VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Somnath, Gujarat

Shree Somnath Jyotirlinga Temple, સોમનાથ મંદિર, सोमनाथ मन्दिर, Someshwara, Deo Patan, Prabhas Patan

Đệ nhất thánh địa trong mười hai cột ánh sáng Jyotirlinga của thần Shiva đứng sừng sững ngay sát mép sóng biển Ả Rập tại Gujarat, biểu tượng cho sức sống bền bỉ qua hàng thiên niên kỷ phế hưng của kiến trúc đá Ấn Độ.

Thánh tích
Đệ nhất Jyotirlinga
đứng đầu 12 cột sáng của Shiva
Kiến trúc
Maru-Gurjara
đại trùng tu hoàn thành năm 1951
Chiều cao
47,2 m (155 ft)
đỉnh gắn đá Amalaka nặng 10 tấn

Đứng trên sân đá rộng sát bờ kè chắn sóng của thị trấn cổ Prabhas Patan trên bán đảo Saurashtra thuộc bang Gujarat, quý vị vừa nghe tiếng sóng biển Ả Rập vỗ ầm ào ngay dưới chân tường thành phía nam, vừa ngước nhìn một tòa đại đền bảy tầng bằng đá sa thạch vàng hồng vươn cao hơn bốn mươi bảy mét giữa bầu trời lộng gió biển. Trên mũi tường thành nhìn thẳng ra đại dương mênh mông ấy có một cây trụ đá cổ mang hình mũi tên hướng thẳng về phương Nam, nhắc người hành hương rằng từ bờ đá này chạy dọc kinh tuyến xuống tận châu Nam Cực không hề có một hòn đảo hay dải đất nào chắn ngang mặt nước.

Khi cất tiếng tụng bài kệ cổ Dwadasha Jyotirlinga Stotram điểm danh mười hai thánh địa tối cao của thần Shiva trên khắp đất Ấn Độ, mọi tín đồ Ấn Độ giáo đều mở đầu bằng câu Saurashtre Somanatham cha, tức Somnath tại xứ Saurashtra đứng ở vị trí đầu tiên. Vì lẽ đó, ngôi đền này được tôn xưng là Aadi Jyotirlinga, cột ánh sáng khởi nguyên của thần Shiva, sánh đôi cùng đền Kashi Vishwanath bên bờ sông Hằng ở miền Bắc.

Đền Somnath, Gujarat
Đền Somnath, Gujarat. Ảnh: B. SurajPatro1997, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Mặt Trăng Soma, Đức Shiva Someshwara Và Vùng Đất Ánh Sáng Prabhas

Danh hiệu Somnath (Somanātha) hay Someshwara (Someśvara) trong tiếng Phạn được ghép từ Soma (tên của thần Mặt Trăng Chandra, đồng thời là tên chất nước cam lộ bất tử trong kinh Vệ Đà) và nātha hay īśvara (bậc chúa tể). Somnath nghĩa là Đấng Chúa tể của Mặt Trăng, một trong những hóa thân từ bi nhất của thần Shiva, vị thần thường được khắc họa với vầng trăng lưỡi liềm cài trên búi tóc bện của ngài.

Theo giáo nghĩa

Theo thần thoại chép trong phần Prabhasa Khanda của bộ Skanda Purana, bộ Shiva Purana và sử thi Mahabharata, thần Mặt Trăng Soma (Chandra) kết hôn với hai mươi bảy người con gái của tổ phụ Daksha Prajapati, tượng trưng cho hai mươi bảy chòm sao (Nakshatra) mà mặt trăng đi qua trong một tháng âm lịch. Vì Soma đem lòng yêu thương riêng nàng Rohini mà sao nhãng hai mươi sáu người vợ còn lại, các nàng đã về than khóc với cha. Tổ phụ Daksha nhiều lần khuyên răn không được bèn giáng một lời nguyền nặng nề khiến thần Mặt Trăng mắc chứng suy kiệt, ánh sáng trên thân thể cứ lụi tàn dần từng ngày khiến đêm tối bao trùm thế gian và thảo dược mất hết nhựa sống.

