những mái đền đao cong hiện lên vững chãi như một cột mốc lịch sử trấn giữ cửa ngõ thượng nguồn Tây Bắc.

Bên trong nhà che bia của ngôi đền ấy là một khối đá granit xanh xám nặng hơn mười lăm tấn, trên mặt phẳng tự nhiên còn in rõ 132 chữ Hán khắc chìm từ tháng Chạp năm Tân Hợi (cuối năm 1431, đầu năm 1432 dương lịch). Đó là Bia Vua Lê Thái Tổ, tức Bia Lê Lợi hay Cổ Hoài Lai bi, tấm văn bia ma nhai duy nhất của vị hoàng đế khai sáng triều Hậu Lê còn nguyên vẹn trên đất Tây Bắc, đã được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2016.

IVua Lê Thái Tổ Và Cuộc Thân Chinh Mường Lễ Năm Tân Hợi 1431

Ngôi đền thuộc hệ thống Thờ Cúng Tổ Tiên và các bậc tiền nhân có công dựng nước, giữ nước, nơi tôn thờ đức Vua Lê Thái Tổ (tức Bình Định Vương Lê Lợi, sinh năm 1385, mất năm 1433, trị vì từ năm 1428 đến năm 1433) cùng các tướng sĩ nghĩa quân Lam Sơn đã tham gia cuộc viễn chinh bình định vùng biên ải Tây Bắc. Nếu vùng đất Lam Kinh ở Thanh Hóa là nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và nơi an táng nhà vua, còn khu vực hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội gắn với huyền tích trả gươm thần sau ngày đại định, thì quần thể Đền thờ Vua Lê Thái Tổ tại Lai Châu lại là chứng tích sống động nhất về tầm nhìn giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ nơi phên giậu cực Tây của Tổ quốc ngay trong những năm đầu lập triều Hậu Lê.

Theo sử liệu

Theo bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, sau khi đánh đuổi quân Minh và lên ngôi hoàng đế tại Đông Kinh năm Mậu Thân (1428), vua Lê Thái Tổ bắt tay ngay vào việc ổn định trật tự các phiên trấn miền núi. Bấy giờ ở châu Mường Lễ (vùng đất dọc sông Đà thuộc tỉnh Lai Châu và một phần tỉnh Điện Biên ngày nay), tù trưởng Đèo Cát Hãn cậy thế núi cao sông hiểm, cấu kết với tù trưởng Kha Đốn ở Ai Lao đem quân xâm lấn các châu lân cận và chống lại mệnh lệnh của triều đình.

Cuối năm Canh Tuất (1430) sang đầu năm Tân Hợi (1431), niên hiệu Thuận Thiên thứ tư, nhận thấy họa biên cương không thể để dây dưa, vua Lê Thái Tổ dù tuổi đã cao vẫn quyết định thân chinh thống lĩnh đại quân tiến lên Tây Bắc theo cả hai đường thủy và bộ. Cánh quân thủy ngược dòng sông Đà vượt qua hàng trăm ghềnh thác dữ, cánh quân bộ băng rừng vượt đèo đánh thẳng vào sào huyệt của Đèo Cát Hãn tại châu Mường Lễ. Trước thanh thế áp đảo của đại quân triều đình, lực lượng phản loạn nhanh chóng tan vỡ, Đèo Cát Hãn phải ra hàng và được nhà vua tha tội chết, đồng thời triều đình lấy đất Mường Lễ đổi đặt làm châu Phục Lễ, phong cho con của Cát Hãn là Đèo Mạnh Vượng cai quản để vỗ về dân bản địa.

