VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, Parumala

Parumala Palli, പരുമല പള്ളി, St. Peter's and St. Paul's Orthodox Church Parumala, Parumala Seminary Church

Thánh địa hành hương tối cao của Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara bên dòng sông Pamba, nơi lưu giữ lăng mộ Thánh Geevarghese Mar Gregorios trong công trình kiến trúc hình tròn do Charles Correa thiết kế.

Cung hiến
1895 và 2000
nhà thờ cũ năm 1895, đại thánh đường mới năm 2000
Đường kính vòm
39 mét
mặt bằng tròn do Charles Correa thiết kế
Vị thế
Thánh địa Malankara
nơi an táng vị hiển thánh đầu tiên của Ấn Độ

Đi qua cây cầu bắc ngang một nhánh của dòng sông Pamba ở vùng trung lưu bang Kerala, quý vị sẽ đặt chân lên cù lao Parumala rợp bóng dừa nước và cau cảnh. Giữa không gian tĩnh lặng bên bờ sông ấy nổi lên một khối kiến trúc trắng muốt có dáng tròn rộng lớn, phía trước là cây thánh giá đá nguyên khối chạm hoa văn bản địa và cột cờ đồng sáng bóng. Bước qua tiền đường mở thoáng để tiến vào bên trong, quý vị sẽ bắt gặp hàng trăm tín hữu tháo giày dép từ ngoài bậc thềm, đứng hoặc quỳ trực tiếp trên nền đá mát lạnh trước bức màn thêu che Gian Cực Thánh, trong khi tiếng tụng ca bằng tiếng Syriac cổ và tiếng Malayalam ngân vang dưới vòm mái cao.

Ngôi thánh đường mang tên hai vị tông đồ Phêrô và Phaolô, nhưng người dân toàn vùng Malabar chỉ quen gọi một cách thân thuộc là Parumala Palli, tức Nhà thờ Parumala. Đây là trung tâm hành hương thiêng liêng bậc nhất của Chính Thống giáo tại Ấn Độ, gắn liền với cuộc đời tu hành và lăng mộ của Thánh Geevarghese Mar Gregorios (1848 tới 1902), vị giám mục đầu tiên của tiểu lục địa Ấn Độ được Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara chính thức tuyên phong hiển thánh.

Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, Parumala
Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, Parumala. Ảnh: Joe Ravi, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITruyền Thống Thánh Tôma Và Thánh Nhân Xứ Parumala

Để hiểu vì sao một cù lao nhỏ giữa dòng sông miền nam Ấn Độ lại trở thành điểm hội tụ của hàng triệu tín hữu, cần nhìn lại lịch sử gần hai thiên niên kỷ của cộng đồng Kitô hữu bờ biển Malabar. Theo truyền thống lâu đời của các giáo hội địa phương tại Kerala, năm 52 sau Công nguyên, Sứ đồ Tôma (Mar Thoma Sleeha) đã theo các thương thuyền La Mã vượt biển Ả Rập cập cảng cổ Muziris (Cranganore), rao giảng Tin Mừng và thành lập bảy cộng đoàn đầu tiên dọc vùng duyên hải Tây Nam Ấn Độ. Cộng đồng này tự gọi mình là Mar Thoma Nazranis (những người theo Đạo của Thánh Tôma), giữ truyền thống phụng vụ Đông phương bằng tiếng Syriac (một phương ngữ Aramaic gần với ngôn ngữ của Chúa Giêsu) kết hợp sâu sắc với văn hóa bản địa xứ Kerala.

Nhà thờ tại Parumala được cung hiến cho hai vị cột trụ của Giáo hội sơ khai là Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Tuy vậy, tâm điểm lòng sùng mộ tại đây lại hướng về phòng mộ (Kabar Muri) của Thánh Geevarghese Mar Gregorios, người được nhân dân Kerala bất kể tôn giáo tôn kính gọi là Parumala Thirumeni (Đức Giám mục đáng kính xứ Parumala).