Theo lời chỉ dẫn của thần sáng tạo Brahma, thần Mặt Trăng Soma cùng nàng Rohini đã tìm tới vùng đất cửa biển nơi ba dòng sông thiêng Saraswati, Hiran và Kapila hòa vào đại dương, tắm gội thanh tẩy và lập đàn trì tụng thần chú Mahamrityunjaya Mantra thờ thần Shiva suốt sáu tháng ròng. Cảm động trước lòng thành kính ấy, thần Shiva hóa hiện thành cột ánh sáng Jyotirlinga, thu hồi một nửa lời nguyền của Daksha để từ đó mặt trăng có mười lăm ngày khuyết (Krishna Paksha) rồi lại hồi phục rực rỡ trong mười lăm ngày sáng (Shukla Paksha), đồng thời cài vầng trăng lên mái tóc mình và ngự lại nơi đây dưới danh hiệu Somnath. Do thần Mặt Trăng tìm lại được ánh hào quang tại mảnh đất này, vùng cửa biển ấy được đặt tên là Prabhasa (hay Prabhas Patan), nghĩa là Vùng đất tỏa sáng rực rỡ.

Theo sử liệu

Không chỉ là thánh địa đứng đầu của nhánh thờ thần Shiva, vùng đất Prabhas Patan quanh đền Somnath còn giữ vị trí đặc biệt thiêng liêng đối với nhánh thờ thần Vishnu: theo sử thi Mahabharata và kinh Bhagavata Purana, sau khi cuộc đại chiến Kurukshetra khép lại được ba mươi sáu năm, chính tại khu rừng Bhalka Tirtha (cách đền Somnath khoảng bốn cây số) Đức Krishna đã bị mũi tên của người thợ săn Jara bắn trúng bàn chân, rồi ngài đi tới bờ sông Hiran tại Dehotsarga Tirtha gần hợp lưu Triveni Sangam để trút bỏ thân xác phàm trần, trở về cõi thiên giới Goloka, đánh dấu thời khắc kết thúc thời đại Dvapara Yuga và mở đầu thời đại Kali Yuga.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm dễ gây nhầm lẫn khi đọc các tài liệu cổ: nhiều bản ký sự Ba Tư trung đại từng gán ghép tên gọi Sumanat (Somnath) với nữ thần Manat của vùng Ả Rập tiền Hồi giáo và cho rằng trong đền có một pho tượng hình người lơ lửng giữa không trung nhờ đá nam châm. Các nhà sử học và khảo cổ học hiện đại (như học giả M. A. Dhaky và Romila Thapar) đã đối chiếu văn bia tiếng Phạn cùng ghi chép của học giả thế kỷ 11 Al-Biruni để khẳng định đây chỉ là sự thêu dệt văn chương: Somnath từ thuở nguyên sơ tới nay luôn thờ khối đá Shiva Linga gắn trên bệ yonipitha theo đúng truyền thống Shaivism, không phải tượng nữ thần và không có liên hệ ngôn ngữ nào với tên gọi Manat.

IIBiên Niên Sử Nghìn Năm Phế Hưng Bên Bờ Biển Ả Rập

Lịch sử của đền Somnath là câu chuyện về sự đối đầu dai dẳng giữa sự hủy hoại của các cuộc viễn chinh quân sự và ý chí tái thiết của các vương triều cùng nghệ nhân bản địa xứ Gujarat. Các cuộc khai quật khảo cổ tại Prabhas Patan vào thập niên 1950 (do B. K. Thapar chủ trì) và thập niên 1970 (do M. K. Dhavalikar và Gregory Possehl thực hiện) đã chứng minh vùng cửa sông này có con người định cư từ thời văn minh sông Ấn (khoảng thiên niên kỷ 2 TCN), được đại thi hào Kalidasa nhắc tới trong trường ca Raghuvamsa thế kỷ 5 và lưu lại nhiều tầng móng đền đá chồng lên nhau ngay tại một vị trí sát biển.

