Do Thái giáo là đạo không có hình thờ. Không ai tạc hay vẽ Thượng Đế, và ở chỗ người ta hướng về khi cầu nguyện không có một pho tượng hay bức tranh nào. Trang này kể vì sao lại thế theo chính các nguồn Do Thái, rồi cho thấy thứ được đặt ở chỗ trang trọng nhất của hội đường: Tủ Thánh và các cuộn Torah, tấm màn, ngọn đèn vĩnh cửu, bục đọc, chân đèn. Trang cũng kể hội đường khác nhau thế nào giữa các vùng, và trong nhà người Do Thái có những vật thánh gì. Thư viện không viết Thánh Danh bốn chữ dưới bất cứ dạng chữ nào và không đăng ảnh lấy Thánh Danh làm chủ đề. Ảnh là ảnh chụp hiện vật thật, hình vẽ duy nhất là một sơ đồ chữ.
IMột Đạo Không Tạc Hình Thượng Đế
Do Thái giáo không tạc, không vẽ Thượng Đế, và không đặt một hình tượng nào ở nơi người ta hướng về khi cầu nguyện. Gốc của điều này là Điều Răn thứ hai trong Mười Điều Răn. Sách Xuất Hành chép, theo bản dịch trên Sefaria: ngươi không được làm cho mình tượng chạm, hay bất cứ hình nào giống vật ở trên trời cao, ở dưới đất thấp, hay ở trong nước dưới đất. Câu kế tiếp cấm cúi lạy và phụng thờ những hình ấy.
Nguồn: Sefaria, sách Xuất Hành 20:4 tới 5 (bản Hebrew và bản dịch Anh). My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.Vì thế, bước vào một hội đường Do Thái, người ta không thấy tượng và không thấy tranh thờ. Thứ được đặt ở chỗ trang trọng nhất là chữ: các cuộn Torah chép tay trên da, cất trong một chiếc tủ gọi là Tủ Thánh. Chabad gọi các cuộn Torah là vật thiêng nhất trong Do Thái giáo. Phần còn lại của trang này kể về chiếc tủ ấy, về y phục của cuộn sách, và về những vật quanh nó.
Nguồn: Chabad.org, What Is a Synagogue. Jewish Virtual Library, Ark.Luật Do Thái đọc Điều Răn thứ hai thế nào
Theo bài giải đáp trên My Jewish Learning, mối lo chính của điều răn là hình làm ra để thờ. Các thầy dạy luật qua nhiều đời đã bàn xem lằn ranh nằm ở đâu. Sách Talmud, phần Avodah Zarah 43a, đọc theo hướng chặt: không được làm hình mặt người, nhưng được giữ hình do người ngoài đạo làm. Bộ luật Shulchan Arukh thế kỷ 16 (phần Yoreh Deah 141 tới 142) siết chặt với tượng tròn và phù điêu, đồng thời cho phép tranh phẳng và hình người miễn là không trọn cả thân. Tượng bán thân, là hình chưa trọn, cũng được phép.
Nguồn: My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.Về hình thú trong hội đường, bài của Rabbi Akiva Males trên tạp chí Jewish Action ghi một lằn chia: các bậc thầy Sephardi cấm trang trí hội đường bằng hình thú, các bậc thầy Ashkenazi thì cho phép. Rabbi Moshe Feinstein cho rằng đôi sư tử thường thấy trong hội đường Ashkenazi không phạm luật. Rabbi Chaim Sofer lưu ý rằng các con sư tử ấy không phải tượng tròn đứng rời, lưng chúng phẳng và áp vào tường. Về hình người, có nghệ sĩ Do Thái ngày nay như Tobi Kahn cho rằng gốc của luật là ngăn việc thờ ngẫu tượng, nên thời nay vẽ trọn thân người cũng được. Thư viện ghi các ý ấy và không chọn bên nào.
Nguồn: Jewish Action (Orthodox Union), Rabbi Akiva Males, Chocolate and Eagles and Lions, Oh My. My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.Wikipedia tóm lệ thường của hội đường Chính thống như sau: không dùng hình người, phần trang trí chỉ gồm ngôi sao David, sư tử Judah, hoa và trái.
Nguồn: Wikipedia, Synagogue architecture.IIHội Đường Cổ Từng Có Tranh Và Khảm Hình
Từng có thời người ta tin rằng người Do Thái xưa hoàn toàn không làm tranh hình. Theo My Jewish Learning, cuộc khai quật hội đường Dura-Europos trong thập niên 1930 đã làm đổi hẳn cách nhìn ấy: tường hội đường phủ kín tranh vẽ các truyện trong Kinh Thánh, đầy nhân vật.
Nguồn: My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World.Dura-Europos, Syria
Nhận ra: Tranh tường kể truyện Kinh Thánh, giữa tường tây là một hốc đặt TorahMột bài minh tiếng Aram cho biết lần xây cuối vào khoảng năm 244. Hội đường được tìm thấy năm 1932. Phòng họp còn 58 cảnh, ước chừng sáu phần mười số cảnh ban đầu, lấy từ các truyện về Moses, Ezekiel và nhiều truyện khác. Hốc đặt Torah nằm ở tường phía tây, hướng về Jerusalem. Phía trên hốc vẽ một chân đèn, một tòa nhà có cột và cửa vòm, và cảnh Abraham dâng Isaac. Trong vài cảnh có một bàn tay từ trên đưa xuống để chỉ sự can thiệp của Thượng Đế. Không cảnh nào vẽ Thượng Đế. Tranh nay giữ ở Bảo tàng Quốc gia Damascus, xếp theo đúng vị trí cũ.


