Bái Hỏa Giáo (Hỏa giáo, đạo Zoroaster) không đặt tượng thần ở nơi thờ phượng. Tâm điểm của ngôi đền là một ngọn lửa đã được hiến thánh, và người tín đồ nói rõ rằng họ không thờ lửa: lửa là dấu hiệu nhìn thấy được để hướng lòng về Đấng Ahura Mazda. Trang này cho thấy những gì thật sự có ở đó: bình lửa và phòng lửa, bệ lửa trên lăng vua và trên tiền cổ, hình Faravahar, tấm hình Zarathustra do người thế kỷ 19 vẽ ra, sợi dây kusti, và các đền lửa từ Yazd tới Udvada và London. Mọi ảnh đều là ảnh chụp công trình và hiện vật thật, có ghi người chụp và giấy phép. Hình vẽ duy nhất là một sơ đồ chữ. Bên trong nhiều đền lửa ở Ấn Độ không mở cho người ngoài đạo và không có ảnh, chỗ nào thiếu ảnh thư viện nói rõ.
ILửa Là Dấu Hiệu, Không Phải Vị Thần
Người theo Bái Hỏa Giáo thờ một Đấng duy nhất là Ahura Mazda, theo lời dạy của Zarathustra. Khi cầu nguyện, họ quay mặt về một nguồn sáng. Trong đền, nguồn sáng ấy là một ngọn lửa đã được hiến thánh và giữ cháy liên tục. Trang hỏi đáp của avesta.org viết rằng lửa có chỗ đứng tôn quý vì là biểu tượng của Asha (lẽ thật, trật tự) và của ánh sáng nguyên thủy của Thượng Đế, và người ta thường cầu nguyện trước một ngọn lửa.
Nguồn: avesta.org, Zoroastrianism and Avesta: Overview and FAQ. Heritage Institute, Zoroastrian Worship, Eternal Flame, Prayer.Tên Hán Việt "Bái Hỏa Giáo" nghĩa đen là đạo lạy lửa. Đó là cách người ngoài gọi. Bách khoa Iranica ghi rằng có lẽ từ khi có đền lửa, người các đạo khác đã gọi người Zoroastrian là "kẻ thờ lửa", và chính họ luôn bác bỏ tên ấy: với họ lửa chỉ là một hình tượng giúp tâm trí hướng về Thượng Đế và lẽ thật. Tổ chức Zoroastrian Thế giới (WZO) so sánh lửa trong đền với cây thánh giá trong nhà thờ Kitô giáo, và gọi lời buộc tội thờ lửa là sự bất kính của những người muốn xuyên tạc. Thư viện giữ tên "Bái Hỏa Giáo" vì người Việt đã quen, và ghi rõ nghĩa ở đây.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce. World Zoroastrian Organisation, The Symbolism of Fire and Prayers.

Vì vậy trang này không có tượng thần nào. Ở chỗ mà đạo khác đặt tượng, đền Bái Hỏa Giáo đặt một bình lửa. Phần còn lại của trang là những gì thật sự có quanh ngọn lửa ấy: bệ và bình giữ lửa, ngôi đền, biểu tượng Faravahar, tấm hình Zarathustra do người đời sau vẽ, và mấy thứ người tín đồ mang trên mình.
Nguồn: World Zoroastrian Organisation, The Symbolism of Fire and Prayers. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.Sử gia Hy Lạp Herodotus, thế kỷ 5 trước Công nguyên, viết rằng người Ba Tư không có tượng thần, không có đền và không có bàn thờ. Iranica ghi rằng việc thờ lửa trong đền chỉ xuất hiện vào cuối thời Achaemenid, khoảng thế kỷ 4 trước Công nguyên, và kinh Avesta không nhắc tới đền lửa. Trước đó, ngọn lửa được tôn kính là lửa bếp của mỗi nhà.
Nguồn: Heritage Institute, Zoroastrian Worship, Eternal Flame, Prayer. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠKADA (đền lửa).IIBa Cấp Lửa Thiêng
Từ thời Hồi giáo, lửa trong đền được chia làm ba cấp. Cấp càng cao thì việc hiến thánh càng công phu và càng cần nhiều tu sĩ.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce. FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary.Iranica kể thêm một lệ xưa của Iran: mỗi năm, than từ lửa Dadgah được đưa tới trước một lửa Adaran, và than từ lửa Adaran được đưa tới trước một lửa Atash Behram, nối các ngọn lửa thành một chuỗi. Người Parsi ở Ấn Độ không theo lệ này.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.Chín ngọn Atash Behram
Cách đếm quen thuộc ngày nay là chín ngọn Atash Behram trên thế giới: tám ở Ấn Độ và một ở Yazd, Iran. Bảng dưới đây theo Wikipedia. Năm ghi là năm hiến thánh ngọn lửa hoặc năm dựng đền hiện nay.
Nguồn: Wikipedia, Atash Behram.Bách khoa Iranica xác nhận người Parsi có tám ngọn Atash Behram, mỗi ngọn được hiến thánh riêng. Về Iran thì Iranica kể nhiều hơn một: hai ngọn ở làng Sharifabad nay đã nhập làm một, một ngọn ở Kerman, một ngọn ở Yazd, và trong thế kỷ 20 thêm một ngọn ở Tehran, lập bằng than do các tu sĩ đi bộ mang từ Yazd qua sa mạc. Như vậy con số chín là cách đếm phổ biến chứ chưa chắc là con số mọi nguồn đều nhận. Thư viện ghi cả hai.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce. Wikipedia, Atash Behram.