  • Thế kỷ 7 đến thế kỷ 10Các ngôi đền sơ kỳ thời Maitraka, Pratihara và vua Mularaja
    Truyền thống địa phương cho rằng vua Yadavas của Vallabhi dựng đền vào khoảng năm 649 SCN, văn bia ghi nhận vua Nagabhata II (trị vì 805 tới 833) của vương triều Gurjara-Pratihara từng hành hương tới Someshvara. Cuối thế kỷ 10 (trước năm 997), vua Mularaja sáng lập vương triều Chaulukya (Solanki) đã xây dựng ngôi đền đá sa thạch đỏ chạm khắc tinh xảo mà khảo cổ học gọi là Đền Giai đoạn I.
  • 1026Cuộc đột kích của Mahmud xứ Ghazni và đợt tái thiết của vua Bhima I
    Tháng 1 năm 1026 (một số nguồn ghi 1025), Sultan Mahmud xứ Ghazni vượt sa mạc Thar tấn công Prabhas Patan, cướp phá kho báu và đập vỡ Jyotirlinga. Ngay sau khi quân Ghazni rút đi, vua Bhima I (trị vì 1022 tới 1064) của vương triều Chaulukya cùng vua Bhoja xứ Malwa đã nhanh chóng dựng lại đền bằng đá và gỗ, giúp đền hoạt động trở lại trước năm 1038 như ghi nhận trên văn bia vua Kadamba xứ Goa.
  • 1169Vua Kumarapala và quốc sư Bhava Brihaspati dựng đại đền đá Meru Prasad
    Theo văn bia Bhadrakali khắc năm 1169 SCN, vua Kumarapala (trị vì 1143 tới 1172) nghe theo lời khuyên của bậc đạo sư hệ phái Pashupata là Bhava Brihaspati đã thay thế cấu trúc cũ đang xuống cấp bằng một tòa đại đền đá quy mô lớn mang tên Kailash Meru Prasad, nạm châu báu và mở rộng tường bao chắn sóng biển.
  • 1299 đến 1351Biến cố thời Khalji và sự phục dựng của vương triều Chudasama
    Năm 1299, đạo quân của Ulugh Khan dưới triều Sultan Alauddin Khalji tiến đánh Gujarat và tàn phá đền Somnath. Tới năm 1308, vua Mahipala I của vương triều Chudasama xứ Junagadh đứng ra trùng tu ngôi đền, và con trai ông là vua Khengara hoàn tất lễ an vị Linga mới trong khoảng năm 1331 đến năm 1351.
  • 1395 đến 1706Các đợt hư hại thời Vương quốc Gujarat và thời Mughal
    Ngôi đền tiếp tục bị phá hủy một phần vào năm 1395 dưới thời Zafar Khan (Muzaffar Shah I), năm 1451 dưới thời Mahmud Begada, và đến năm 1706 hoàng đế Mughal Aurangzeb ra lệnh triệt hạ và cải biến một phần cấu trúc đền cũ thành nhà cầu nguyện có mái vòm.
  • 1783Nữ hoàng Maharani Ahilyabai Holkar dựng đền phụ bảo tồn mạch thờ
    Nhận thấy ngôi đền cổ bên bờ biển đã đổ nát, Nữ hoàng xứ Indore là Maharani Ahilyabai Holkar (cùng với sự hợp tác của các thủ lĩnh Maratha) đã xây dựng một ngôi đền Shiva mới ngay phía bắc phế tích cũ vào năm 1783, thiết kế hậu cung ngầm dưới lòng đất để giữ gìn sự tôn nghiêm cho Jyotirlinga.
  • 1947 đến 1951Kiến thiết đại đền Kailash Mahameru Prasad hiện hữu
    Tháng 11 năm 1947, dự án tái thiết đền Somnath trên nền móng cổ sát bờ biển được khởi động dưới sự bảo trợ của Quỹ tín thác Shree Somnath Trust. Kiến trúc sư trưởng Prabhashankarbhai Oghadbhai Sompura thiết kế tòa đền mới theo đúng chuẩn mực Chaulukya thế kỷ 12, và ngày 11 tháng 5 năm 1951 lễ an vị Prana Pratishtha được cử hành trọng thể.
Theo sử liệu

Về ghi chép của học giả Al-Biruni thế kỷ 11, trong tác phẩm khảo cứu Ấn Độ hoàn thành khoảng năm 1030, nhà bác học Ba Tư Al-Biruni đã mô tả vị trí đền Somnath nằm cách cửa sông Saraswati chưa đầy ba dặm về phía tây, xây ngay sát mép nước biển Ấn Độ Dương tới mức mỗi khi thủy triều dâng cao, sóng biển lại vỗ lên tận bệ thờ như thể chính thần Mặt Trăng đang điều khiển nước thủy triều lên xuống mỗi ngày để tắm rửa và hầu hạ thần Shiva.