Beit Alpha, Israel
Nhận ra: Nền khảm ba ô, ô giữa là vòng hoàng đạoNền khảm được các thành viên một kibbutz tìm ra năm 1929 khi đào mương. Một dòng chữ Aram ghi nền được lát dưới triều hoàng đế Justin, có lẽ là Justin I, đầu thế kỷ 6. Một dòng chữ Hy Lạp ghi tên hai người thợ, Marianos và con trai là Hanina. Ô thứ nhất là cảnh Abraham dâng Isaac. Ô giữa là mười hai cung hoàng đạo có tên Hebrew, chính giữa là Helios, thần mặt trời của người Hy Lạp, trên cỗ xe mặt trời, bốn góc là bốn hình có cánh chỉ bốn mùa. Ô thứ ba là một tủ Torah mái nhọn sau tấm màn, hai bên có chân đèn, tù và shofar, cành lulav, quả etrog và hai sư tử.

Roma và Ostia
Nhận ra: Chân đèn bảy nhánh và tủ Torah làm dấu hiệuNgười Do Thái thời La Mã để lại dấu hiệu của mình trên đồ dùng và trên đá. Mảnh bát dát vàng ở Bảo tàng Metropolitan, năm 300 tới 350, vẽ một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, cùng hai chân đèn, một tù và shofar và một quả etrog. Bảo tàng gọi đây là hiện vật hiếm.


Beit Alpha không phải nơi duy nhất. My Jewish Learning ghi rằng nền khảm hội đường Hamat Tiberias cũng có vòng hoàng đạo với Helios và cỗ xe ở giữa, còn ở Tzippori thì chính mặt trời ngồi vào chỗ người đánh xe. Trang này không đăng ảnh cận cảnh hình ấy. Các nguồn đã đọc không cho biết người đương thời hiểu hình này ra sao, nên thư viện chỉ ghi là nó có ở đó.
Nguồn: My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World.Sách chép tay thời Trung Cổ
Sách Haggadah Đầu Chim, chép khoảng năm 1300 ở miền thượng lưu sông Rhine, là cuốn Haggadah minh họa nổi tiếng nay ở Bảo tàng Israel. Người Do Thái trong tranh mang đầu chim. Cách giải thích phổ biến nhất là người vẽ muốn tránh phạm Điều Răn thứ hai. Các học giả còn đưa ra cách hiểu khác: đầu sư tử đầu chim (griffin), đầu đại bàng, hoặc ảnh hưởng của tranh biếm họa bài Do Thái thời ấy. Câu hỏi chưa ngã ngũ.
Nguồn: Wikipedia, Birds' Head Haggadah. My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.
IIITủ Thánh, Tâm Điểm Của Hội Đường
Chỗ mà nhiều đạo khác đặt tượng, hội đường đặt một chiếc tủ. Người Ashkenazi gọi là aron kodesh, nghĩa là Tủ Thánh. Người Sephardi gọi là heikhal. Luật Do Thái coi tủ là phần thiêng nhất của hội đường, chỉ sau chính các cuộn Torah. Tủ không được bán đi để lấy tiền xây hội đường, và không được đem dùng vào việc đời.
Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark.Tủ đặt ở bức tường hướng về Jerusalem. Ở các nước phương Tây, đó là tường phía đông. Ở Babylon xưa, đó là tường phía tây. Người cầu nguyện quay mặt về phía tủ, tức là về phía Jerusalem, nơi từng có Đền Thờ.
Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark. Chabad.org, What Is a Synagogue.Sơ đồ gom những điểm mà các nguồn đã đọc cùng ghi. Mỗi hội đường mỗi khác: có nơi không có bia, có nơi không có màn.



