VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Do Thái Giáo

· Không hình tượng, chỉ có Tủ Thánh và cuộn Torah

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
44
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Truyền thống
8
Ashkenazi, Sephardi, Ý, Mizrahi và Yemen, Cochin, Khai Phong, Neolog và Cải cách, hội đường gỗ
Nguồn
48
nguồn Do Thái giáo, bảo tàng, Britannica, Wikipedia

Do Thái giáo là đạo không có hình thờ. Không ai tạc hay vẽ Thượng Đế, và ở chỗ người ta hướng về khi cầu nguyện không có một pho tượng hay bức tranh nào. Trang này kể vì sao lại thế theo chính các nguồn Do Thái, rồi cho thấy thứ được đặt ở chỗ trang trọng nhất của hội đường: Tủ Thánh và các cuộn Torah, tấm màn, ngọn đèn vĩnh cửu, bục đọc, chân đèn. Trang cũng kể hội đường khác nhau thế nào giữa các vùng, và trong nhà người Do Thái có những vật thánh gì. Thư viện không viết Thánh Danh bốn chữ dưới bất cứ dạng chữ nào và không đăng ảnh lấy Thánh Danh làm chủ đề. Ảnh là ảnh chụp hiện vật thật, hình vẽ duy nhất là một sơ đồ chữ.

IMột Đạo Không Tạc Hình Thượng Đế

Do Thái giáo không tạc, không vẽ Thượng Đế, và không đặt một hình tượng nào ở nơi người ta hướng về khi cầu nguyện. Gốc của điều này là Điều Răn thứ hai trong Mười Điều Răn. Sách Xuất Hành chép, theo bản dịch trên Sefaria: ngươi không được làm cho mình tượng chạm, hay bất cứ hình nào giống vật ở trên trời cao, ở dưới đất thấp, hay ở trong nước dưới đất. Câu kế tiếp cấm cúi lạy và phụng thờ những hình ấy.

Nguồn: Sefaria, sách Xuất Hành 20:4 tới 5 (bản Hebrew và bản dịch Anh). My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.

Vì thế, bước vào một hội đường Do Thái, người ta không thấy tượng và không thấy tranh thờ. Thứ được đặt ở chỗ trang trọng nhất là chữ: các cuộn Torah chép tay trên da, cất trong một chiếc tủ gọi là Tủ Thánh. Chabad gọi các cuộn Torah là vật thiêng nhất trong Do Thái giáo. Phần còn lại của trang này kể về chiếc tủ ấy, về y phục của cuộn sách, và về những vật quanh nó.

Nguồn: Chabad.org, What Is a Synagogue. Jewish Virtual Library, Ark.

Luật Do Thái đọc Điều Răn thứ hai thế nào

Theo bài giải đáp trên My Jewish Learning, mối lo chính của điều răn là hình làm ra để thờ. Các thầy dạy luật qua nhiều đời đã bàn xem lằn ranh nằm ở đâu. Sách Talmud, phần Avodah Zarah 43a, đọc theo hướng chặt: không được làm hình mặt người, nhưng được giữ hình do người ngoài đạo làm. Bộ luật Shulchan Arukh thế kỷ 16 (phần Yoreh Deah 141 tới 142) siết chặt với tượng tròn và phù điêu, đồng thời cho phép tranh phẳng và hình người miễn là không trọn cả thân. Tượng bán thân, là hình chưa trọn, cũng được phép.

Nguồn: My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.
Trong đạo có nhiều cách hiểu

Về hình thú trong hội đường, bài của Rabbi Akiva Males trên tạp chí Jewish Action ghi một lằn chia: các bậc thầy Sephardi cấm trang trí hội đường bằng hình thú, các bậc thầy Ashkenazi thì cho phép. Rabbi Moshe Feinstein cho rằng đôi sư tử thường thấy trong hội đường Ashkenazi không phạm luật. Rabbi Chaim Sofer lưu ý rằng các con sư tử ấy không phải tượng tròn đứng rời, lưng chúng phẳng và áp vào tường. Về hình người, có nghệ sĩ Do Thái ngày nay như Tobi Kahn cho rằng gốc của luật là ngăn việc thờ ngẫu tượng, nên thời nay vẽ trọn thân người cũng được. Thư viện ghi các ý ấy và không chọn bên nào.