Cuộc Đời Khổ Hạnh Của Đức Giám Mục Trẻ Nhất Lịch Sử Malankara

Theo sử liệu

Theo sử liệu của Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara (Malankara Orthodox Syrian Church), ngài sinh ngày 15 tháng 6 năm 1848 tại làng Mulanthuruthy (thuộc vương quốc Cochin xưa, nay thuộc huyện Ernakulam) trong gia đình dòng dõi tư tế Chathuruthil, với tên rửa tội là Kochu Ipeora. Mồ côi mẹ từ năm lên hai tuổi, cậu bé được người bác ruột là linh mục học giả Geevarghese Malpan trực tiếp dạy tiếng Syriac và thần học phụng vụ, rồi chịu chức phó tế (Korooyo) năm 1858 khi mới mười tuổi tại nhà thờ Karingachira.

Sau khi người bác qua đời vì dịch đậu mùa mà chính cậu bé cũng mắc phải rồi bình phục, thầy phó tế trẻ theo học với Đức Giám mục lưu động Gregorios xứ Jerusalem và sống đời ẩn tu nghiêm ngặt tại tu viện Vettickal Dayara. Ngày 10 tháng 12 năm 1876, tại nhà thờ Thánh Tôma ở Paravur Bắc, Đức Thượng phụ Phêrô Đệ Tam (Ignatius Pathros III) của tòa Thượng phụ Antioch đã tấn phong ngài làm Giám mục (Metropolitan) phụ trách giáo phận Niranam với pháp hiệu Mar Gregorios. Khi ấy ngài mới 28 tuổi, trở thành vị giám mục trẻ tuổi nhất trong lịch sử giáo hội Malankara nên được tín hữu gọi trìu mến là Kochu Thirumeni (Đức Giám mục trẻ).

Theo giáo nghĩa

Tại chủng viện Parumala, Mar Gregorios sống một đời khổ hạnh và cầu nguyện liên lỉ theo gương các giáo phụ sa mạc Đông phương. Mỗi ngày ngài thức dậy từ lúc bốn giờ sáng để đọc kinh thần vụ bảy giờ (Shehimo), ăn chay trường nhiều đợt trong năm và ngủ trên chiếu mỏng trong căn phòng nhỏ chỉ kê một chiếc giường gỗ cùng bàn viết. Trong thần học của Chính Thống giáo Đông phương và Chính Thống giáo Cổ Đông phương (Oriental Orthodoxy), sự thánh thiện đạt tới qua quá trình thanh luyện tâm hồn, cầu nguyện và bác ái cụ thể đối với người nghèo khổ.

Giữa xã hội vương quốc Travancore thế kỷ 19 còn nặng nề hủ tục phân biệt đẳng cấp, Đức Giám mục Mar Gregorios đã đi đầu trong việc mở các trường học dạy tiếng Anh và tiếng Malayalam tại Thiruvalla, Mulanthuruthy, Kunnamkulam, cho phép trẻ em thuộc các tầng lớp thấp kém (Dalit) được ngồi học chung. Năm 1895, ngài thực hiện chuyến hành hương dài ngày tới Đất Thánh Jerusalem, lưu lại tại tu viện Thánh Mác-cô của người Syriac và viết tác phẩm Oorslem Yathra Vivaranam (Ký sự hành hương Jerusalem), cuốn du ký đầu tiên được xuất bản bằng chữ Malayalam hiện đại. Ngài viên tịch ngày 2 tháng 11 năm 1902 ở tuổi 54 vì bệnh viêm loét dạ dày mãn tính, và tới ngày 2 tháng 11 năm 1947, Đức Catholicos Baselios Geevarghese II đã ban sắc lệnh tuyên phong ngài lên bậc Hiển Thánh đầu tiên của Giáo hội Malankara.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người bên ngoài Ấn Độ thường nhầm lẫn Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara với các giáo hội Chính Thống giáo Đông phương theo nghi thức Byzantine (như Chính Thống giáo Hy Lạp hay Nga) hoặc với các giáo hội Đông phương hiệp thông với Rôma. Trên thực tế, Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara thuộc gia đình Chính Thống giáo Cổ Đông phương (Oriental Orthodox Churches, cùng nhánh thần học với Giáo hội Coptic Ai Cập, Giáo hội Armenia, Giáo hội Ethiopia và Giáo hội Syriac), giữ tín điều của ba Công đồng chung đầu tiên (Nicaea 325, Constantinople 381 và Ephesus 431) và cử hành phụng vụ theo nghi thức Tây Syriac cổ truyền của tòa Antioch.