Về câu chuyện cánh cổng gỗ đàn hương năm 1842, một giai thoại lịch sử từng gây tranh luận lớn tại Quốc hội Anh vào năm 1843 là sự kiện Toàn quyền Ấn Độ Lord Ellenborough ban hành bản Tuyên cáo về các cánh cổng (Proclamation of the Gates), ra lệnh cho tướng William Nott khi rút quân khỏi Afghanistan năm 1842 phải tháo cặp cánh cổng gỗ tại lăng mộ của Mahmud xứ Ghazni mang về Ấn Độ vì tin rằng đó là cổng gỗ đàn hương mà Mahmud đã cướp từ đền Somnath tám trăm năm trước. Tuy nhiên, khi đưa về tới pháo đài Agra và giám định kỹ thuật, các chuyên gia xác nhận cặp cổng này thực chất làm bằng gỗ tuyết tùng Himalaya (deodar) chạm hoa văn hình học Trung Á chứ không phải gỗ đàn hương hay phong cách Gujarat, cặp cổng ấy từ đó được lưu giữ tại kho cổ vật pháo đài Agra như một chứng tích lịch sử hi hữu.

IIIKiến Trúc Maru-Gurjara, Đồ Hình Kailash Mahameru Prasad Và Trụ Đá Baan Stambh

Ngôi đại đền Somnath hoàn thiện từ năm 1951 đến thập niên 1960 là kiệt tác phục hưng của trường phái kiến trúc Maru-Gurjara (còn gọi là phong cách Chaulukya hay Solanki), được xây dựng theo đồ hình Kailash Mahameru Prasad tượng trưng cho đỉnh núi tuyết Kailash nơi thần Shiva ngự trị. Bậc thầy kiến trúc Prabhashankarbhai Oghadbhai Sompura, hậu duệ đời thứ nhiều thế kỷ của dòng họ nghệ nhân xây đền truyền thống Sompura Salat ở Gujarat, đã trực tiếp khảo cứu nền móng ngôi đền năm 1169 của vua Kumarapala (từng được nhà khảo cổ Henry Cousens đo vẽ chi tiết năm 1931 với chiều dài nền khoảng 140 bộ Anh và dải phù điêu ngựa asvathara dưới chân đế) để dựng lại công trình bằng đá sa thạch vàng hồng Khorasa ghép mộng hoàn toàn không dùng vữa xi măng.

Tổng thể tòa đền gồm ba không gian chính nối tiếp nhau: hậu cung Garbhagriha ở phía tây, sảnh hội tụ Sabha Mandapa ở giữa và sảnh vũ nhạc Nritya Mandapa ở phía đông, với toàn bộ vách ngoài và các hàng cột bên trong được chạm khắc tới 212 mảng phù điêu lớn mô tả chư thần Vệ Đà, vũ nữ thiên giới Apsara, linh thú Vyala và các cảnh trong sử thi Ramayana.

Đại tháp Shikhara cao 47,2 mét và khối đá Amalaka 10 tấn

Ngọn tháp chính phía trên hậu cung vươn tới tổng chiều cao 155 bộ Anh (47,2 mét) tính từ mặt đất, gồm nhiều lớp tháp con urushringa bó chặt lấy thân tháp chính. Trên đỉnh chóp đặt một khối đá tròn khía múi Amalaka đẽo từ một tảng đá nguyên khối nặng 10 tấn, phía trên là bình đỉnh Kalasha dát vàng và cột cờ (Dhwajadanda) cao 8,2 mét (27 bộ Anh) nặng hơn một tấn.