Nguồn: Jewish Action (Orthodox Union), Rabbi Akiva Males, Chocolate and Eagles and Lions, Oh My. My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.

Wikipedia tóm lệ thường của hội đường Chính thống như sau: không dùng hình người, phần trang trí chỉ gồm ngôi sao David, sư tử Judah, hoa và trái.

Nguồn: Wikipedia, Synagogue architecture.

IIHội Đường Cổ Từng Có Tranh Và Khảm Hình

Từng có thời người ta tin rằng người Do Thái xưa hoàn toàn không làm tranh hình. Theo My Jewish Learning, cuộc khai quật hội đường Dura-Europos trong thập niên 1930 đã làm đổi hẳn cách nhìn ấy: tường hội đường phủ kín tranh vẽ các truyện trong Kinh Thánh, đầy nhân vật.

Nguồn: My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World.

Dura-Europos, Syria

Nhận ra: Tranh tường kể truyện Kinh Thánh, giữa tường tây là một hốc đặt Torah

Một bài minh tiếng Aram cho biết lần xây cuối vào khoảng năm 244. Hội đường được tìm thấy năm 1932. Phòng họp còn 58 cảnh, ước chừng sáu phần mười số cảnh ban đầu, lấy từ các truyện về Moses, Ezekiel và nhiều truyện khác. Hốc đặt Torah nằm ở tường phía tây, hướng về Jerusalem. Phía trên hốc vẽ một chân đèn, một tòa nhà có cột và cửa vòm, và cảnh Abraham dâng Isaac. Trong vài cảnh có một bàn tay từ trên đưa xuống để chỉ sự can thiệp của Thượng Đế. Không cảnh nào vẽ Thượng Đế. Tranh nay giữ ở Bảo tàng Quốc gia Damascus, xếp theo đúng vị trí cũ.

Hốc đặt Torah ở tường phía tây hội đường Dura-Europos, Syria, khoảng năm 244 tới 245. Phía trên hốc vẽ chân đèn bảy nhánh, một tòa nhà có cửa vòm và cảnh Abraham dâng Isaac. Tranh tường gốc nay ở Bảo tàng Quốc gia Damascus.
Hốc đặt Torah ở tường phía tây hội đường Dura-Europos, Syria, khoảng năm 244 tới 245. Phía trên hốc vẽ chân đèn bảy nhánh, một tòa nhà có cửa vòm và cảnh Abraham dâng Isaac. Tranh tường gốc nay ở Bảo tàng Quốc gia Damascus.Ảnh: Marsyas, Public domain, Wikimedia Commons
Hốc đặt Torah của hội đường Dura-Europos lúc mới khai quật, ảnh chụp năm 1932 tới 1933. Lưu trữ của Phòng trưng bày Nghệ thuật Đại học Yale.
Hốc đặt Torah của hội đường Dura-Europos lúc mới khai quật, ảnh chụp năm 1932 tới 1933. Lưu trữ của Phòng trưng bày Nghệ thuật Đại học Yale.Ảnh: Yale University Art Gallery, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Dura-Europos synagogue. Britannica, Dura-Europus. Jewish Virtual Library, Ark.

Beit Alpha, Israel

Nhận ra: Nền khảm ba ô, ô giữa là vòng hoàng đạo

Nền khảm được các thành viên một kibbutz tìm ra năm 1929 khi đào mương. Một dòng chữ Aram ghi nền được lát dưới triều hoàng đế Justin, có lẽ là Justin I, đầu thế kỷ 6. Một dòng chữ Hy Lạp ghi tên hai người thợ, Marianos và con trai là Hanina. Ô thứ nhất là cảnh Abraham dâng Isaac. Ô giữa là mười hai cung hoàng đạo có tên Hebrew, chính giữa là Helios, thần mặt trời của người Hy Lạp, trên cỗ xe mặt trời, bốn góc là bốn hình có cánh chỉ bốn mùa. Ô thứ ba là một tủ Torah mái nhọn sau tấm màn, hai bên có chân đèn, tù và shofar, cành lulav, quả etrog và hai sư tử.