Về lịch sử, Jewish Virtual Library ghi rằng ban đầu tủ là một chiếc rương gỗ di chuyển được, như dấu vết ở Dura-Europos. Tới thời Trung Cổ, tủ thành một hốc trong tường. Thời Phục Hưng có kiểu tủ đứng hai tầng. Kiểu tủ Baroque có cột trang trí thành lệ ở các hội đường Đức thế kỷ 18, chạm sư tử, chim, cá heo, hươu và đại bàng. Khi tủ mở trong một số bài kinh, cả hội đường đứng dậy.
Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark.Màn che tủ (parokhet)
Nhận ra: Tấm vải thêu treo trước cửa tủMàn có thể mang bất cứ màu nào. Màn được coi là vật thánh: khi không dùng được nữa thì đem chôn chứ không vứt bỏ. Ở Ý thời cận đại, phụ nữ Do Thái thường thêu và dâng vải cho hội đường để mừng một dịp lớn của người thân. Tấm màn trong ảnh mang tên người thêu và năm 1698 tới 1699.

Đèn vĩnh cửu (ner tamid)
Nhận ra: Ngọn đèn nhỏ luôn sáng phía trên tủTên đèn lấy từ sách Xuất Hành, nơi nói về ngọn lửa cháy mãi trên chân đèn vàng của Đền Thờ. Chabad ghi đèn nhắc tới ngọn đèn phía tây luôn sáng trong Đền Thờ. Sách Kol Bo cuối thế kỷ 15 viết rằng đèn để tỏ lòng kính Sự Hiện Diện của Thượng Đế, vốn ngự ở nơi nào đủ mười người Do Thái họp lại cầu nguyện, và cũng ghi rằng gốc của tục này đã thất truyền. Xưa đèn là lửa thật, nay nhiều nơi dùng đèn điện. Chabad cho biết nhiều giáo đoàn Chabad không giữ tục này.

IVCuộn Torah Và Y Phục Của Cuộn Sách
Cuộn Torah được chép tay bằng chữ Hebrew trên da, quấn quanh hai trục gỗ. Cuộn sách không bao giờ để trần. Bách khoa thư Encyclopaedia Judaica viết rằng tấm áo như là y phục của cuộn Torah. Cách mặc cho cuộn sách là chỗ dễ thấy nhất để nhận ra một cộng đồng thuộc truyền thống nào.
Nguồn: Chabad.org, What Is a Synagogue. Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).


Áo Torah (me'il)
Nhận ra: Áo vải trùm kín cuộn sách, hở hai đầu trụcỞ Đức và Trung Âu, áo hẹp, may từ hai mảnh vải chữ nhật, hoa văn theo màn che tủ: cột, sư tử, vương miện. Áo của người Sephardi may bằng vải quý, thường để trơn. Ở Morocco và Algeria, áo nhung thêu dày. Ở Ý, áo rộng và mở phía trước.

Hộp Torah (tik)
Nhận ra: Hộp trụ bằng gỗ hoặc bọc bạc, mở dọc làm đôiCác cộng đồng quanh đông Địa Trung Hải và phương Đông cất cuộn Torah trong hộp cứng thay cho áo vải. Hộp hình trụ hoặc lăng trụ tám, mười, mười hai mặt, mở dọc thành hai nửa. Encyclopaedia Judaica chia ba kiểu: đỉnh phẳng (Yemen, Cochin, đông Iran, Afghanistan), đỉnh tròn hoặc hình củ hành (Iraq, tây Iran), đỉnh có vành miện (Libya, Tunisia, cộng đồng Romaniote ở Hy Lạp). My Jewish Learning ghi thêm rằng khi đọc, người ta không lấy cuộn sách ra khỏi hộp.