Hậu cung Garbhagriha và Somnath Jyotirlinga

Không gian linh thiêng nhất dưới chân đại tháp, nơi toàn bộ trần, vòm cửa và các cột trụ đều được bọc vàng ròng (nhờ hơn 130 kg vàng do các tín đồ hiến tặng trong thập niên 2010 đến 2020). Chính giữa sàn đá tôn trí khối đá đen Somnath Jyotirlinga bóng mịn đặt trên bệ yonipitha bọc vàng, phía sau là tượng thần rắn Naga che lọng.

Sảnh hội tụ Sabha Mandapa và sảnh vũ nhạc Nritya Mandapa

Hai đại sảnh nhiều tầng nâng đỡ bởi hàng chục cột đá sa thạch chạm khắc hoa văn tinh tế tương tự nghệ thuật chạm đá tại đền Dilwara trên núi Abu, có mái vòm lớn Samvarana xếp tầng hình chuông úp và các ô cửa sổ thoáng đón gió biển cùng ánh sáng tự nhiên vào nội điện.

Trụ đá chỉ hướng Nam Cực Baan Stambh (Trụ Mũi Tên)

Đứng trên bờ tường chắn sóng phía nam nhìn thẳng ra biển Ả Rập là cây trụ đá cổ Baan Stambh được nhắc tới từ thế kỷ 6. Trên đỉnh trụ đặt một khối cầu có mũi tên chỉ thẳng về hướng Nam, thân trụ khắc dòng chữ tiếng Phạn: Āsamudrānta Dakṣiṇa Dhruva Paryanta Avādhita Jyotirmārga, khẳng định từ điểm này theo đường thẳng tới tận Nam Cực hoàn toàn không có một dải đất nào chắn giữa đại dương.

Đền cũ Ahilyabai Holkar (Purana Somnath Mandir)

Nằm cách đền chính vài trăm mét về phía bắc là ngôi đền do Nữ hoàng Maharani Ahilyabai Holkar dựng năm 1783. Đền có cấu trúc hai tầng với hậu cung ngầm dưới mặt đất đặt Swayambhu Linga để tránh bị xâm hại trong thời loạn, hiện vẫn mở cửa đón người hành hương lễ bái hàng ngày.

Bảo tàng Prabhas Patan (Shree Somnath Sanskriti Bhavan)

Nằm gần khuôn viên đền, nơi lưu giữ hàng trăm hiện vật đá sa thạch, đầu cột, tượng thần Surya cầm hoa sen, tượng Nataraja, tượng Parvati và các mảnh văn bia tiếng Phạn từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 12 được thu hồi từ nền móng của các ngôi đền Somnath cổ trước năm 1950.

Trụ đá Baan Stambh (Trụ Mũi Tên) trên bờ kè biển của đền Somnath là một kỳ tích về nhận thức địa lý và hải văn học của Ấn Độ cổ đại: khi đối chiếu trên bản đồ quả địa cầu hiện đại theo đúng kinh tuyến khoảng 70,40 độ kinh đông từ mũi bờ biển Somnath chạy thẳng về phía nam qua Ấn Độ Dương, đường kinh tuyến ấy đi lọt giữa quần đảo Lakshadweep và Maldives, đi chếch về phía đông quần đảo Chagos cùng đảo Kerguelen mà không chạm vào bất kỳ lục địa hay hòn đảo nào suốt gần một vạn cây số cho tới tận thềm băng châu Nam Cực.

IVThế Đất Và Hướng

Trước khi đọc địa thế của đền Somnath, cần nêu rõ một nguyên tắc: Ấn Độ giáo không dùng phong thủy Á Đông. Vị trí của đền tại Prabhas Patan được chọn theo quan niệm thánh địa Tirtha Kshetra trong kinh Vệ Đà và Purana, đặc biệt coi trọng nơi giao hội giữa sông ngòi và biển cả (Sagara Sangama), còn hình thức kiến trúc tuân theo bộ quy tắc Maru-Gurjara Vastu Shastra của dòng họ kiến trúc sư Sompura. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện để quý vị quen lối xem đất Á Đông có thể tham khảo.