Trên đường rút quân xuôi dòng sông Đà về kinh sư vào tháng Chạp (quý đông) năm Tân Hợi, khi thuyền ngự đi qua vách núi đá Pú Huổi Chỏ dựng đứng bên bờ bắc sông Đà, nhà vua dừng chân ngắm nhìn thế núi sông hùng hiểm đã thu về một mối, bèn tự tay soạn một bài văn bia gồm lời dẫn và bài thơ luật, sai thợ khắc thẳng lên vách đá bên sông. Cuối văn bia, nhà vua không xưng đế hiệu thường dùng trong chiếu biểu mà ký tên hiệu đầy chất ẩn sĩ và hào sảng là Ngọc Hoa động chủ (Chủ nhân động Ngọc Hoa, gắn với vùng đất căn cứ Lam Sơn xưa).

Theo giáo nghĩa

Trong truyền thống văn hóa và tâm thức dân gian vùng thượng nguồn sông Đà, việc lập đền thờ Vua Lê Thái Tổ ngay tại nơi khắc bia đá mang hai tầng ý nghĩa gắn kết chặt chẽ. Tầng thứ nhất là đạo lý ẩm thủy tư nguyên (uống nước nhớ nguồn), tri ân vị hoàng đế anh hùng và những người lính đã vượt muôn trùng thác ghềnh sông Đà để giữ yên bờ cõi, đem lại cuộc sống bình yên cho cư dân các dân tộc Thái, Mông, Mảng, Hà Nhì, Cống nơi biên viễn. Tầng thứ hai là ý niệm lập đền trấn biên: chữ khắc trên đá kết hợp với khói hương thờ tự quanh năm biến ngọn đồi bên sông Đà thành một cột mốc tâm linh bất khả xâm phạm, nối liền mạch khí từ vùng đất tổ Đền Hùng ở trung du Phú Thọ lên tới tận biên giới cực Tây Bắc.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm nhầm lẫn khá phổ biến trên nhiều trang tin du lịch là gọi bài thơ khắc trên Bia Lê Lợi là bài thơ thất ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu bảy chữ). Thực tế, theo nguyên văn chữ Hán khắc trên đá và bản chép trong sách Toàn Việt thi lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, toàn bộ văn bia có 132 chữ Hán chia làm ba phần: phần lời dẫn (phi lộ) bằng văn xuôi gồm 80 chữ, phần chính là một bài thơ ngũ ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu năm chữ, tổng cộng 40 chữ) theo luật Đường thi, và phần lạc khoản ghi niên đại cùng hiệu người đề gồm 12 chữ. Hiểu đúng thể thơ ngũ ngôn bát cú mới cảm nhận hết giọng văn cô đọng, đanh thép như tiếng chuông đồng gõ vào vách đá của vị hoàng đế vừa dẹp yên biên ải.

IIHành Trình Gần Sáu Thế Kỷ Của Tấm Bia Ma Nhai Bên Dòng Sông Đà

Suốt gần sáu trăm năm kể từ mùa đông năm Tân Hợi (1431), văn bia của vua Lê Thái Tổ đã đứng vững trước mưa nắng và những cơn lũ dữ của dòng sông Đà trên vách núi Pú Huổi Chỏ. Trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam, tấm bia này từng được các sử gia và học giả lớn như Lê Quý Đôn (thế kỷ mười tám) và Quốc sử quán triều Nguyễn (thế kỷ mười chín) trân trọng chép vào thư tịch với tên chữ Hán là Cổ Hoài Lai bi (古懷來碑), tức Bia cổ Hoài Lai (do địa danh Mường Lễ thời thuộc Minh từng bị gọi là châu Hoài Lai). Bước sang thế kỷ hai mươi mốt, trước yêu cầu tích nước của công trình thủy điện Sơn La, tấm bia đã trải qua một cuộc di dời kỹ thuật kỳ công để tiếp tục trường tồn trên vị trí đền thờ mới.