IIITrong Một Ngôi Đền Lửa
Ba tên gọi của ngôi đền
Tiếng Ba Tư gọi là atashkadeh (ātaškada), nghĩa là nhà lửa. Người Parsi ở Ấn Độ gọi là agiary, một từ Gujarat dịch sát chữ ấy. Sau khi người Ả Rập chinh phục Iran, người Zoroastrian dùng tên Dar-e Mehr, và tên này nay phổ biến ở Iran và ở các cộng đồng hải ngoại.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠKADA (đền lửa). Wikipedia, Fire temple.Bảng thuật ngữ của FEZANA dùng các tên này hẹp hơn: agiary là đền giữ lửa cấp hai, còn Dar-e Mehr là đền không có lửa cháy thường trực. Hai cách dùng đều gặp, tùy cộng đồng.
Phòng lửa
Kiểu đền thời Sasan là một gian vuông bốn cột đỡ vòm, tiếng Ba Tư gọi là chahar taq (bốn vòm). Lửa đặt trên một bệ trụ giữa gian ấy, tín đồ nhìn thấy nhưng không vào. Đền của người Parsi giữ nguyên ý đó: phòng lửa vuông ở giữa, ba mặt trổ cửa sổ để người lễ nhìn thấy lửa.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠKADA (đền lửa). Wikipedia, Fire temple.