IITừ Chủng Viện Bên Sông Pamba Tới Đại Thánh Đường Thế Kỷ 20

Lịch sử của Nhà thờ Parumala gắn chặt với công cuộc chấn hưng việc đào tạo giáo sĩ của cộng đồng Kitô hữu Thánh Tôma vào nửa sau thế kỷ 19, chuyển mình từ một cơ sở chủng viện khiêm tốn bằng lá dừa trên cù lao sông Pamba thành một kiệt tác kiến trúc tôn giáo đương đại của Ấn Độ.

Theo sử liệu

Về việc hiến đất và lập chủng viện. Theo biên niên sử của Giáo hội Malankara, vào đầu thập niên 1870, Đức Đô trưởng Joseph Mar Dionysius II (Pulikkottil Thirumeni) muốn tìm một địa điểm yên tĩnh tại vùng trung tâm Travancore để mở chủng viện dạy tiếng Syriac cho các thầy phó tế. Một điền chủ quý tộc địa phương tại Parumala là ông Arikupurathu Mathen Karnavar đã hiến tặng khu đất rộng 2 mẫu Anh (khoảng 0,8 hecta) nằm sát bờ sông Pamba. Trên mảnh đất này vốn đã có một ngôi nhà nguyện nhỏ dựng tạm bằng gỗ và lá cọ gọi là Azhippura dùng làm nơi dạy kinh bổn. Đức Mar Dionysius II đã dựng thêm một dãy nhà hai tầng đơn sơ để mở chủng viện đào tạo giáo sĩ, gọi là Chủng viện Parumala (Parumala Seminary).

Về ngôi nhà thờ năm 1895 và đợt tái thiết năm 1995. Khi Đức Giám mục Geevarghese Mar Gregorios về thường trú và trực tiếp điều hành chủng viện, ngôi nhà thờ cũ đã xuống cấp và quá chật hẹp. Ngài đã đi quyên góp khắp các giáo xứ, cho phá dỡ nhà nguyện tạm và khởi công xây dựng một ngôi nhà thờ bằng đá ong (laterite) và gỗ tếch theo lối kiến trúc truyền thống Kerala, dâng kính hai Thánh Phêrô và Phaolô. Ngôi nhà thờ này được cung hiến trọng thể vào ngày 27 tháng 1 năm 1895 (nhằm ngày 15 tháng Makaram năm 1070 theo lịch Malayalam), chỉ vài tuần trước khi ngài lên đường đi Jerusalem. Một thế kỷ sau, khi lượng khách hành hương tới viếng mộ ngài lên tới hàng trăm ngàn người mỗi dịp lễ, Giáo hội quyết định giữ nguyên khu mộ thánh và Gian Cực Thánh lịch sử nhưng xây dựng mới toàn bộ không gian đại thánh đường bao quanh theo bản vẽ của kiến trúc sư bậc thầy Charles Correa (1930 tới 2015), đặt đá tháng 3 năm 1995 và cung hiến tháng 10 năm 2000.

  • Năm 52 SCNKhởi nguồn truyền thống Kitô hữu Thánh Tôma
    Theo truyền thống Malabar, Sứ đồ Tôma đặt chân tới bờ biển Kerala, đặt nền móng cho cộng đồng Mar Thoma Nazranis tại miền Tây Nam Ấn Độ.
  • Thập niên 1870Hiến đất lập Chủng viện Parumala
    Ông Arikupurathu Mathen Karnavar hiến khu đất 2 mẫu Anh bên bờ sông Pamba cho Đức Đô trưởng Joseph Mar Dionysius II để mở chủng viện đào tạo giáo sĩ bên cạnh nhà nguyện Azhippura.
  • 1876Tấn phong Giám mục Geevarghese Mar Gregorios
    Ngày 10 tháng 12 năm 1876, Thượng phụ Antioch Ignatius Pathros III tấn phong thầy tu trẻ Geevarghese làm Giám mục ở tuổi 28, sau đó ngài về trụ trì và giảng dạy tại Chủng viện Parumala.
  • 1895Cung hiến Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô
    Ngày 27 tháng 1 năm 1895, Đức Mar Gregorios hoàn thành và cung hiến ngôi nhà thờ xây kiên cố thay cho nhà nguyện cũ, ngay trước chuyến hành hương lịch sử tới Jerusalem.
  • 1902Đức Mar Gregorios viên tịch và an táng
    Ngày 2 tháng 11 năm 1902, Đức Giám mục Mar Gregorios viên tịch tại Parumala ở tuổi 54, nhục thân của ngài được an táng ngày 3 tháng 11 tại phía bắc cung thánh nhà thờ.
  • 1947Tuyên phong Hiển Thánh đầu tiên của Ấn Độ
    Ngày 2 tháng 11 năm 1947, nhân kỷ niệm 45 năm ngày ngài viên tịch, Đức Catholicos Baselios Geevarghese II chính thức tuyên phong Mar Gregorios lên bậc Hiển Thánh của Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara.
  • 1995 tới 2000Tái thiết đại thánh đường theo thiết kế Charles Correa
    Đặt viên đá đầu tiên vào tháng 3 năm 1995 và cung hiến vào tháng 10 năm 2000, dựng nên đại thánh đường hình tròn đường kính 39 mét ôm trọn khu lăng mộ lịch sử của Thánh nhân.