  • Tháng Chạp năm Tân Hợi (cuối 1431, đầu 1432)Khắc văn bia trên vách đá Pú Huổi Chỏ
    Sau khi bình định cuộc nổi dậy của Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, trên đường rút quân xuôi sông Đà, vua Lê Thái Tổ (ký hiệu Ngọc Hoa động chủ) soạn văn bia 132 chữ Hán và cho khắc trực tiếp vào vách đá granit Pú Huổi Chỏ bên bờ bắc sông Đà.
  • Thế kỷ 18 và 19Ghi chép trong thư tịch cổ
    Nhà bác học Lê Quý Đôn chép toàn văn bài bia trong bộ Toàn Việt thi lục, và Quốc sử quán triều Nguyễn tiếp tục ghi nhận di tích dưới tên gọi Cổ Hoài Lai bi (Bia cổ Hoài Lai) trong bộ địa chí Đại Nam nhất thống chí.
  • 09/02/1981Xếp hạng Di tích cấp quốc gia
    Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành Quyết định số 10-VHTT/QĐ công nhận Bia Lê Lợi là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngay trong những đợt xếp hạng đầu tiên của cả nước.
  • 2009 đến 2010Xây dựng Đền thờ Vua Lê Thái Tổ
    Để chuẩn bị bảo tồn văn bia trước khi lòng hồ thủy điện Sơn La tích nước làm ngập vách đá Pú Huổi Chỏ, tỉnh Lai Châu khởi công xây dựng quần thể Đền thờ Vua Lê Thái Tổ trên đồi cao bên bờ bắc sông Đà.
  • Tháng 2/2012Cưa tách và di dời nguyên khối đá 15 tấn
    Các kỹ sư và nhà bảo tồn tiến hành khoan cắt, tách nguyên vẹn khối đá chứa văn bia nặng hơn 15 tấn (dài 2,62 m, rộng 1,13 m, cao 1,85 m) khỏi vách núi Pú Huổi Chỏ và di dời lên đặt trong nhà bia tại khuôn viên đền thờ mới, cách vị trí gốc khoảng 500 m.
  • 22/12/2016Công nhận Bảo vật quốc gia
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2496/QĐ-TTg công nhận Bia Vua Lê Thái Tổ (niên đại 1431) lưu giữ tại Đền thờ Vua Lê Thái Tổ là Bảo vật quốc gia (đợt 5).
  • 2025Mở rộng xã Lê Lợi theo Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15
    Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết số 1670/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các xã Lê Lợi, Nậm Pì, Pú Đao và Chăn Nưa (thuộc huyện Nậm Nhùn cũ) thành xã Lê Lợi mới trực thuộc tỉnh Lai Châu.
Theo sử liệu

Toàn văn 132 chữ Hán trên Bảo vật quốc gia Bia Vua Lê Thái Tổ là một áng hùng văn bậc nhất trong lịch sử văn học và sử học trung đại Việt Nam. Phần lời dẫn mở đầu viết (phiên âm Hán Việt): "Di địch chi vi biên hoạn, tự cổ hữu chi. Hán chi Hung Nô, Đường chi Đột Quyết, ngã Tây Việt chi Mường Lễ, chư Man thị dã. Khoảng do Trần Hồ suy chính, phiên thần bạt hỗ. Cát Hãn nữu ư cựu tập, phụ cố phất tuẫn. Dư kim suất sư vãng chinh, thủy lục tịnh tiến, nhất cử tựu bình. Nhân tả nhất luật khắc chi vu thạch, dĩ giới hậu thế Man tù chi ngạnh hóa giả vân". Dịch nghĩa: Nỗi lo biên cương từ xưa vốn đã có. Nhà Hán có Hung Nô, nhà Đường có Đột Quyết, còn ở phía tây nước Việt ta thì có các tù trưởng vùng Mường Lễ. Vừa qua do chính sự nhà Trần, nhà Hồ suy yếu nên phiên thần ngang ngược. Cát Hãn quen giữ thói cũ, cậy thế hiểm cố thủ không chịu sửa lỗi. Nay ta tự cầm quân đi đánh, đường thủy đường bộ cùng tiến, chỉ một trận là dẹp yên. Nhân đó viết một bài thơ luật khắc vào đá để răn bảo các tù trưởng đời sau chớ có ngông cuồng chống lại sự giáo hóa.