Từ bệ đá tới bình kim loại
Iranica gọi vật giữ lửa là atashdan (ātašdān), chỗ để lửa, và lưu ý rằng chữ "bàn thờ lửa" của phương Tây mang màu sắc tôn giáo mà các tên gốc không có. Ở Iran xưa, đó là một trụ đá hoặc trụ gạch trát vữa, cao ngang thắt lưng, đỉnh khoét sâu để giữ tro nóng. Bình kim loại là cách của người Parsi. Iranica đoán rằng cách này có từ cuối thế kỷ 15, khi người Parsi phải mang ngọn lửa duy nhất của mình đi lánh nạn hơn mười năm trong một bình lửa xách tay, rồi khi lửa về Navsari thì làm luôn bình lớn theo kiểu ấy. Từ nửa sau thế kỷ 19, bình kim loại nhập từ Ấn Độ dần thay các trụ cũ trong những đền lớn ở Yazd, Kerman và Tehran.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠDĀN (bệ giữ lửa).Wikipedia dẫn một ý khác: bình kim loại không phải sáng kiến của người Parsi, vì các sử gia Hy Lạp thời Parthia đã tả bình kim loại dùng để mang lửa, và tiền Sasan thế kỷ 3 tới 4 có hình lửa trong một vật giống bình. Chính Iranica cũng nhận rằng thời Sasan đã có những bệ lửa nhỏ cao ngang gối, có lẽ là tiền thân của afrinagan ngày nay.
Nguồn: Wikipedia, Fire temple. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠDĀN (bệ giữ lửa).Lễ boi: tiếp lửa năm lần mỗi ngày
Lửa thiêng phải cháy liên tục và được tiếp ít nhất năm lần mỗi ngày, ứng với năm canh (gah) của ngày. Lễ tiếp lửa gọi là boi, nghĩa là hương thơm. Tu sĩ đặt gỗ đàn hương lên lửa và rung chuông. Sau đó tu sĩ dùng một chiếc muôi đưa tro cho người lễ. Người lễ chấm tro lên trán và mí mắt, có người xin một ít mang về.
Nguồn: Britannica, Zoroastrianism: Practices and institutions. FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary. Wikipedia, Fire temple. World Zoroastrian Organisation, The Symbolism of Fire and Prayers. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.Khi đứng trước lửa, tu sĩ che miệng và mũi bằng một tấm vải trắng gọi là padan (padām), để hơi thở không chạm tới lửa đã hiến thánh.
Nguồn: FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.
Ai được vào
Ở Ấn Độ, người không theo đạo không được vào bất cứ chỗ nào nhìn thấy lửa. Wikipedia ghi rằng đây là tập tục hình thành theo thời gian chứ không phải điều kinh dạy. Ở Yazd, khách ngoài đạo được vào gian ngoài và nhìn lửa qua lớp kính màu hổ phách. Năm 2013, triển lãm The Everlasting Flame tại SOAS, London, phải dựng lại một đền lửa cho khách bước vào, vì ở đền thật khách không được vào tới đó.
Nguồn: Wikipedia, Fire temple. Wikipedia, Yazd Atash Behram. SOAS, Đại học London, triển lãm The Everlasting Flame: Zoroastrianism in History and Imagination.Vì lệ này, bên trong các agiary ở Ấn Độ gần như không có ảnh mang giấy phép mở. Ảnh phòng lửa trên trang này chụp ở London, Yazd và Kerman. Ảnh ở Ấn Độ chỉ là mặt ngoài.


IVBệ Lửa Thời Cổ
Hình bệ lửa có mặt trong nghệ thuật Iran suốt hơn một nghìn năm trước khi có bình kim loại. Dưới đây là mấy nơi còn nhìn thấy được, kèm những chỗ giới nghiên cứu chưa đồng ý với nhau.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠDĀN (bệ giữ lửa).Lăng các vua Achaemenid
Nhận ra: Vua đứng trên bục, trước một bệ lửa có ngọn lửa hình chóp, phía trên là hình người có cánhTrên mặt tiền lăng vua Darius và các vua kế vị ở Naqsh-e Rostam và Persepolis, nhà vua đứng trước một bệ giữ lửa có ba bậc ở đỉnh và ba bậc ở chân. Đây là hình bệ lửa rõ nhất còn lại từ thế kỷ 5 trước Công nguyên. Cảnh này là hình khắc trên lăng mộ của vua, không phải nơi dân chúng tới lễ.


Hai bệ đá ở Pasargadae
Nhận ra: Hai khối đá trắng đứng giữa đồng, một khối có bậc thangHai bệ này thường được giới thiệu là bệ lửa của vua Cyrus. Iranica không nhận cách gọi đó: hai bệ không có lòng sâu để giữ lửa, và khai quật cho thấy chúng luôn đứng trơ ngoài trời, nên không thể phục vụ một ngọn lửa cháy mãi. Cũng ở Pasargadae, người ta nhặt được mảnh của hai hoặc ba bệ giữ lửa thật bằng đá trắng, đỉnh rỗng để chứa tro, được định vào thời Cyrus.

Hai khối đá ở Naqsh-e Rostam
Nhận ra: Hai khối đá liền nhau, mỗi khối đục thành bốn cột đỡ vòmBài ĀTAŠDĀN của Iranica coi đây là cặp bệ lửa ngoài trời nổi tiếng nhất ở Fars, chỉ dùng trong dịp đặc biệt và trong thời gian ngắn. Bài NAQŠ-E ROSTAM của cùng bộ bách khoa thì ghi rằng chúng thường được cho là bệ lửa thời Sasan, nhưng nhà khảo cổ Dietrich Huff xác định là astodan, tức hộc đựng cốt. Thư viện ghi cả hai.