IIIKiến Trúc Của Charles Correa Và Không Gian Phụng Vụ Syriac

Nhà thờ Parumala hiện nay là một trong những tác phẩm kiến trúc tôn giáo xuất sắc nhất cuối thế kỷ 20 tại Nam Á, nơi kiến trúc sư danh tiếng người Ấn Độ Charles Correa đã giải quyết bài toán dung hòa giữa truyền thống phụng vụ Đông phương cổ kính, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt của bang Kerala và dòng người hành hương khổng lồ đổ về mỗi ngày.

Thay vì lặp lại kiểu mặt bằng chữ thập Latinh hay mặt bằng hình chữ nhật hẹp và tối của các nhà thờ thế kỷ 19, Charles Correa đã thiết kế một không gian mặt bằng hình tròn có đường kính trong lòng 39 mét. Hình tròn lớn này được chia thành ba phân khu rõ rệt bởi hai dây cung dài 16 mét, tái hiện cấu trúc tam phân (tri-partite) cổ truyền của các thánh đường Chính Thống giáo Syriac và Coptic từ thế kỷ thứ 5: khu tiền sảnh dành cho người dự tòng và khách hành hương, khu lòng nhà thờ chính (Haikala) dành cho cộng đoàn tín hữu, và khu Gian Cực Thánh (Madbaha) đặt bàn thờ hiến tế ở phía đông.

Sự Giao Thoa Giữa Hình Khối Hiện Đại Và Truyền Thống Bản Địa Kerala

Điểm độc đáo trong thiết kế của Charles Correa nằm ở cách tổ chức luồng di chuyển và thông gió tự nhiên. Trong truyền thống phụng vụ Chính Thống giáo Malankara, suốt buổi cử hành Thánh lễ (Holy Qurbana) kéo dài nhiều giờ, tín hữu không ngồi trên ghế băng gỗ như nhà thờ phương Tây mà đứng, quỳ và ngồi xếp bằng trực tiếp trên nền sàn, nam giới đứng một bên và nữ giới đứng một bên. Do đó, lòng nhà thờ tròn rộng 39 mét hoàn toàn để trống không kê ghế, có thể đón hơn 2.000 người tham dự cùng lúc bên trong, trong khi các hành lang có mái che và sân hiên bao quanh chứa thêm được 3.000 người.

Phía bắc của Gian Cực Thánh là Phòng mộ Thánh nhân (Kabar Muri), nơi đặt ngôi mộ của Thánh Geevarghese Mar Gregorios. Kiến trúc sư đã khéo léo tách luồng người đi viếng mộ thành một hành lang lưu thông riêng biệt dọc theo chu vi phía bắc và phía đông, giúp hàng vạn khách hành hương có thể xếp hàng tiến vào chạm tay cầu nguyện bên lăng mộ và thắp nến mà không làm gián đoạn nghi lễ đang cử hành trước bàn thờ chính. Toàn bộ tường ngoài sơn màu trắng vỏ trứng, trổ các ô cửa vuông sâu để lọc ánh nắng gắt vùng nhiệt đới thành thứ ánh sáng dịu nhẹ bên trong, kết hợp với mái hiên vươn rộng che mưa lớn đặc trưng của vùng đồng bằng sông Pamba.

Gian Cực Thánh (Madbaha) và Màn che Bầu Trời

Khu vực cung thánh nâng cao ở phía đông với bàn thờ chính đặt Thánh Thể, ngăn cách với lòng nhà thờ bằng bức màn thêu màu đỏ (Thira) mở ra và đóng lại theo từng chặng của nghi thức Qurbana.