Tiếp theo lời dẫn là bài thơ luật ngũ ngôn bát cú gồm 40 chữ: "Cuồng tặc cảm bô tru / Biên manh cửu hễ tô / Bạn thần tòng cổ hữu / Hiểm địa tự kim vô / Thảo mộc kinh phong hạc / Sơn xuyên nhập bản đồ / Đề thi khắc nham thạch / Trấn ngã Việt Tây ngung". Dịch nghĩa tám câu thơ: Giặc cuồng sao dám trốn tội tru di, Dân vùng biên từ lâu ngóng đợi ngày hồi sinh, Kẻ bề tôi làm phản từ xưa vốn từng có, Nhưng đất hiểm trở cậy thế chống lại thì từ nay không còn nữa, Cây cỏ nghe tiếng gió tiếng hạc cũng khiến giặc kinh hồn, Núi sông nay đã thu trọn vào bản đồ một mối, Đề thơ khắc lên vách đá dựng đứng, Để trấn giữ góc phía Tây của nước Việt ta. Cuối bia khắc dòng lạc khoản 12 chữ: "Tân Hợi quý đông cát nhật, Ngọc Hoa động chủ đề" (Ngày tốt tháng cuối mùa đông năm Tân Hợi, Ngọc Hoa động chủ đề).

IIIQuần Thể Kiến Trúc Đền Thờ Và Nhà Bia Bảo Vật Quốc Gia

Theo hồ sơ di tích của tỉnh Lai Châu và Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), quần thể Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi hiện nay có tổng diện tích quy hoạch khoảng 2,4 hécta trên sườn đồi cao thuộc bản Chang, xã Lê Lợi, trong đó diện tích mặt bằng xây dựng các hạng mục công trình chính khoảng 500 mét vuông. Toàn bộ công trình được thiết kế theo phong cách kiến trúc đền miếu truyền thống thời Hậu Lê kết hợp hài hòa với địa hình đồi núi bậc thang bên bờ sông Đà, sử dụng vật liệu gỗ lim, đá xanh chạm khắc và gạch ngói mũi hài cổ truyền.

Trục kiến trúc đi từ dưới chân đồi bên đường tỉnh lộ 127 và bờ hồ sông Đà ngược lên đỉnh đồi qua các cấp nền cao dần, tạo cảm giác trang nghiêm như bước lên đài tế giữa non ngàn Tây Bắc. Tâm điểm của toàn khu di tích là Đền thờ chính nơi đặt khám thờ và pho tượng đồng Vua Lê Thái Tổ trong tư thế uy nghiêm, cùng với Nhà che bia nằm ở vị trí trang trọng bên cạnh, nơi bảo vệ nguyên khối đá ma nhai hơn mười lăm tấn khỏi tác động của mưa nắng.

Cổng Tam quan, Nghi môn và Đền Trình (Vọng Lâu)

Hệ thống cổng trụ biểu bằng đá xanh chạm khắc tứ linh và vân mây dẫn vào khu vực Đền Trình (Vọng Lâu) ở cấp nền dưới, nơi các đoàn hành hương dừng chân sửa soạn lễ vật và thực hiện nghi thức rước kiệu Vua lên đền chính trong ngày hội.

Sân hành lễ và hệ thống bậc đá

Khoảng sân rộng lát đá xanh và gạch Bát Tràng nối giữa Nghi môn với tòa Tiền tế, hai bên trồng nhiều cây xanh và cây lưu niệm, là không gian tập trung các đoàn tế lễ và diễn ra nghi thức dâng hương cấp tỉnh mỗi dịp đầu xuân.