Đôi chóp (rimonim)
Nhận ra: Hai chóp bạc cắm trên đầu hai trục, thường có chuông nhỏChóp vốn là núm tròn trên đầu trục. Vì hình giống trái cây nên ở Tây Ban Nha và các cộng đồng Sephardi gọi là tappuah, quả táo, nơi khác gọi là rimon, quả lựu. Một văn bản năm 1159 trong kho Cairo Genizah cho thấy chóp bạc có chuông đã có từ thế kỷ 12. Từ thế kỷ 15, ở Tây Ban Nha, Ý và Đức xuất hiện kiểu chóp hình tháp. Đôi chóp trong ảnh làm ở Tiflis, được Bảo tàng Metropolitan tả là pha nét kiến trúc Ottoman, tân Gothic và hoa văn Do Thái.

Vương miện (keter)
Nhận ra: Một vương miện bạc đội trùm lên cả hai trụcVương miện nói lên sự tôn quý của Torah. Lần nhắc sớm nhất là thế kỷ 11, trong một thư trả lời của Hai Gaon về lễ Simhat Torah. Khi ấy vương miện còn kết tạm bằng cây lá và trang sức. Khoảng một trăm năm sau, vương miện bạc cố định xuất hiện trong văn bản Cairo Genizah. Kiểu dáng đổi theo vùng: hình củ hành ở Iraq và Ba Tư, hình vòm thuôn ở Cochin và Aden, hình vòng hoa ở Địa Trung Hải, hai hoặc ba tầng ở Đông Âu. Morocco và Yemen không dùng vương miện.

Tấm che ngực (tas, hoshen)
Nhận ra: Tấm bạc treo bằng dây xích trước áo TorahĐây là lệ của các cộng đồng Ashkenazi, nhắc tới tấm che ngực của thầy thượng tế trong sách Xuất Hành chương 28. Ban đầu tấm bạc có việc dùng rất thực: một ô nhỏ thay được bảng tên cho biết cuộn sách này dành cho ngày lễ nào. Về sau tấm che ngực được trang trí ngày càng kỹ, với cột, chân đèn, sư tử, vương miện. Ở Ý, tấm treo trước cuộn sách có hình nửa vành miện.

Que chỉ chữ (yad)
Nhận ra: Que nhỏ bằng bạc hoặc gỗ, đầu que là một bàn tay đang chỉNgười đọc không chạm tay vào mặt da của cuộn Torah, nên dò chữ bằng một que chỉ. Ở châu Âu que gọi là yad, bàn tay, hoặc etzba, ngón tay. Các cộng đồng Sephardi và phương Đông gọi là moreh, que chỉ, hoặc kulmus, bút lông. Các cộng đồng phương Đông giữ dáng que trơn ban đầu, không có bàn tay.

Dải buộc và khăn phủ
Nhận ra: Dải vải quấn quanh cuộn sách bên trong áoỞ Đức từ nửa sau thế kỷ 16, dải buộc gọi là wimpel được may từ tấm vải lanh dùng trong lễ cắt bì của một bé trai, thêu tên em, tên cha, ngày sinh và lời chúc em lớn lên vào với Torah, với lễ cưới và với việc lành. Riêng người Do Thái Yemen vẫn quấn cuộn Torah trong hai ba lớp khăn vải bông in hoa cho tới khi họ di cư về Israel.
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).VBục Đọc, Chân Đèn Và Ngôi Sao David
Bục đọc (bimah)
Bimah là bục có bàn để mở cuộn Torah ra đọc. Bục còn có tên almemar, gốc từ chữ al-minbar tiếng Ả Rập, và người Sephardi gọi là tevah. Chỗ đặt bục là điểm khác nhau rõ nhất giữa các truyền thống. Maimonides, trong bộ Mishneh Torah, dạy đặt bục ở giữa. Joseph Caro cho rằng chỗ đặt tùy hoàn cảnh. Khi các hội đường thế kỷ 19 dời bục lên sát tủ, Moses Sofer và Ezekiel Landau phản đối gay gắt, và một trăm rabbi đã ra tuyên bố đòi giữ bục ở giữa.
Nguồn: Jewish Virtual Library, Bimah. My Jewish Learning, Synagogue Layout.