Phòng mộ Thánh Geevarghese (Kabar Muri)

Không gian linh thiêng nhất nằm ở cạnh bắc cung thánh, lưu giữ phần mộ của Parumala Thirumeni dưới vòm đá trang nghiêm, nơi đèn dầu và trầm hương cháy sáng suốt ngày đêm.

Mặt bằng tròn đường kính 39 mét

Thiết kế của kiến trúc sư Charles Correa hoàn thành năm 2000, dùng hai dây cung dài 16 mét chia không gian thành ba lớp theo truyền thống nhà thờ Syriac cổ đại, không có cột chắn tầm nhìn.

Thánh giá đá Kerala (Kallu Kurishu) và Cột cờ đồng (Kodimaram)

Đặt tại quảng trường phía trước nhà thờ, tiếp thu hình thức cột cờ lễ hội và trụ đèn dầu bằng đá chạm khắc của kiến trúc đền miếu cổ vùng Malabar.

Căn phòng tu hành cũ (Azhippura)

Ngôi nhà nhỏ nguyên bản nằm trong khuôn viên chủng viện, nơi Thánh Geevarghese từng sống khổ hạnh, cầu nguyện, dạy học và tiếp đón người nghèo bệnh.

IVThế Đất Và Hướng

Truyền thống Chính Thống giáo Syria Malankara không sử dụng thuật phong thủy Á Đông trong việc kiến thiết thánh đường. Theo giáo luật và thần học phụng vụ Đông phương Syriac truyền từ thời các Giáo phụ sơ khai, mọi ngôi nhà thờ đều tuân thủ nguyên tắc định hướng thiêng liêng về phương Đông (Ad Orientem): Gian Cực Thánh (Madbaha) bắt buộc đặt ở phía đông, để cả vị tư tế chủ tế lẫn toàn thể cộng đoàn tín hữu khi cầu nguyện đều cùng quay mặt về hướng Mặt Trời mọc, biểu trưng cho Đức Kitô Phục Sinh là Ánh Sáng Công Chính và niềm hy vọng ngày quang lâm. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện nhằm giúp quý vị cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp địa linh của cù lao sông Pamba.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình bang Kerala ở tọa độ 9,3247 độ vĩ Bắc và 76,5369 độ kinh Đông, Nhà thờ Parumala tọa lạc trên một hòn đảo cù lao phù sa (Parumala Island) được bao bọc trọn vẹn bởi dòng sông Pamba (còn viết là Pampa), con sông dài thứ ba của bang Kerala bắt nguồn từ dãy núi Ghats Tây (Western Ghats) ở phía đông rồi chảy về hồ Vembanad và biển Ả Rập ở phía tây. Trong phép xem hình thế sơn thủy, dãy núi Ghats Tây hùng vĩ chính là tổ sơn phát mạch, còn dòng sông Pamba uốn lượn mang nguồn nước mát lành từ vùng núi cao đổ xuống đồng bằng Kuttanad đóng vai trò là thủy long dẫn sinh khí hội tụ về châu thổ.

Tại khu vực Thiruvalla và Mannar, dòng Pamba tách đôi rồi hợp lưu, ôm lấy dải đất Parumala tạo nên thế thủy nhiễu huyệt tiền (nước ôm vòng quanh đất kết huyệt). Bờ sông chảy êm đềm ngay phía tây nam và phía bắc khuôn viên nhà thờ mở ra một khoảng minh đường mặt nước khoáng đạt, giúp điều hòa nhiệt độ và tích tụ hơi ẩm nuôi dưỡng thảm thực vật xanh tốt quanh năm. Trục chính của đại thánh đường đặt theo chiều Tây sang Đông: cổng đón khách mở về phía đường lớn và bến sông ở hướng tây, trong khi hậu cung gồm Gian Cực Thánh và phòng mộ Kabar Muri tọa vững chãi ở phương Đông, lấy dải đất liền nội đảo và những rặng cây cổ thụ của chủng viện làm hậu chẩm che chở phía sau. Hai cánh hành lang vòng cung vươn ra hai bên tả hữu như đôi tay Thanh Long và Bạch Hổ ôm lấy sân hành lễ cùng cây thánh giá đá trung tâm, tạo nên thế tụ khí vừa trang nghiêm tĩnh tại bên trong, vừa mở rộng vòng tay đón nhận hàng vạn bước chân người hành hương từ bốn phương tìm về.