Tòa Tiền tế và Hậu cung Đền thờ Vua Lê Thái Tổ

Xây dựng theo bố cục truyền thống với bộ khung gỗ chịu lực, mái lợp ngói mũi hài đao cong gắn lưỡng long chầu nguyệt. Trong Hậu cung đặt pho tượng Vua Lê Thái Tổ uy nghi cùng các ban phối thờ tướng sĩ nghĩa quân Lam Sơn, hoành phi câu đối sơn son thếp vàng ca ngợi công đức bình định biên cương.

Nhà bia và Bảo vật quốc gia Bia Vua Lê Thái Tổ

Kiến trúc nhà phương đình mái chồng diêm tám mái thoáng đãng che chở cho khối đá granit tự nhiên dài 2,62 m, rộng 1,13 m, cao 1,85 m, nặng trên 15 tấn được cưa tách từ vách đá Pú Huổi Chỏ. Khung mặt bia hình chữ nhật (khoảng 1,4 m nhân 0,8 m) khắc chìm 132 chữ Hán lối chữ Khải chân phương.

Đài vọng cảnh lòng hồ sông Đà

Khu vực sân nhìn thẳng xuống hẻm sông Đà và vị trí vách đá Pú Huổi Chỏ cũ nay nằm dưới mặt nước lòng hồ thủy điện Sơn La, giúp du khách hình dung rõ cuộc hành quân đường thủy năm 1431 và cuộc di dời văn bia năm 2012.

Điểm đáng chú ý nhất về mặt kỹ thuật bảo tồn tại khu di tích chính là khối đá Bảo vật quốc gia Bia Vua Lê Thái Tổ. Khác với các tấm bia đá thông thường được tạo tác rời rồi dựng lên lưng rùa (như bia Vĩnh Lăng ở Lam Kinh), Bia Lê Lợi vốn là bia ma nhai, tức văn bia khắc trực tiếp vào vách núi đá tự nhiên bên bờ sông. Khi thực hiện dự án di dời năm 2012, để không làm nứt vỡ cấu trúc đá granit đã tồn tại gần sáu thế kỷ dưới tác động phong hóa, các chuyên gia đã phải khảo sát địa chất tỉ mỉ, khoan dây kim cương tách cả một khối đá mẹ khổng lồ dày hơn một mét phía sau mặt chữ, nâng tổng trọng lượng khối đá lên hơn mười lăm tấn, rồi dùng thiết bị chuyên dụng đưa lên cao độ mới an toàn tuyệt đối. Nhờ vậy, khi đứng trước tấm bia hôm nay, người xem vẫn thấy nguyên vẹn từng thớ đá tự nhiên của vách núi Pú Huổi Chỏ cùng nét đục sâu khỏe khoắn của thợ đá thế kỷ mười lăm.

IVThế Đất Và Hướng

Phần phân tích dưới đây là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền đối với cả vị trí vách đá Pú Huổi Chỏ nguyên gốc và vị trí Đền thờ Vua Lê Thái Tổ hiện nay bên bờ sông Đà, không phải nội dung chép trong văn bia hay hồ sơ xếp hạng di tích. Chúng tôi nêu rõ để quý vị phân biệt giữa sử liệu và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét theo địa lý phong thủy vùng Tây Bắc, khu di tích Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi tọa lạc tại tọa độ khoảng 22,0994 độ vĩ Bắc và 103,1169 độ kinh Đông, nằm trên sườn đồi bờ bắc (tả ngạn theo chiều nước chảy) của dòng sông Đà hùng vĩ, ngay gần ngã ba nơi dòng sông Nậm Na từ phía bắc chảy xuống hợp lưu với sông Đà tại khu vực Chăn Nưa, Lê Lợi. Trong phép xem đại cục sơn hà, nơi hai dòng sông lớn giữa núi cao hội thủy chính là thủy khẩu và yết hầu của cả một vùng biên trấn. Vua Lê Thái Tổ năm Tân Hợi (1431) chọn đúng vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ bắc sông Đà để khắc bài thơ "Trấn ngã Việt Tây ngung" (Trấn giữ góc phía Tây nước Việt ta) không phải là sự ngẫu nhiên của chặng nghỉ chân, mà là phép dùng văn bia ma nhai điểm huyệt trấn ải ngay tại cửa ngõ đường sông huyết mạch nối châu Mường Lễ với vùng hạ lưu.