Thế đất và hướng

Xét theo đại cuộc sơn thủy và hợp lưu tam giang, đền Somnath tọa lạc tại tọa độ 20,8880 độ vĩ bắc và 70,4014 độ kinh đông trên mũi đất nhô ra biển ở bờ tây nam bán đảo Saurashtra (Kathiawar). Về mặt thủy pháp, ngay phía đông của đền (cách khoảng hơn một cây số) là Triveni Sangam, nơi ba dòng sông gồm sông Hiran, sông Kapila và dòng sông ngầm huyền thoại Saraswati cùng hội tụ rồi đổ ra biển Ả Rập. Trong phép thủy pháp cổ truyền Á Đông, chỗ nhiều dòng sông từ nội địa chảy về giao hội rồi mở ra biển lớn gọi là thế chúng thủy triều tông (muôn dòng nước cùng chầu về bể cả): sông đem mạch khí từ vùng núi rừng Gir ở phía bắc đổ xuống, còn đại dương ở phía nam và phía tây đón nhận và giữ lại toàn bộ nguyên khí tại mũi đất Prabhas Patan.

Xét về sơn hướng, minh đường và thế đất đối diện đại dương, cổng chính và trục các đại sảnh của đền Somnath mở về hướng Đông đón ánh bình minh, trong khi toàn bộ mạn sườn phía nam và tây nam của khuôn viên đền đứng sát ngay trên bờ đá nhìn thẳng ra biển Ả Rập. Giống như trụ đá Baan Stambh đã chỉ rõ, về phía nam của đền là khoảng đại dương bao la thông suốt tới tận Nam Cực không một vật cản, tạo thành một ngoại minh đường rộng lớn vô tận thuộc quẻ Ly (phương Nam, hành Hỏa của ánh sáng mặt trời và mặt trăng phản chiếu trên mặt nước). Để chế ngự sức gió bão và sóng vỗ cực mạnh từ đại dương mở, các triều đại từ thời vua Kumarapala thế kỷ 12 cho tới cuộc đại trùng tu năm 1951 đều xây một bức tường kè đá dày kiên cố dọc theo bờ biển làm án thành hộ huyệt, giữ cho khoảng sân rộng bên trong đền đóng vai trò là nội minh đường bằng phẳng và tĩnh tại.

Về hình thể kiến trúc và ngũ hành, trên nền bờ biển phẳng nơi Thủy khí của đại dương rất mạnh, kiến trúc sư Prabhashankar Sompura đã dựng khối đền Kailash Mahameru Prasad cao vút 47,2 mét bằng đá sa thạch vàng hồng. Đá và sắc vàng thuộc hành Thổ, hình dáng ngọn tháp dựng đứng gồm nhiều chóp nhọn vươn lên trời mang dáng của ngọn núi lớn (Sơn) kết hợp dáng Hỏa. Giữa nơi biển cả mênh mông không có núi cao che sát bên bờ, việc dựng một ngọn đại tháp đá đồ sộ như một quả núi nhân tạo (nhân tạo sơn) ngay trên nền đá bờ biển tạo nên thế sơn hải tương giao, lấy sức nặng của Thổ và dáng vững của Sơn để trấn giữ Thủy khí của đại dương.

VĐại Lễ Maha Shivaratri, Hội Trăng Tròn Kartik Purnima Và Nghi Lễ Hàng Ngày

Mỗi ngày tại đền Somnath diễn ra ba thời đại lễ Aarti chính vào lúc sáng sớm, buổi trưa và lúc hoàng hôn khi mặt trời lặn xuống biển Ả Rập, kèm theo chương trình trình chiếu ánh sáng và âm thanh Jay Somnath vào buổi tối kể lại lịch sử nghìn năm của đền. Các đại lễ lớn trong năm được tính theo lịch âm dương Hindu vùng Gujarat (hệ lịch Vikram Samvat kiểu Amanta, trong đó năm mới bắt đầu sau lễ Diwali và tháng âm lịch kết thúc vào ngày không trăng Amavasya).