VĐại Lễ Hành Hương Ormapperunnal Và Nghi Thức Phụng Vụ

Đời sống tâm linh tại Nhà thờ Parumala vận hành theo niên lịch phụng vụ của Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara (sử dụng lịch Григоrian dương lịch cho các ngày lễ cố định kết hợp với chu kỳ mùa phụng vụ Tây Syriac). Trong đó, sự kiện trọng đại nhất làm nên danh tiếng toàn cầu của thánh địa là Đại lễ Ormapperunnal (Lễ Tưởng Niệm Thánh Geevarghese Mar Gregorios) diễn ra từ ngày 26 tháng 10 tới đỉnh điểm vào ngày 1 và ngày 2 tháng 11 dương lịch hàng năm.

Nét đặc trưng nhất của đại lễ Ormapperunnal là truyền thống hành hương đi bộ (Padayatra). Suốt tuần lễ cuối tháng 10, hàng trăm ngàn tín hữu thuộc mọi lứa tuổi từ khắp các huyện của bang Kerala và các bang lân cận mặc trang phục trắng giản dị, tay cầm thánh giá gỗ và cờ hiệu giáo xứ, đi bộ ròng rã nhiều ngày đêm dọc theo các trục đường quốc lộ để tiến về cù lao Parumala. Trước khi lên đường, nhiều người giữ chay tịnh nghiêm ngặt (vratham) trong bảy hoặc mười bốn ngày. Khi tới nhà thờ, họ xếp hàng vào kính viếng phần mộ Thánh nhân, dâng lễ vật tạ ơn (Nercha), tham dự cuộc đại rước kiệu (Rasa) với hàng ngàn chiếc lọng lụa rực rỡ sắc màu (Muthukuda) và cùng thọ hưởng bữa cơm chay cộng đồng (Nercha Vilambu) nấu trong những chiếc vạc đồng khổng lồ đãi hàng vạn khách hành hương.

Các kỳ lễ chính tại Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, Parumala. Nguồn: Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara (mosc.in) và Ban quản trị Nhà thờ Parumala (parumalachurch.org).
Thời gianHệ lịchTên lễ tiếtNội dung và nghi thức chính
Ngày 1 và 2 tháng 11 (khởi lễ từ 26 tháng 10)Dương lịch (niên lịch phụng vụ Malankara)Đại lễ Ormapperunnal (Lễ giỗ Thánh Geevarghese Mar Gregorios)Lễ hội hành hương lớn nhất trong năm: nghi thức thượng cờ (Kodiyettu) ngày 26 tháng 10, các đoàn hành hương đi bộ (Padayatra) từ khắp Kerala, đại rước Rasa với lọng lụa Muthukuda, lễ Qurbana ba bàn thờ (Mooninmel Qurbana) và phát cơm phúc Nercha Vilambu.
Ngày 27 tháng 1Dương lịchLễ kỷ niệm cung hiến Nhà thờ ParumalaKỷ niệm ngày Thánh Geevarghese Mar Gregorios cung hiến ngôi nhà thờ đá ong năm 1895 (nhằm ngày 15 tháng Makaram lịch Malayalam), cử hành Thánh lễ trọng thể và cầu nguyện cho chủng viện.
Ngày 15 tháng 6Dương lịchLễ sinh nhật Thánh Geevarghese Mar GregoriosTưởng niệm ngày sinh của vị thánh tại Mulanthuruthy (1848) với các buổi hội thảo thần học, hoạt động bác ái y tế và cầu nguyện tại phòng mộ Kabar Muri.
Ngày 29 tháng 6Dương lịchLễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông đồLễ bổn mạng gốc của ngôi thánh đường sau mùa chay các Tông đồ (Sleeha Nombu), cử hành nghi lễ Holy Qurbana theo truyền thống Tây Syriac.
Thứ Sáu và Thứ Bảy hàng tuầnChu kỳ hàng tuầnNgày hành hương định kỳ và cầu nguyện chữa lànhCử hành Thánh lễ Qurbana buổi sáng, kinh cầu bầu (Intercessory Prayer) trước mộ Thánh nhân và phát cháo chay miễn phí cho khách thập phương.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Parumala Island, Thiruvalla Taluk, Pathanamthitta District, Kerala 689626, India (പരുമല പള്ളി)
Đường tới
Tọa lạc trên cù lao Parumala giữa hai thị trấn Thiruvalla và Mannar thuộc huyện Pathanamthitta, bang Kerala. Từ ga tàu hỏa Thiruvalla (cách khoảng 7 km) hoặc thành phố Chengannur (cách khoảng 10 km), quý vị có thể đi xe buýt địa phương hoặc xe kéo tự động qua cầu sông Pamba để tới thẳng cổng nhà thờ, sân bay quốc tế gần nhất là Cochin (Kochi, cách khoảng 105 km về phía bắc) và Trivandrum (cách khoảng 125 km về phía nam).
Toạ độ
9.3247, 76.5369
Khi tới nơi