Tại vị trí đền thờ hiện nay (cao hơn vị trí vách đá cũ và cách khoảng năm trăm mét), ngôi đền đắc trọn thế tựa sơn hướng thủy, tiền thấp hậu cao chuẩn mực. Phía sau lưng đền (phương bắc và tây bắc) là dãy núi cao thuộc mạch núi Pú Huổi Chỏ và khối sơn nguyên Sìn Hồ, Nậm Nhùn sừng sững làm hậu chẩm che chắn gió bấc và giữ vững long mạch. Mặt chính của đền và nhà bia mở về hướng nam chếch đông nam, nhìn thẳng xuống khúc uốn của dòng sông Đà (nay là mặt hồ thủy điện Sơn La). Khi lòng hồ tích nước, dòng sông Đà vốn chảy xiết qua hẻm đá hẹp đã mở rộng thành một minh đường tụ thủy mênh mông, sâu và tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ phản chiếu bóng đền.

Phóng tầm mắt qua bên kia bờ nam sông Đà (thuộc địa phận xã Pú Đao cũ, nay cùng gộp vào xã Lê Lợi mới), những dãy núi trùng điệp vươn cao đối diện trực tiếp với mặt đền tạo thành tầng tầng tiền án và triều sơn chầu về, trong khi hai sườn đồi chạy dọc theo bờ bắc sông Đà ôm lấy khu khuôn viên 2,4 hécta như hai cánh tay tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ cân xứng. Việc di dời nguyên khối đá ma nhai hơn mười lăm tấn từ đáy hẻm sông lên sườn đồi cao năm 2012, xét theo lý khí và hình thế, đã giữ trọn được mối liên kết giữa long mạch núi Pú Huổi Chỏ và thủy mạch sông Đà, giúp linh khí của bức văn bia trấn biên tiếp tục tỏa rạng trên vùng trời Tây Bắc.

VLễ Hội Đền Thờ Vua Lê Thái Tổ Đầu Xuân Nơi Biên Viễn

Từ một di tích văn bia cổ bên bờ sông Đà, sau khi quần thể đền thờ được xây dựng khang trang và Bảo vật quốc gia Bia Vua Lê Thái Tổ được an vị, nơi đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh lớn nhất ở khu vực tây nam tỉnh Lai Châu. Hằng năm, vào dịp đầu xuân mới, tỉnh Lai Châu tổ chức trọng thể Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tổ với quy mô cấp tỉnh, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Thái, Mông, Mảng, Cống, Kinh cùng du khách thập phương về chiêm bái.

Lễ hội chính vào tháng Giêng âm lịch được tỉnh Lai Châu duy trì tổ chức thường niên với phần lễ trang nghiêm và phần hội đậm bản sắc các dân tộc vùng sông Đà. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu và Báo Lai Châu..
Thời điểm âm lịchTên lễ tiếtNghi thức và hoạt động chính
Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng Giêng (chính hội ngày 12 tháng Giêng)Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tổ đầu xuânLễ hội cấp tỉnh mở đầu bằng nghi thức cúng tại Đền Trình (Vọng Lâu), lễ rước kiệu Vua Lê Thái Tổ lên đền chính, lễ tế dân gian, dâng hương tưởng niệm công đức vua Lê Lợi và các tướng sĩ. Phần hội có đua thuyền đuôi én trên sông Đà, vòng xòe đoàn kết, hội thi ẩm thực và các trò chơi dân gian.
Ngày 22 tháng Tám âm lịchLễ giỗ Đức Vua Lê Thái Tổ (Tức Mặc / Lam Kinh đồng vọng)Lễ dâng hương tưởng niệm ngày băng hà của vua Lê Thái Tổ (22 tháng Tám năm Quý Sửu 1433) theo truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
Tháng Chạp âm lịchKỷ niệm tháng khắc Bia Vua Lê Thái Tổ và lễ tạ cuối nămDâng hương tưởng nhớ sự kiện tháng Chạp năm Tân Hợi (1431) nhà vua đề thơ khắc đá trên vách Pú Huổi Chỏ và làm lễ tạ ơn thần linh, tiền nhân dịp cuối năm.