Nền khảm hội đường Beit Alpha, Israel, thế kỷ 6. Ba ô từ trên xuống: tủ Torah giữa hai chân đèn và hai sư tử, vòng mười hai cung hoàng đạo, cảnh Abraham dâng Isaac.
Nền khảm hội đường Beit Alpha, Israel, thế kỷ 6. Ba ô từ trên xuống: tủ Torah giữa hai chân đèn và hai sư tử, vòng mười hai cung hoàng đạo, cảnh Abraham dâng Isaac.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Jewish Virtual Library, Beit Alpha. My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World.

Roma và Ostia

Nhận ra: Chân đèn bảy nhánh và tủ Torah làm dấu hiệu

Người Do Thái thời La Mã để lại dấu hiệu của mình trên đồ dùng và trên đá. Mảnh bát dát vàng ở Bảo tàng Metropolitan, năm 300 tới 350, vẽ một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, cùng hai chân đèn, một tù và shofar và một quả etrog. Bảo tàng gọi đây là hiện vật hiếm.

Mảnh đáy bát thủy tinh dát vàng, La Mã, năm 300 tới 350: một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, hai chân đèn bảy nhánh, tù và shofar và quả etrog. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Mảnh đáy bát thủy tinh dát vàng, La Mã, năm 300 tới 350: một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, hai chân đèn bảy nhánh, tù và shofar và quả etrog. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Chân đèn bảy nhánh khắc trên đá ở di tích hội đường Ostia Antica, gần Roma, Ý.
Chân đèn bảy nhánh khắc trên đá ở di tích hội đường Ostia Antica, gần Roma, Ý.Ảnh: Ethan Doyle White, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Bowl Fragments with Menorah, Shofar, and Torah Ark (18.145.1a, b).
Hình mặt trời trong hội đường

Beit Alpha không phải nơi duy nhất. My Jewish Learning ghi rằng nền khảm hội đường Hamat Tiberias cũng có vòng hoàng đạo với Helios và cỗ xe ở giữa, còn ở Tzippori thì chính mặt trời ngồi vào chỗ người đánh xe. Trang này không đăng ảnh cận cảnh hình ấy. Các nguồn đã đọc không cho biết người đương thời hiểu hình này ra sao, nên thư viện chỉ ghi là nó có ở đó.

Nguồn: My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World.

Sách chép tay thời Trung Cổ

Sách Haggadah Đầu Chim, chép khoảng năm 1300 ở miền thượng lưu sông Rhine, là cuốn Haggadah minh họa nổi tiếng nay ở Bảo tàng Israel. Người Do Thái trong tranh mang đầu chim. Cách giải thích phổ biến nhất là người vẽ muốn tránh phạm Điều Răn thứ hai. Các học giả còn đưa ra cách hiểu khác: đầu sư tử đầu chim (griffin), đầu đại bàng, hoặc ảnh hưởng của tranh biếm họa bài Do Thái thời ấy. Câu hỏi chưa ngã ngũ.

Nguồn: Wikipedia, Birds' Head Haggadah. My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images.
Hai trang sách Haggadah Đầu Chim, miền nam nước Đức, khoảng năm 1300. Người trong tranh mang đầu chim thay cho mặt người. Bảo tàng Israel, Jerusalem.
Hai trang sách Haggadah Đầu Chim, miền nam nước Đức, khoảng năm 1300. Người trong tranh mang đầu chim thay cho mặt người. Bảo tàng Israel, Jerusalem.Ảnh: Người chép Menahem, Public domain, Wikimedia Commons

IIITủ Thánh, Tâm Điểm Của Hội Đường

Chỗ mà nhiều đạo khác đặt tượng, hội đường đặt một chiếc tủ. Người Ashkenazi gọi là aron kodesh, nghĩa là Tủ Thánh. Người Sephardi gọi là heikhal. Luật Do Thái coi tủ là phần thiêng nhất của hội đường, chỉ sau chính các cuộn Torah. Tủ không được bán đi để lấy tiền xây hội đường, và không được đem dùng vào việc đời.

Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark.

Tủ đặt ở bức tường hướng về Jerusalem. Ở các nước phương Tây, đó là tường phía đông. Ở Babylon xưa, đó là tường phía tây. Người cầu nguyện quay mặt về phía tủ, tức là về phía Jerusalem, nơi từng có Đền Thờ.

Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark. Chabad.org, What Is a Synagogue.
Trên cùngHai bia Mười Điều RănHai tấm bia đầu tròn, thường khắc mấy chữ đầu của mỗi điều răn. Jewish Virtual Library ghi lệ này bắt đầu ở Amsterdam thế kỷ 17
Phía trên tủĐèn vĩnh cửu (ner tamid)Một ngọn đèn luôn sáng, treo ngay trên hoặc trước tủ
Trước cửa tủMàn (parokhet)Tấm màn thêu che cửa tủ, được kéo ra ở những lúc quan trọng trong buổi lễ. Nhiều hội đường Sephardi không dùng màn
Cửa tủHai cánh cửaThường chạm trổ kỹ. Mở ra là một ngăn lót nhung
Trong tủCác cuộn TorahDựng đứng, mỗi cuộn mặc áo hoặc nằm trong hộp. Chỉ lấy ra khi đọc

Sơ đồ gom những điểm mà các nguồn đã đọc cùng ghi. Mỗi hội đường mỗi khác: có nơi không có bia, có nơi không có màn.

Tủ Thánh của hội đường Hobart, Úc (khánh thành năm 1845): hai bia Mười Điều Răn ở trên cao, màn nhung đỏ thêu vương miện và ngôi sao sáu cánh che cửa tủ.
Tủ Thánh của hội đường Hobart, Úc (khánh thành năm 1845): hai bia Mười Điều Răn ở trên cao, màn nhung đỏ thêu vương miện và ngôi sao sáu cánh che cửa tủ.Ảnh: CutOffTies, CC0, Wikimedia Commons
Tường phía đông hội đường Izaak, Kraków (xây xong năm 1644): Tủ Thánh có màn đỏ, phía trên là hai bia Mười Điều Răn đội vương miện. Trên tường còn các bài kinh viết bằng sơn.
Tường phía đông hội đường Izaak, Kraków (xây xong năm 1644): Tủ Thánh có màn đỏ, phía trên là hai bia Mười Điều Răn đội vương miện. Trên tường còn các bài kinh viết bằng sơn.Ảnh: Jeremiah Z. Cockroach, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tủ Thánh của Hội đường Cũ, khu Kazimierz, Kraków, Ba Lan. Tòa nhà nay là bảo tàng.
Tủ Thánh của Hội đường Cũ, khu Kazimierz, Kraków, Ba Lan. Tòa nhà nay là bảo tàng.Ảnh: Jeremiah Z. Cockroach, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Về lịch sử, Jewish Virtual Library ghi rằng ban đầu tủ là một chiếc rương gỗ di chuyển được, như dấu vết ở Dura-Europos. Tới thời Trung Cổ, tủ thành một hốc trong tường. Thời Phục Hưng có kiểu tủ đứng hai tầng. Kiểu tủ Baroque có cột trang trí thành lệ ở các hội đường Đức thế kỷ 18, chạm sư tử, chim, cá heo, hươu và đại bàng. Khi tủ mở trong một số bài kinh, cả hội đường đứng dậy.

Nguồn: Jewish Virtual Library, Ark.

Màn che tủ (parokhet)

Nhận ra: Tấm vải thêu treo trước cửa tủ

Màn có thể mang bất cứ màu nào. Màn được coi là vật thánh: khi không dùng được nữa thì đem chôn chứ không vứt bỏ. Ở Ý thời cận đại, phụ nữ Do Thái thường thêu và dâng vải cho hội đường để mừng một dịp lớn của người thân. Tấm màn trong ảnh mang tên người thêu và năm 1698 tới 1699.