Tiền Sasan
Nhận ra: Mặt trước là chân dung vua, mặt sau là bệ lửa, thường có hai người đứng hai bênVua Arsacid Valaxsh I là vị vua Iran đầu tiên đặt bệ lửa lên mặt sau tiền đồng, thay cho tượng thần. Nhà Sasan biến việc đó thành lệ. Trên phần lớn đồng drachm bạc Sasan có một bệ lửa, có thể là ngọn lửa riêng của từng vua. Thời Ardashir I chỉ có bệ lửa. Từ Shapur I có thêm hai người đứng hai bên. Từ Shapur II, cả hai người đều đội vương miện, tức là nhà vua làm phận sự tôn giáo bên bệ lửa. Từ Hormizd II tới Yazdgerd I, trên bệ có thêm một bán thân tóc xoăn.


Adur Gushnasp ở Takht-e Soleyman
Nhận ra: Phế tích gạch đá quanh một hồ nước trên đỉnh đồiAdur Gushnasp là một trong ba ngọn lửa lớn của Iran cổ, gắn với giới chiến binh và với nhà vua. Cuối thời Sasan, mỗi vua sau lễ đăng quang đều đi bộ hành hương tới đây. Năm 623, hoàng đế Byzantine Heraclius phá đền. Lửa được lập lại và còn cháy nhiều đời sau khi Hồi giáo tới, có lẽ tắt vào cuối thế kỷ 10 hoặc đầu thế kỷ 11. Người khai quật tìm thấy chân bệ ba bậc của ngọn lửa lớn cùng nhiều bệ lửa nhỏ bằng đá. UNESCO ghi nơi này vào danh sách Di sản thế giới năm 2003 và gọi đây là thánh địa chính của Bái Hỏa Giáo thời Sasan.


VFaravahar, Hình Người Có Cánh
Hình một người đàn ông hiện ra từ vòng tròn có đôi cánh xòe là biểu tượng dễ nhận nhất của Bái Hỏa Giáo ngày nay. Hình này có trên mặt tiền đền lửa, trên bia mộ, trên dây chuyền. Nhưng nó không phải tượng thờ, và lịch sử của nó dài hơn tên gọi của nó.
Nguồn: Wikipedia, Faravahar. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠKADA (đền lửa).


Theo Wikipedia, vòng tròn có cánh vốn không phải của Iran: nó bắt nguồn từ hình thần Assur có cánh của vùng Lưỡng Hà và đã được dùng ở Cận Đông hàng nghìn năm. Các vua Achaemenid cho khắc hình này ở Persepolis, ở Behistun và trên lăng của mình. Sau thời Achaemenid, hình này gần như biến mất khỏi nghệ thuật Ba Tư: người Parthia và nhà Sasan không dùng.
Nguồn: Wikipedia, Faravahar. Wikipedia, Behistun Inscription. Encyclopaedia Iranica, NAQŠ-E ROSTAM.Cách hiểu thứ nhất coi đó là Ahura Mazda. Bài NAQŠ-E ROSTAM của Iranica viết rằng từ cuối thế kỷ 19 hình này được hiểu như vậy và các thử nghiệm đọc khác đã bị bác. Cách hiểu thứ hai coi đó là khvarenah (farr), vầng vinh quang trời ban cho nhà vua. Bài AHURA MAZDĀ của chính Iranica, do Mary Boyce viết, khẳng định hình có cánh đã được chứng minh là khvarenah của vua và thời Achaemenid sớm không có hình Ahura Mazda nào. Wikipedia ghi A. Shapur Shahbazi cùng phía với bà. Cách hiểu thứ ba coi đó là fravashi, linh hồn hộ mệnh. Iranica ghi J. H. Moulton đề xuất ý này và người Zoroastrian nay vẫn thường hiểu như vậy. Ba cách hiểu cùng tồn tại ngay trong một bộ bách khoa. Thư viện không chọn bên nào.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, NAQŠ-E ROSTAM. Encyclopaedia Iranica, AHURA MAZDĀ. Encyclopaedia Iranica, FRAVAŠI. Wikipedia, Faravahar.Việc lấy hình này làm biểu tượng của đạo là chuyện của thế kỷ 20. Wikipedia ghi học giả Parsi Jamshedji Maneckji Unvala công bố hai bài năm 1925 và 1930 gắn hình này với fravashi. Iranica ghi rằng các đền lửa mới ở Iran được xây có chủ ý theo phế tích Persepolis, với hình người có cánh trong vòng tròn và đầu cột hình bò. Bảng thuật ngữ của FEZANA định nghĩa farohar hay fravashi là linh hồn hộ mệnh, có trước và còn sau mỗi con người.
Nguồn: Wikipedia, Faravahar. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠKADA (đền lửa). FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary.