Nét độc đáo nhất trong Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tổ từ ngày 11 đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch là sự kết hợp giữa nghi thức tế lễ cổ truyền tôn nghiêm và hội đua thuyền đuôi én trên dòng sông Đà. Buổi sáng ngày chính hội (12 tháng Giêng), đoàn rước kiệu trong trang phục lễ nhạc truyền thống khởi hành từ Đền Trình (Vọng Lâu) tiến bước lên sân đền chính để cử hành đại lễ dâng hương, đọc chúc văn ôn lại cuộc thân chinh năm Tân Hợi 1431 và tuyên đọc nguyên văn 132 chữ Hán trên tấm bia Bảo vật quốc gia. Ngay sau phần lễ trên đồi cao, dưới mặt nước sông Đà trước cửa đền lại dậy sóng tiếng trống, tiếng reo hò cổ vũ cho những chiếc thuyền đuôi én của các bản làng Thái, Mông, Mảng rẽ nước tranh tài, gợi nhắc trực tiếp hình ảnh đoàn thủy quân của vua Lê Lợi vượt thác sông Đà gần sáu thế kỷ trước.

Nếu đặt Đền thờ Vua Lê Thái Tổ tại Lai Châu trong cùng một mạch không gian lịch sử với Đền Hang Miếng ở Sơn La và Đền Chúa Thác Bờ ở Phú Thọ (Hòa Bình cũ), người hành hương sẽ nhận ra một tuyến di sản liền mạch dọc theo dòng chảy sông Đà: thượng nguồn ở Lai Châu là nơi nhà vua khắc bia đá khẳng định chủ quyền sau ngày thắng trận, còn trung lưu và hạ lưu ở Sơn La, Phú Thọ là nơi nhân dân lập đền thờ những người phụ nữ miền núi đã chèo thuyền tiếp lương cho chính đoàn quân ấy trên đường khải hoàn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bản Chang, xã Lê Lợi (sáp nhập các xã Lê Lợi, Nậm Pì, Pú Đao và Chăn Nưa thuộc huyện Nậm Nhùn cũ, trước năm 2012 thuộc huyện Sìn Hồ), tỉnh Lai Châu
Đường tới
Khu di tích nằm tại bản Chang, xã Lê Lợi (sáp nhập các xã Lê Lợi, Nậm Pì, Pú Đao và Chăn Nưa thuộc huyện Nậm Nhùn cũ), tỉnh Lai Châu, cách trung tâm hành chính tỉnh Lai Châu khoảng 110 km về phía tây nam. Quý vị có thể đi ô tô hoặc xe máy từ phường Tân Phong theo Quốc lộ 4D và Quốc lộ 12 qua Chăn Nưa rồi rẽ vào đường tỉnh lộ 127 chạy dọc bờ bắc sông Đà tới thẳng cổng đền, hoặc đi từ Điện Biên theo Quốc lộ 12 qua cầu Hang Tôm mới rẽ vào tỉnh lộ 127.
Toạ độ
22.0994, 103.1169
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi, quý vị cần mặc trang phục lịch sự, kín đáo, giữ trật tự và đi nhẹ bước khi vào khu vực Tiền tế, Hậu cung cũng như Nhà che bia. Khối đá Bia Vua Lê Thái Tổ là Bảo vật quốc gia đặc biệt quý hiếm có tuổi đời gần sáu thế kỷ, vì vậy quý vị tuyệt đối không chạm tay trực tiếp lên mặt chữ khắc, không tự ý dập bia, viết vẽ hay đặt tiền lẻ lên bệ đá bảo vệ. Khi dâng hương, xin thực hiện tại lư hương ngoài sân hoặc bàn lễ theo đúng hướng dẫn của Ban quản lý di tích.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi

Contribute photos, information or video for Temple of King Lê Thái Tổ and the Lê Lợi Stele

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Bia Vua Lê Thái Tổ ở Lai Châu được khắc vào năm nào và có bao nhiêu chữ

Bia Vua Lê Thái Tổ (còn gọi là Bia Lê Lợi hay Bia cổ Hoài Lai) được khắc vào ngày tốt tháng Chạp (quý đông) năm Tân Hợi, niên hiệu Thuận Thiên thứ tư (cuối năm 1431, đầu năm 1432 dương lịch) trên vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ bắc sông Đà. Văn bia gồm tổng cộng 132 chữ Hán khắc theo lối chữ Khải chân phương, chia làm lời dẫn văn xuôi (80 chữ), bài thơ ngũ ngôn bát cú (40 chữ) và dòng lạc khoản ghi niên đại cùng hiệu Ngọc Hoa động chủ (12 chữ).

Bài thơ trên Bia Lê Lợi thuộc thể thơ thất ngôn bát cú hay ngũ ngôn bát cú

Dù một số bài báo đại chúng đôi khi ghi nhầm là thất ngôn bát cú, nguyên văn chữ Hán trên bia và bản chép trong sách Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn khẳng định đây là bài thơ luật ngũ ngôn bát cú (8 câu, mỗi câu 5 chữ, tổng cộng 40 chữ), mở đầu bằng câu Cuồng tặc cảm bô tru và kết thúc bằng hai câu Đề thi khắc nham thạch, Trấn ngã Việt Tây ngung (Đề thơ khắc lên vách đá cao, Để trấn giữ góc phía Tây nước Việt ta).

Vì sao Bia Lê Lợi lại được di dời năm 2012 và khối đá nặng bao nhiêu

Vị trí khắc bia gốc năm 1431 nằm trên vách đá Pú Huổi Chỏ sát bờ sông Đà, thuộc vùng ngập nước khi nhà máy thủy điện Sơn La tích nước lòng hồ. Để cứu nguy và bảo tồn di sản, vào tháng 2 năm 2012, các chuyên gia đã cưa tách nguyên khối đá granit mang văn bia dài 2,62 m, rộng 1,13 m, cao 1,85 m, nặng trên 15 tấn khỏi vách núi và di dời lên đặt trong nhà bia tại khuôn viên Đền thờ Vua Lê Thái Tổ, cao hơn và cách vị trí cũ khoảng 500 m.

Đền thờ Vua Lê Thái Tổ và Bia Lê Lợi được xếp hạng di tích và Bảo vật quốc gia khi nào

Di tích Bia Lê Lợi được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 10-VHTT/QĐ ngày 09 tháng 02 năm 1981. Đến ngày 22 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2496/QĐ-TTg công nhận Bia Vua Lê Thái Tổ (niên đại 1431) là Bảo vật quốc gia đợt 5.

Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tổ diễn ra vào ngày nào và xã Lê Lợi sau năm 2025 thay đổi ra sao

Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tổ được tổ chức thường niên ở quy mô cấp tỉnh từ ngày 11 đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch (chính hội ngày 12 tháng Giêng) với lễ rước kiệu từ Vọng Lâu, lễ tế dâng hương và hội đua thuyền đuôi én trên sông Đà. Về hành chính, theo Nghị quyết số 1670/NQ-UBTVQH15 năm 2025, các xã Lê Lợi, Nậm Pì, Pú Đao và Chăn Nưa (thuộc huyện Nậm Nhùn cũ) được sáp nhập thành xã Lê Lợi mới của tỉnh Lai Châu.

›Đọc Tiếp