Trong hội đường Chính thống, nam và nữ ngồi riêng. Có nơi ngăn bằng một tấm chắn gọi là mechitzah, có nơi phụ nữ ngồi trên ban công. My Jewish Learning ghi rằng micro chỉ dùng ở các hội đường không thuộc Chính thống, vì luật truyền thống không cho dùng trong ngày Shabbat và ngày lễ.
Nguồn: My Jewish Learning, Synagogue Layout. Chabad.org, What Is a Synagogue.Chân đèn bảy nhánh và đèn chín nhánh
Chân đèn bảy nhánh (menorah) từng đứng trong Lều Tạm ở hoang mạc rồi trong Đền Thờ Jerusalem. Britannica gọi nó là một biểu tượng mạnh của căn tính Do Thái qua mọi thời và ở nước Israel ngày nay. Đèn dùng trong tám ngày lễ Hanukkah là một vật khác: có chín nhánh, tám nhánh cho tám đêm và một nhánh cho ngọn nến mồi gọi là shammash. Đèn này còn gọi là hanukkiyah.
Nguồn: Britannica, Menorah. Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.Sách Talmud, phần Rosh Hashanah 24a, cấm làm một chân đèn bảy nhánh giống của Đền Thờ, dựa trên lệnh cấm làm lại các vật thánh của Lều Tạm. Rabbi Doniel Neustadt tóm ba cách hiểu: chỉ cấm bản sao y hệt, cấm mọi chân đèn có thể dùng được trong Lều Tạm, hoặc cấm mọi chân đèn bảy nhánh. Bộ Shulchan Arukh (Yoreh Deah 141:8) theo cách hiểu giữa: chân đèn bằng gỗ, bằng sứ, hoặc làm cho nến thay vì dầu thì được phép. Chân đèn sáu, tám hay chín nhánh thì không vướng gì. Vì thế chân đèn bảy nhánh trong hội đường ngày nay thường khác chân đèn Đền Thờ ở một điểm nào đó.
Nguồn: Torah.org, Rabbi Doniel Neustadt, Weekly Halacha: chân đèn bảy nhánh.


Ngôi sao David, một biểu tượng muộn
Ngôi sao sáu cánh (Magen David) nay có mặt trên màn che tủ, áo Torah và cửa hội đường, nhưng nó không lâu đời như chân đèn. Britannica ghi hình này có từ thời cổ, khi ấy là một dấu hiệu ma thuật hoặc hoa văn trang trí, dùng cạnh ngôi sao năm cánh. Theo My Jewish Learning, thế kỷ 17 ngôi sao được dùng để đánh dấu khu Do Thái ở Vienna, và cũng quanh thời ấy nó đi vào kiến trúc hội đường ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi. Đại hội Phục quốc Do Thái lần thứ nhất năm 1897 chọn nó làm biểu tượng. Sau này nó nằm trên quốc kỳ Israel. Ở Praha, hoàng đế Ferdinand III ban cho cộng đồng Do Thái một lá cờ riêng có ngôi sao David, để ghi công họ giữ thành trong Chiến tranh Ba mươi năm. Lá cờ treo trong hội đường Cũ Mới hiện nay là bản làm lại.
Nguồn: Britannica, Star of David. My Jewish Learning, Star of David. Wikipedia, Old New Synagogue.

Hai ảnh trên chụp ở hội đường Hobart, khánh thành ngày 4 tháng 7 năm 1845, tòa hội đường cổ nhất nước Úc.
Nguồn: Wikipedia, Hobart Synagogue.VIHội Đường Qua Các Vùng Và Các Nhánh
Britannica ghi ba tên Hebrew của hội đường, ứng với ba việc: nhà cầu nguyện, nhà hội họp và nhà học. Không có một kiểu kiến trúc bắt buộc. Mỗi cộng đồng xây theo lối của xứ mình ở, và giữ bên trong mấy thứ không đổi: Tủ Thánh, cuộn Torah, bục đọc.
Nguồn: Britannica, Synagogue. College of Charleston, The Life of the Synagogue: Inside the Synagogue.Ashkenazi: Trung Âu và Đông Âu
Hội đường Cũ Mới ở Praha xây xong năm 1270, là hội đường cổ nhất châu Âu còn hoạt động. Bục đọc đứng giữa hai cột lớn, Tủ Thánh ở tường đông sau năm bậc cấp. Phụ nữ ngồi ở một gian ngoài, nhìn vào qua các ô cửa nhỏ. Ở Kraków, Hội đường Cũ được kiến trúc sư người Ý Mateo Gucci xây lại năm 1570 và là tòa hội đường cổ nhất còn đứng ở Ba Lan. Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức tàn phá bên trong và dùng làm kho. Nay đó là một bảo tàng. Hội đường Izaak gần đó xây xong năm 1644 nhờ tiền của Izaak Jakubowicz, tường còn các bài kinh viết bằng sơn.