VIHình Ohrmazd Trên Vách Đá Và Tấm Hình Zarathustra
Phù điêu tấn phong thời Sasan
Có một chỗ trong nghệ thuật Iran mà Ahura Mazda (tiếng Ba Tư trung đại là Ohrmazd) hiện ra bằng hình người: các phù điêu tấn phong của vua Sasan. Iranica tả Ohrmazd ở đó là một người đàn ông uy nghi, đứng hoặc cưỡi ngựa, đội mũ hình tường thành, có khi cầm bó que barsom của tu sĩ. Đây là nghệ thuật của triều đình, tạc trên vách núi để nói rằng vương quyền do trời trao. Chúng không đặt trong đền và không ai dâng lễ trước chúng.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, AHURA MAZDĀ.

Theo Mary Boyce trong Iranica, việc dùng tượng trong thờ phượng có lẽ bắt đầu ở các tỉnh phía tây cuối thế kỷ 5 trước Công nguyên, với tượng nữ thần Anahit, và đền lửa được lập ra như một cách đáp lại. Một phong trào bài tượng đi cùng việc lập thêm lửa thiêng đã có ít nhất từ cuối thời Parthia và kéo suốt thời Sasan: khi một tượng thờ bị dời khỏi điện, một ngọn lửa được đặt vào chỗ ấy. Đại tu sĩ Kirder khắc lại rằng nhờ ông tượng bị lật đổ và nơi ở của các thần linh, tức đền lửa, được lập nên. Tới đời vua Khosrow II (591 tới 628) vẫn còn chép một vụ như vậy. Đây là luận điểm của bà Boyce, dựa trên bài "Iconoclasm among the Zoroastrians". Thư viện thuật lại theo Iranica và chưa đọc được ý kiến phản biện.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce. Encyclopaedia Iranica, AHURA MAZDĀ. Encyclopaedia Iranica, ĀDUR GUŠNASP.Tấm hình Zarathustra
Nhiều nhà và nhiều hội quán của người Zoroastrian treo hình một cụ già râu dài, áo trắng, đầu có vầng sáng, mắt ngước lên. Đó không phải chân dung thật. Không có hình nào của Zarathustra còn lại từ thời ông. Wikipedia ghi rằng một nhân vật trên phù điêu Taq-e Bostan thế kỷ 4, có vầng tia sáng quanh đầu và cầm bó que barsom, từng bị tưởng là Zarathustra. Nay giới nghiên cứu nhận đó là thần Mithra. Hình ấy là gốc của một bức tranh phổ biến thế kỷ 19, rồi từ bức tranh đó sinh ra phần lớn các hình vẽ ngày nay. Các bức thế kỷ 19 thường vẽ ông có râu, dáng ngước nhìn lên, chịu ảnh hưởng tranh chân dung tôn giáo cùng thời.
Nguồn: Wikipedia, Zoroaster. Wikimedia Commons, trang tệp Zartosht 30salegee.jpg (phần mô tả). Wikipedia, Taq-e Bostan.