Các kỳ đại lễ chính trong năm tại đền Somnath Gujarat. Nguồn: Tổng hợp từ lịch lễ hội chính thức của Hội đồng tín thác Shree Somnath Trust và Cục Du lịch bang Gujarat..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễNghi thức trọng tâm tại đền
Đêm 14 nửa tối tháng Magha sang Phalguna (tháng 2 hoặc tháng 3)Lịch âm dương Hindu (Vikram Samvat)Maha ShivaratriĐại lễ trọng đại nhất trong năm thờ thần Shiva. Đền mở cửa xuyên suốt bốn mươi hai giờ đồng hồ không nghỉ, cử hành bốn thời lễ Prahara Puja suốt đêm, lễ rước kiệu Palkhi Yatra quanh khuôn viên và lễ thượng cờ lớn trên đỉnh tháp cao 47,2 mét.
Từ ngày 11 đến ngày Rằm tháng Kartika (tháng 11, kéo dài 5 ngày)Lịch âm dương Hindu (Vikram Samvat)Kartik Purnima MelaĐại hội trăng tròn mùa thu gắn trực tiếp với thần tích thần Mặt Trăng Soma phục hồi ánh sáng viên mãn tại Somnath. Vào đúng đêm rằm tháng Kartika ở vĩ độ của Somnath, mặt trăng tròn tỏa sáng ngay trên đỉnh đường kinh tuyến của tháp đền lúc nửa đêm, thu hút hàng trăm nghìn người tắm lễ ở hợp lưu Triveni Sangam và dự hội chợ truyền thống.
Trọn tháng Shravana (tháng 8 đến đầu tháng 9)Lịch âm dương Hindu (Vikram Samvat)Shravana MahotsavTháng lễ kéo dài suốt ba mươi ngày dành riêng cho thần Shiva. Mỗi ngày Jyotirlinga được trang hoàng theo một chủ đề hoa lá, gỗ đàn hương và châu báu khác nhau, đặc biệt đông đúc vào các ngày thứ Hai (Shravana Somvar) với lễ rước kiệu thần quanh sân đền.
Ngày 11 tháng 5 dương lịch (hoặc ngày Vaishakha Shukla Panchami)Dương lịch và Lịch HinduPrana Pratishtha DinLễ kỷ niệm ngày an vị linh tượng của ngôi đại đền hiện hữu (11 tháng 5 năm 1951), cử hành đại lễ tế lửa Maha Rudra Yajna, lễ dâng cờ Dhwajarohan và hòa nhạc cổ truyền.
Ngày Janmashtami và Bhadrapada Shukla EkadashiLịch âm dương Hindu (Vikram Samvat)Golokdham UtsavLễ kỷ niệm gắn với Đức Krishna tại cụm di tích Bhalka Tirtha và Dehotsarga Tirtha bên bờ sông Hiran thuộc quản lý của Shree Somnath Trust, kết nối truyền thống Shaiva và Vaishnava tại Prabhas Patan.

Một nghi thức rất được các gia đình hành hương coi trọng tại đền Somnath là lễ Dhwaja Puja (lễ dâng cờ trên đỉnh tháp): tín đồ đăng ký dâng tấm cờ tam giác trắng thêu hình đinh ba và bò thần Nandi dài mười một mét, rước cờ đi vòng quanh sân đền trong tiếng trống rồi giao cho các nhân viên chuyên trách leo lên nóc tháp cao 47,2 mét để kéo cờ lên đỉnh cột Dhwajadanda trước gió biển Ả Rập.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Somnath Mandir Road, Prabhas Patan, Veraval, Gir Somnath, Gujarat 362268, India (પ્રભાસ પાટણ, સોમનાથ)
Đường tới
Từ ga tàu hỏa Veraval Junction (cách đền khoảng 7 km) hoặc ga Somnath (cách đền 2 km), quý vị đi xe kéo tự động hoặc taxi mất khoảng 10 đến 15 phút là tới đền. Nếu đi đường hàng không, sân bay gần nhất là sân bay Keshod (cách 55 km) hoặc sân bay Diu (cách 85 km) và sân bay Rajkot (cách 195 km).
Toạ độ
20.888, 70.4014
Khi tới nơi

Cũng như tại đền Kashi Vishwanath, khu vực an ninh của đền Somnath quy định quý vị không được mang theo điện thoại di động, máy ảnh, máy quay, túi xách, thắt lưng da hay bật lửa vào bên trong khuôn viên (quý vị gửi toàn bộ đồ đạc và giày dép tại nhà giữ đồ miễn phí đối diện cổng chính trước khi qua cửa kiểm tra an ninh). Quý vị cần mặc trang phục lịch sự, kín vai và đầu gối. Khác với đền Jagannath ở Puri, đền Somnath mở cửa đón tiếp du khách thuộc mọi quốc tịch và tôn giáo vào chiêm ngưỡng kiến trúc và dự lễ Aarti trong sảnh Sabha Mandapa.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Somnath, Gujarat

Contribute photos, information or video for Somnath temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao đền Somnath được tôn xưng là Aadi Jyotirlinga, tức thánh địa đứng đầu trong 12 Jyotirlinga?