Hội đường gỗ Ba Lan và Litva
Từ giữa thế kỷ 16 tới giữa thế kỷ 17, các cộng đồng Do Thái trong Liên bang Ba Lan và Litva dựng nhiều hội đường bằng gỗ, mái nhiều tầng, bục đọc ở giữa. Tường và trần vẽ kín: thú vật, các cung hoàng đạo, chữ Hebrew. Tủ Thánh chạm gỗ cao nhiều tầng. Tủ của hội đường Wołpa có cột, chân đèn chạm nổi, bình hoa, tháp có mái, hai bia Mười Điều Răn và một con đại bàng. Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức đốt phá gần hết các hội đường gỗ còn lại, ở Ba Lan nay không còn tòa nào. Hội đường Gwoździec dựng khoảng năm 1650, trần do Israel ben Mordechai vẽ khoảng năm 1652 và được vẽ lại năm 1729. Bảo tàng POLIN ở Warszawa dựng lại mái và trần ở tỷ lệ khoảng 85 phần trăm, lắp vào năm 2013.

Sephardi: Tây Ban Nha, Amsterdam, Newport
Toledo còn hai hội đường thời Trung Cổ, cả hai xây theo lối Mudéjar và về sau đều thành nhà thờ. Santa María la Blanca có 24 cột tám cạnh đỡ vòm móng ngựa. Niên đại chưa thống nhất: có thuyết ghi khoảng năm 1205, có bài minh gợi ý năm 1180. El Tránsito do Samuel HaLevi Abulafia, quan giữ kho của vua Pedro xứ Castilla, xây khoảng năm 1357. Tường phủ vữa chạm, có chữ Hebrew trích Thi Thiên và cả chữ Ả Rập. Sau khi người Do Thái bị trục xuất năm 1492, những người Sephardi dựng lại đời sống ở nơi khác. Hội đường Bồ Đào Nha ở Amsterdam do Elias Bouman thiết kế, xây năm 1671 tới 1675. Tủ Thánh làm bằng gỗ jacaranda từ Brazil, bục tebah ở đầu đối diện, nền rải cát, và gian chính tới nay vẫn thắp nến chứ không mắc điện. Hội đường Touro ở Newport khánh thành ngày 2 tháng 12 năm 1763, do Peter Harrison thiết kế cho một cộng đồng gốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.





Ý
Từ thế kỷ 16, hội đường Ý đặt Tủ Thánh và bục đọc ở hai đầu đối nhau, coi trọng ngang nhau, ghế chạy dọc hai bên. Hội đường Tây Ban Nha ở Venice thuộc một giáo đoàn lập năm 1555, tòa nhà xong năm 1580 và được tu sửa năm 1635. Bề ngoài tòa nhà không để lộ đây là nơi thờ phượng, vì thời ấy hội đường chỉ được dung thứ với điều kiện kín đáo.

Mizrahi và Yemen
Ở các cộng đồng phương Đông, điểm dễ nhận nhất là cuộn Torah nằm trong hộp tik và được đọc ngay trong hộp. Que chỉ chữ thường là que trơn. Người Yemen quấn cuộn Torah bằng khăn vải in hoa và không dùng vương miện. Về hình thú, các bậc thầy Sephardi nhìn chung không cho trang trí hội đường bằng hình thú.

Cochin, Ấn Độ
Hội đường Paradesi ở Kochi xây năm 1568. Nền lát hàng trăm viên gạch sứ Trung Hoa vẽ tay thế kỷ 18, không viên nào giống viên nào. Trần treo đèn chùm thủy tinh Bỉ, giữa phòng là bục đọc có lan can đồng. Các cuộn Torah ở đây có vương miện vàng được tặng. Hộp tik của Cochin thuộc kiểu đỉnh phẳng, vương miện hình vòm thuôn.


Khai Phong, Trung Quốc (đã mất)
Một tấm bia ghi hội đường Khai Phong lập năm 1163, mang tên Thanh Chân Tự, là tên người Trung Hoa vẫn gọi các thánh đường Hồi giáo. Sau trận lụt sông Hoàng Hà năm 1642, cộng đồng dựng lại hội đường và chép lại mười ba cuộn kinh. Hội đường bị dỡ trong khoảng năm 1850 tới 1866. Hình ảnh còn lại là các bản vẽ năm 1722 của giáo sĩ Jean Domenge. Theo chú giải bản vẽ, giữa điện có một bàn lễ đặt lư hương, bình hoa và chân nến theo lối Trung Hoa, và một chiếc ghế gọi là Ghế Moses, nơi đặt cuộn Torah khi đọc.