Thư viện chỉ đăng một bản in năm 1906 để người đọc thấy lối vẽ quy ước này từ đâu ra, và không đưa hình Zarathustra làm nút bấm ở Chính Điện. Tấm hình là vật kính nhớ, không phải đối tượng thờ: người tín đồ cầu nguyện trước lửa hoặc ánh sáng, không trước tấm hình.
VIITrong Nhà Và Trên Mình Người Tín Đồ
Phần lớn việc cầu nguyện của người Zoroastrian diễn ra ở nhà hoặc ngoài trời, từng người một. WZO viết rằng khi cầu nguyện riêng, người ta đứng trước một nguồn sáng: tốt nhất là lửa hoặc mặt trời, ban đêm là mặt trăng, một ngọn nến, có khi là một bóng đèn điện. Iranica ghi rằng suốt khoảng 500 năm đầu ở Ấn Độ, người Parsi chỉ có một ngọn lửa đền duy nhất, nên với đa số họ bếp lửa trong nhà chính là tâm điểm của việc thờ phượng.
Nguồn: Heritage Institute, Zoroastrian Worship, Eternal Flame, Prayer. World Zoroastrian Organisation, The Symbolism of Fire and Prayers. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.Divo, ngọn đèn dầu
Nhận ra: Một ly dầu có tim đèn, thắp khi cầu nguyệnFEZANA định nghĩa divo là đèn dầu dùng khi cầu nguyện và trong các nghi lễ. Đây là nguồn sáng thường gặp nhất trong nhà. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của một chiếc divo.
Nguồn: FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary.Sudreh và kusti
sedreh, kushtiNhận ra: Áo lót trắng và sợi dây len trắng quấn ba vòng quanh eoĐây là hai thứ người tín đồ mang trên mình suốt đời, nhận trong lễ nhập đạo gọi là navjote (ở Iran gọi là sedreh pushi). Britannica ghi tuổi làm lễ là bảy ở Ấn Độ và mười ở Iran. Kusti là một sợi dây gồm sáu tao, mỗi tao mười hai sợi len trắng, cộng 72 sợi, ứng với 72 chương của bộ kinh Yasna. Dây quấn ba vòng quanh eo, thắt hai nút, một trước một sau. Mỗi ngày người tín đồ cởi ra thắt lại nhiều lần kèm lời nguyện, mặt quay về phía mặt trời, ban đêm thì quay về đèn dầu, lửa, trăng hoặc sao.


Mâm lễ jashan
Nhận ra: Một bình lửa nhỏ, một khay đàn hương, một khay trái cây, hoa, sữa, rượu và nướcJashan là lễ tạ ơn và chúc tụng, thuộc nhóm lễ "ngoài", có thể làm ở nhà hay ở hội quán. Iranica tả đồ bày cho nghi thức afrinagan trong lễ này: một bình lửa có muôi và kẹp, một khay kim loại đựng đàn hương và hương liệu, một khay đựng lễ vật gồm trái cây, hoa, sữa, rượu và nước. Hai tu sĩ trở lên hành lễ, một vị cầm hoa đứng trước bình lửa. J. J. Modi cũng tả bình lửa cùng muôi, kẹp và phiến đá kê bình.
Nguồn: FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary. Encyclopaedia Iranica, ĀFRĪNAGĀN. J. J. Modi, The Religious Ceremonies and Customs of the Parsees, phần dụng cụ nghi lễ (bản trên avesta.org).Mâm bảy món Haft Sin ngày Nowruz thường bị coi là tục Bái Hỏa Giáo. Iranica viết ngược lại: tục này vốn không có nơi người Zoroastrian, ý tưởng Haft Sin là mới, và gần đây nhiều gia đình Zoroastrian ở thành thị mới bày theo do sống gần những người Iran khác. Britannica gọi Nowruz là lễ vui và đẹp nhất của đạo. Vì vậy trang này không đăng ảnh mâm Haft Sin làm hình thờ.
Nguồn: Encyclopaedia Iranica, HAFT SIN. Britannica, Zoroastrianism: Practices and institutions.Dakhma: kiến trúc tang lễ, không phải nơi thờ
Dakhma, quen gọi là tháp lặng, là một công trình tròn, không mái, dựng trên đồi, nơi thi hài được đặt cho chim ăn xác để không làm ô uế đất, nước và lửa. Britannica ghi tháp cao khoảng 8 mét, bằng gạch hoặc đá. Theo Wikipedia, mặt tháp chia ba vòng đồng tâm cho nam, nữ và trẻ em, xương rơi xuống hố giữa tháp. Người Zoroastrian ở Yazd dùng tháp tới năm 1974. Người Parsi ở Mumbai còn giữ tục này tại Doongerwadi trên đồi Malabar, nhưng số kền kền đã giảm hơn 97 phần trăm. Trong tháp không có hình tượng nào. Iranica ghi rằng gần mỗi tháp thường có một nhà nhỏ giữ lửa Dadgah cho vong linh, hoặc một ngọn đèn thay vào.
Nguồn: FEZANA (Liên đoàn các Hội Zoroastrian Bắc Mỹ), Zoroastrian Global Glossary. Britannica, dakhma. Wikipedia, Tower of Silence. Encyclopaedia Iranica, ĀTAŠ (lửa), bài của Mary Boyce.