Nhà thờ Parumala là nơi hành hương tôn nghiêm đang hoạt động liên tục, đón tiếp khách thập phương thuộc mọi tôn giáo. Khi tới viếng thăm, quý vị cần mặc trang phục kín đáo, lịch sự và bắt buộc tháo giày dép bên ngoài bậc thềm trước khi bước vào lòng nhà thờ hoặc hành lang phòng mộ Kabar Muri. Phụ nữ theo truyền thống địa phương thường dùng khăn choàng mỏng trùm qua đầu khi đứng cầu nguyện trước Gian Cực Thánh và khi vào viếng mộ Thánh nhân. Xin quý vị giữ trật tự tuyệt đối, bước đi nhẹ nhàng và không chụp ảnh có đèn nháy khi cộng đoàn đang cử hành Thánh lễ Qurbana.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, Parumala

Contribute photos, information or video for Parumala Church

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Nhà thờ Parumala được coi là thánh địa tối cao của Chính Thống giáo tại Ấn Độ?

Đây là nơi tu hành, giảng dạy, viên tịch và lưu giữ phần mộ (Kabar Muri) của Thánh Geevarghese Mar Gregorios (1848 tới 1902), vị giám mục đầu tiên sinh trưởng trên đất Ấn Độ được Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara chính thức tuyên phong Hiển Thánh vào năm 1947.

Kiến trúc của Nhà thờ Parumala hiện nay có gì đặc biệt?

Ngôi đại thánh đường hiện hữu được kiến trúc sư danh tiếng người Ấn Độ Charles Correa thiết kế và hoàn thành năm 2000. Công trình có mặt bằng hình tròn đường kính 39 mét không cột chống giữa, được chia làm ba phần bằng hai dây cung dài 16 mét theo cấu trúc phụng vụ Syriac cổ đại, đồng thời giữ nguyên Gian Cực Thánh và phòng mộ lịch sử từ năm 1895.

Cộng đồng Kitô hữu tại Parumala thuộc nhánh Kitô giáo nào?

Nhà thờ thuộc Giáo hội Chính Thống giáo Syria Malankara (Malankara Orthodox Syrian Church), một giáo hội thuộc gia đình Chính Thống giáo Cổ Đông phương (Oriental Orthodoxy) bắt nguồn từ truyền thống Sứ đồ Tôma đặt chân tới bờ biển Malabar năm 52 sau Công nguyên và cử hành phụng vụ theo nghi thức Tây Syriac.

Đại lễ Ormapperunnal diễn ra vào thời gian nào và có nghi thức gì nổi bật?

Đại lễ Ormapperunnal tưởng niệm ngày viên tịch của Thánh Geevarghese Mar Gregorios diễn ra vào ngày 1 và ngày 2 tháng 11 dương lịch hàng năm (khởi lễ từ ngày 26 tháng 10). Nét đặc sắc nhất là cuộc hành hương đi bộ (Padayatra) của hàng trăm ngàn tín hữu từ khắp bang Kerala đi bộ nhiều ngày đêm về cù lao Parumala.

Người không theo Kitô giáo có được phép vào viếng mộ Thánh nhân tại Parumala không?

Có. Nhà thờ Parumala mở cửa đón tiếp mọi du khách và người hành hương thuộc tất cả các tôn giáo. Mọi người chỉ cần tuân thủ quy định tháo giày dép trước khi vào thánh đường, ăn mặc kín đáo và đi theo lối hành lang phân luồng để tiến vào cầu nguyện trước phòng mộ Kabar Muri.

›Đọc Tiếp