Neolog và Cải cách
Thế kỷ 19, các giáo đoàn cấp tiến đưa vào hội đường những thứ trước đó không có. Hội đường phố Dohány ở Budapest, xây năm 1854 tới 1859 theo thiết kế của Ludwig Förster, có khoảng 3.000 chỗ và là hội đường lớn nhất châu Âu. Giáo đoàn theo phái Neolog. Lòng nhà chia ba gian dọc như một vương cung thánh đường Kitô giáo, và có cả đàn ống, điều hiếm thấy trong hội đường. Ở các hội đường Cải cách và Bảo thủ thời nay, bục đọc được đưa lên phía trước, ngay trước Tủ Thánh. Britannica nêu Temple Emanu-El ở New York làm ví dụ về hội đường Cải cách.


VIIVật Thánh Trong Nhà Người Do Thái
Nhà người Do Thái không có bàn thờ và không có ảnh thờ. Đời sống đạo trong nhà đi qua những vật dùng cho từng điều răn: gắn lên cửa, thắp lên bàn ăn, khoác lên người lúc cầu nguyện.
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.Mezuzah
Nhận ra: Hộp nhỏ gắn nghiêng trên khung cửa bên phảiMezuzah gồm một cuộn da nhỏ và chiếc hộp đựng. Cuộn da do người chép kinh viết tay hai đoạn sách Đệ Nhị Luật (6:4 tới 9 và 11:13 tới 21), trong đó có kinh Shema. Hộp thì làm bằng gì, cỡ nào, hình gì cũng được. Mặt sau cuộn da ghi chữ Shaddai, một danh xưng của Thượng Đế. Ba chữ cái của danh xưng ấy còn được đọc là chữ đầu của câu Đấng gìn giữ các cửa của Israel. Mezuzah gắn ở bên phải khi bước vào, khoảng một phần ba phía trên khung cửa. My Jewish Learning nhấn rằng đây là dấu nhắc về Giao Ước, không phải bùa hộ thân.

Nến Shabbat
Nhận ra: Hai chân nến trên bàn ăn chiều thứ SáuNến được thắp trước khi ngày Shabbat và các ngày lễ bắt đầu, để tôn kính ngày thánh. Nến thường đặt ở nơi ăn bữa lễ. Người phụ nữ đã lập gia đình thắp hai ngọn hoặc nhiều hơn.

Ly kiddush
Nhận ra: Chiếc ly dành riêng cho lời chúc tụng trên rượuĐầu bữa ăn ngày Shabbat và ngày lễ, người ta đọc lời kiddush trên một ly rượu nho hoặc nước nho. Chiếc ly dành cho việc này tiếng Yiddish gọi là becher.

Bộ havdalah
Nhận ra: Nến bện nhiều tim và hộp hương liệuKhi ngày Shabbat kết thúc, người ta đọc lời cầu nguyện trên hương liệu thơm gọi là besamim và trên ngọn lửa của một cây nến bện nhiều tim.

Đĩa seder
Nhận ra: Đĩa tròn lớn bày các món tượng trưng đêm lễ Vượt QuaTrong bữa seder của lễ Vượt Qua, một chiếc khay tròn bày sáu món ăn mang ý nghĩa nghi lễ, cùng ba tấm bánh không men matzah.

Đèn Hanukkah
Nhận ra: Đèn chín nhánh, mỗi đêm thắp thêm một ngọnĐèn có chín chỗ thắp, trong đó một chỗ dành cho ngọn mồi shammash. Mỗi đêm trong tám đêm lễ, người ta thắp thêm một ngọn.

Tallit và tefillin
Nhận ra: Khăn choàng có tua ở bốn góc, hai hộp da đen có dâyTallit là khăn choàng cầu nguyện có tua, thường bằng len trắng có sọc màu. Tefillin là hai hộp da đựng mảnh da chép bốn đoạn kinh, một hộp đeo trên đầu, một hộp buộc vào cánh tay. Theo Chabad, một trang Chính thống, nam giới khoác tallit trong buổi cầu nguyện sáng và đeo tefillin trong các buổi cầu nguyện ngày thường.


Tấm mizrah
Nhận ra: Tấm tranh hay giấy cắt ghi chữ ĐôngMizrah nghĩa là phía đông. Ở các nước phương Tây, hướng về Jerusalem là hướng đông, nên Tủ Thánh nằm ở tường đông. Tấm mizrah trong ảnh là giấy cắt của Joseph A. Michael, khoảng năm 1870: giữa là một trái tim ghi chữ Đông mọc lên từ một chiếc đèn Hanukkah, hai bên có hai sư tử đứng trên cây hoa, bốn góc là hoa thị. Đây là một ví dụ về hình thú trong nghệ thuật dân gian Do Thái.