VIIIĐền Lửa Qua Các Vùng
Wikipedia ghi số tín đồ toàn thế giới vào khoảng 110.000 tới 120.000 người, đông nhất ở Ấn Độ, rồi tới Bắc Mỹ và Iran, và cũng dẫn những ước tính khác xa con số này. Năm 2021 có 167 đền lửa: 45 ở Mumbai, 105 ở phần còn lại của Ấn Độ và 17 ở các nước khác.
Nguồn: Wikipedia, Zoroastrianism. Wikipedia, Fire temple.Iran: Yazd, Kerman, Tehran
Sau khi Hồi giáo tới, phần lớn đền lửa bị phá hoặc thành thánh đường. Người Zoroastrian giữ lửa trong những ngôi nhà gạch mộc thấp, trông như nhà dân, và giấu lửa trong một buồng nhỏ sau cánh cửa bé như cửa tủ. Chỉ tu sĩ chui vào chăm lửa, còn người thường chịu không được nhìn thấy lửa để lửa được yên. Từ cuối thế kỷ 19, khi sự chèn ép bớt dần, các Dar-e Mehr được xây lại lớn hơn. Đền Atash Behram ở Yazd xây năm 1934 bằng tiền của hội người Parsi Ấn Độ. Ngọn lửa ở đây được nói là đã cháy từ khoảng năm 470, lần lượt được giữ ở Larestan, Aqda, Ardakan rồi Yazd. Chữ "được nói là" có trong chính nguồn.




Iran: Chak Chak (Pir-e Sabz)
Ngôi đền trên vách núi giữa sa mạc tỉnh Yazd, được coi là thiêng nhất trong các đền núi của đạo. Truyền thuyết kể công chúa Nikbanou, con vua Yazdegerd III, chạy quân Ả Rập tới đây, cầu Ahura Mazda và được núi mở ra che chở. Dòng nước nhỏ giọt quanh năm trong hang cho ngôi đền cái tên Chak Chak. Mỗi năm, từ ngày 14 tới 18 tháng 6, tín đồ từ Iran, Ấn Độ và nhiều nước về đây hành hương. Trong hang có lửa cháy thường trực, nền lát đá, vách ám khói, cửa bằng đồng.


Ấn Độ: Udvada, Navsari, Surat, Mumbai
Người Parsi là hậu duệ những người Zoroastrian rời Iran sang Gujarat. Britannica ghi truyền thống nói thế kỷ 8, nhưng cũng có thể muộn tới thế kỷ 10. Ngọn lửa Iranshah của họ nay ở Udvada. Wikipedia ghi lửa được hiến thánh ở Sanjan năm 721, qua nhiều lần dời (hang Bahrot, Vansda, Navsari, Surat, Valsad) rồi tới Udvada, trong ngôi đền dựng năm 1742. Iranica thì ghi người Parsi lập ngọn lửa này sau khi định cư ở Sanjan năm 936. Hai nguồn lệch nhau hơn hai trăm năm. Đền của người Parsi phần lớn xây trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, pha kiểu địa phương với kiểu Victoria của Anh, nhiều ngôi có tượng bò có cánh và cột kiểu Ba Tư cổ ở cổng.



Pakistan: Karachi
Britannica ghi người Parsi sống chủ yếu ở Mumbai và vài thị trấn phía bắc Mumbai, và cũng có ở Karachi (Pakistan) và Bengaluru. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của một đền lửa ở Karachi.
Nguồn: Britannica, Parsi.Anh và Bắc Mỹ
Ở London, Zoroastrian Trust Funds of Europe (lập ngày 31 tháng 10 năm 1861, khoảng 5.000 thành viên) đặt trụ sở tại Trung tâm Zoroastrian ở Rayners Lane, trong một rạp chiếu phim Art Deco cũ được xếp hạng di tích. Ở Bắc Mỹ, các hội đoàn họp lại trong liên đoàn FEZANA, và các đền thường mang tên Dar-e Mehr. Phòng lửa ở London là một trong số ít phòng lửa có ảnh mang giấy phép mở.