Trong bài kệ cổ Dwadasha Jyotirlinga Stotram liệt kê mười hai thánh địa cột ánh sáng của thần Shiva trên toàn Ấn Độ, Somnath tại vùng Saurashtra luôn được xướng tên đầu tiên (Saurashtre Somanatham cha). Theo kinh Skanda Purana, đây là nơi đầu tiên trên mặt đất thần Shiva hóa hiện thành cột ánh sáng vĩnh cửu để giải lời nguyền suy giảm ánh sáng cho thần Mặt Trăng Soma.

Tên gọi Somnath và tên thị trấn Prabhas Patan bắt nguồn từ câu chuyện thần thoại nào?

Theo thần thoại Hindu, thần Mặt Trăng Soma (Chandra) bị tổ phụ Daksha nguyền rủa làm mất dần ánh sáng vì tội thiên vị người vợ Rohini. Soma đã tới vùng cửa biển nơi ba dòng sông hợp lưu tại Gujarat để tắm gội và cầu nguyện thần Shiva. Khi Shiva hiện ra trả lại ánh sáng cho mặt trăng theo chu kỳ trăng tròn trăng khuyết, vị thần được tôn thờ dưới tên Somnath (Chúa tể Mặt Trăng), còn vùng đất ấy mang tên Prabhas, nghĩa là nơi tỏa sáng rực rỡ.

Trụ đá Baan Stambh trong sân đền Somnath ghi dòng chữ gì và có ý nghĩa địa lý như thế nào?

Trụ đá cổ Baan Stambh (Trụ Mũi Tên) đứng trên bờ tường phía nam của đền nhìn ra biển Ả Rập, có mũi tên chỉ thẳng về hướng Nam kèm dòng minh văn tiếng Phạn Āsamudrānta Dakṣiṇa Dhruva Paryanta Avādhita Jyotirmārga. Dòng chữ này cho biết từ vị trí của đền chạy thẳng một đường kinh tuyến tới tận Nam Cực hoàn toàn không có một hòn đảo hay dải đất nào chắn giữa đại dương, điều hoàn toàn trùng khớp với bản đồ vệ tinh hiện đại.

Ngôi đền Somnath hiện nay được xây dựng lại vào năm nào và do kiến trúc sư nào thiết kế?

Sau nhiều thế kỷ bị hư hại qua các biến cố lịch sử trung đại, công cuộc kiến thiết lại ngôi đại đền trên nền móng cổ sát bờ biển được khởi xướng vào tháng 11 năm 1947 dưới sự điều hành của Quỹ tín thác Shree Somnath Trust. Tòa đền cao 47,2 mét bằng đá sa thạch theo phong cách Maru-Gurjara (Chaulukya) do bậc thầy kiến trúc truyền thống Prabhashankarbhai Oghadbhai Sompura thiết kế, và lễ an vị linh tượng được cử hành vào ngày 11 tháng 5 năm 1951.

Ngoài đền thờ thần Shiva, vùng đất Somnath còn gắn với sự kiện trọng đại nào của thần Krishna?

Chỉ cách đền Somnath khoảng 1,5 đến 4 km là hai thánh địa Bhalka Tirtha và Dehotsarga Tirtha nằm bên bờ sông Hiran gần hợp lưu Triveni Sangam. Theo sử thi Mahabharata và kinh Bhagavata Purana, đây chính là nơi Đức Krishna bị mũi tên của người thợ săn Jara bắn trúng bàn chân và rời bỏ thân xác trần thế để trở về cõi vĩnh hằng, khép lại thời đại Dvapara Yuga.

›Đọc Tiếp