VIIIBức Tường Phía Tây: Nơi Cầu Nguyện, Không Phải Vật Thờ
Bức Tường Phía Tây (Kotel) ở Thành Cổ Jerusalem là phần còn lại duy nhất của bức tường chắn bao quanh Núi Đền, nơi từng có Đền Thờ thứ nhất và thứ hai. Phần lộ trên mặt đất dài khoảng 50 mét, cao khoảng 20 mét, phần chìm dưới đất còn sâu hơn nhiều. Bức tường đứng vững qua lần quân La Mã phá Đền Thờ thứ hai năm 70. My Jewish Learning gọi đây là nơi thánh nhất của Do Thái giáo.
Nguồn: Britannica, Western Wall. My Jewish Learning, The Western Wall.Người Do Thái tới đây để cầu nguyện, để thương tiếc Đền Thờ đã mất và cầu cho Đền Thờ được dựng lại. Có tục viết lời cầu xin lên giấy rồi cài vào khe đá. Tên Bức Tường Than Khóc là do du khách châu Âu đặt khi thấy cảnh người Do Thái khóc thương ở đó.
Nguồn: Britannica, Western Wall.Không. Chabad viết rõ đây là một hiểu lầm: người Do Thái không thờ bức tường mà cầu nguyện tại đó, hướng lên Thượng Đế. Sự thánh của nơi này đến từ Núi Đền, nơi theo truyền thống Thượng Đế đã chọn làm chỗ ngự từ thời vua David. Truyền thống Do Thái còn nói Sự Hiện Diện của Thượng Đế không bao giờ rời Bức Tường Phía Tây.
Nguồn: Chabad.org, bài giải đáp vì sao người Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Phía Tây. Britannica, Western Wall.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là người Do Thái, rabbi hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao hội đường Do Thái không có tượng
Điều Răn thứ hai trong sách Xuất Hành cấm làm tượng chạm và mọi hình để cúi lạy. Do Thái giáo không tạc, không vẽ Thượng Đế. Chỗ trang trọng nhất của hội đường là Tủ Thánh, nơi cất các cuộn Torah chép tay.
Người Do Thái có thờ cuộn Torah hay Bức Tường Phía Tây không
Không. Cuộn Torah được tôn kính vì là lời dạy, được mặc áo, đội vương miện và mọi người đứng dậy khi tủ mở, nhưng lời cầu nguyện chỉ hướng lên Thượng Đế. Chabad viết rõ rằng người Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Phía Tây chứ không thờ bức tường.
Menorah bảy nhánh khác đèn Hanukkah chín nhánh thế nào
Chân đèn bảy nhánh là chân đèn của Lều Tạm và Đền Thờ Jerusalem, nay là một biểu tượng của dân Do Thái. Đèn Hanukkah có chín nhánh: tám nhánh cho tám đêm lễ và một nhánh cho ngọn nến mồi. Luật Do Thái còn hạn chế việc làm bản sao đúng chân đèn Đền Thờ.
Do Thái giáo có cấm mọi hình vẽ không
Không hẳn. Hội đường Dura-Europos thế kỷ 3 có tranh tường kể truyện Kinh Thánh, nền khảm Beit Alpha thế kỷ 6 có vòng hoàng đạo. Bộ luật Shulchan Arukh chặt với tượng tròn và phù điêu, và cho phép tranh phẳng với một số điều kiện. Trong đạo có nhiều cách hiểu, nhất là về hình thú trong hội đường.
Ngôi sao David có từ thời Kinh Thánh không
Các nguồn đã đọc không nói thế. Britannica ghi hình sao sáu cánh thời cổ là dấu hiệu ma thuật hoặc hoa văn. Theo My Jewish Learning, nó gắn với cộng đồng Do Thái rõ dần từ thế kỷ 17 và được Đại hội Phục quốc Do Thái chọn làm biểu tượng năm 1897.
Vì sao cuộn Torah có nơi mặc áo vải, có nơi nằm trong hộp
Đó là khác biệt giữa các truyền thống. Người Ashkenazi và nhiều cộng đồng Sephardi mặc áo vải cho cuộn sách. Các cộng đồng phương Đông như Iraq, Iran, Yemen, Cochin cất cuộn sách trong một hộp cứng gọi là tik và đọc ngay trong hộp.