Azerbaijan: Ateshgah ở Baku
Ateshgah ở Surakhani gần Baku hay được giới thiệu là đền lửa Bái Hỏa Giáo. Các nguồn đã đọc nghiêng về hướng khác. Khu đền năm cạnh này xây trong thế kỷ 17 và 18. Trong 17 bài minh trên tường có 14 bài chữ Phạn, 2 bài chữ Punjab và chỉ 1 bài chữ Ba Tư. Học giả A. V. Williams Jackson nhận xét các nét mà du khách xưa tả lại là nét Ấn Độ chứ không phải Zoroastrian. Năm 1925, tu sĩ và học giả Parsi J. J. Modi tới tận nơi và kết luận đây không phải atashkadeh của đạo mình mà là một đền Hindu. Ngọn lửa khí tự nhiên tắt năm 1969 sau gần một thế kỷ khai thác dầu khí, và khu đền thành bảo tàng năm 1975. Iranica chỉ nhắc một giả thuyết rằng tên Baku có thể liên quan tới một đền lửa xưa ở một mỏ dầu.


Trung Á thời cổ
Dấu vết của đạo còn lại ở Trung Á thời trước Hồi giáo. Người Sogdia quanh Samarkand để cốt người chết trong những bình đất nung, và một bình thế kỷ 7 tới 8 từ Mullakurgan có hình tu sĩ trên thân. Iranica nhắc một dấu vết khác ở Kara Tepe gần Termez, xứ Bactria cổ: trong một hốc tường vốn đặt tượng Phật, người ta tìm thấy một bệ lửa đắp vội bằng gạch mộc.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là người Zoroastrian, người Parsi, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Người theo Bái Hỏa Giáo có thờ lửa không
Không. Họ thờ Đấng Ahura Mazda. Lửa là dấu hiệu nhìn thấy được để hướng lòng khi cầu nguyện. Bách khoa Iranica ghi rằng người Zoroastrian luôn bác bỏ tên gọi "kẻ thờ lửa". Tổ chức Zoroastrian Thế giới so sánh lửa trong đền với cây thánh giá trong nhà thờ.
Trong đền lửa có tượng không
Không có tượng thần. Giữa phòng lửa là một bình kim loại lớn giữ ngọn lửa đã hiến thánh, đặt trên bệ đá. Tường phòng để trơn. Hình Zarathustra, nếu có treo ở gian ngoài, là hình kính nhớ do người đời sau vẽ.
Ba cấp lửa khác nhau thế nào
Atash Behram là cấp cao nhất, gom từ 16 nguồn lửa và chỉ tu sĩ được chăm. Atash Adaran gom từ bốn nguồn lửa. Atash Dadgah lấy từ bếp lửa sạch của nhà người tín đồ và người thường cũng được chăm khi cần.
Faravahar là hình gì
Là hình một người hiện ra từ vòng tròn có cánh, khắc từ thời các vua Achaemenid ở Persepolis và Behistun. Giới nghiên cứu chưa thống nhất hình ấy chỉ Ahura Mazda, vầng vinh quang của vua hay linh hồn hộ mệnh fravashi. Tới thế kỷ 20 nó mới thành biểu tượng của đạo.
Hình Zarathustra thường thấy có phải chân dung thật không
Không. Không còn hình nào từ thời ông. Tấm hình quen thuộc được vẽ ở thế kỷ 19, phỏng theo một nhân vật trên phù điêu Taq-e Bostan thế kỷ 4 mà nay giới nghiên cứu nhận là thần Mithra.
Người ngoài đạo có được vào đền lửa không
Tùy nơi. Ở Ấn Độ, người không theo đạo không được vào chỗ nhìn thấy lửa. Đó là tập tục, không phải điều kinh dạy. Ở Yazd, Iran, khách được vào gian ngoài và nhìn lửa qua kính.