Màn che Tủ Thánh (parokhet), vải lanh thêu chỉ tơ và chỉ kim loại, miền bắc nước Ý, đề năm 1698 tới 1699. Giữa màn là hai bia Luật dưới một vương miện. Bảo tàng Do Thái, New York.
Màn che Tủ Thánh (parokhet), vải lanh thêu chỉ tơ và chỉ kim loại, miền bắc nước Ý, đề năm 1698 tới 1699. Giữa màn là hai bia Luật dưới một vương miện. Bảo tàng Do Thái, New York.Ảnh: Leah Ottolenghi, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: My Jewish Learning, Synagogue Layout. Chabad.org, What Is a Synagogue. Bảo tàng Metropolitan, Jews and the Decorative Arts in Early Modern Italy. Bảo tàng Do Thái New York, Torah Ark Curtain (F 3432).

Đèn vĩnh cửu (ner tamid)

Nhận ra: Ngọn đèn nhỏ luôn sáng phía trên tủ

Tên đèn lấy từ sách Xuất Hành, nơi nói về ngọn lửa cháy mãi trên chân đèn vàng của Đền Thờ. Chabad ghi đèn nhắc tới ngọn đèn phía tây luôn sáng trong Đền Thờ. Sách Kol Bo cuối thế kỷ 15 viết rằng đèn để tỏ lòng kính Sự Hiện Diện của Thượng Đế, vốn ngự ở nơi nào đủ mười người Do Thái họp lại cầu nguyện, và cũng ghi rằng gốc của tục này đã thất truyền. Xưa đèn là lửa thật, nay nhiều nơi dùng đèn điện. Chabad cho biết nhiều giáo đoàn Chabad không giữ tục này.

Đèn vĩnh cửu (ner tamid) của Đại Hội đường Oświęcim, Ba Lan, thế kỷ 19. Đèn được tìm thấy năm 2004 khi khai quật trên nền hội đường.
Đèn vĩnh cửu (ner tamid) của Đại Hội đường Oświęcim, Ba Lan, thế kỷ 19. Đèn được tìm thấy năm 2004 khi khai quật trên nền hội đường.Ảnh: RDW MIC, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, Ner Tamid: The Eternal Light. Chabad.org, What Is a Synagogue.

IVCuộn Torah Và Y Phục Của Cuộn Sách

Cuộn Torah được chép tay bằng chữ Hebrew trên da, quấn quanh hai trục gỗ. Cuộn sách không bao giờ để trần. Bách khoa thư Encyclopaedia Judaica viết rằng tấm áo như là y phục của cuộn Torah. Cách mặc cho cuộn sách là chỗ dễ thấy nhất để nhận ra một cộng đồng thuộc truyền thống nào.

Nguồn: Chabad.org, What Is a Synagogue. Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).
Các cuộn Torah đứng trong Tủ Thánh của hội đường mới ở Bochum, Đức. Mỗi cuộn mặc áo nhung, đeo tấm che ngực bạc, đội chóp hoặc vương miện, theo lối Ashkenazi.
Các cuộn Torah đứng trong Tủ Thánh của hội đường mới ở Bochum, Đức. Mỗi cuộn mặc áo nhung, đeo tấm che ngực bạc, đội chóp hoặc vương miện, theo lối Ashkenazi.Ảnh: Reclus, CC0, Wikimedia Commons
Các cuộn Torah trong Tủ Thánh hội đường Hobart, Úc. Áo nhung xanh thêu ngôi sao sáu cánh, que chỉ chữ treo bằng dây phía trước.
Các cuộn Torah trong Tủ Thánh hội đường Hobart, Úc. Áo nhung xanh thêu ngôi sao sáu cánh, que chỉ chữ treo bằng dây phía trước.Ảnh: CutOffTies, CC0, Wikimedia Commons
Một cuộn Torah mặc áo nhung thêu chỉ vàng, trên hai trục là đôi chóp bạc. Hiện vật bảo tàng, trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.
Một cuộn Torah mặc áo nhung thêu chỉ vàng, trên hai trục là đôi chóp bạc. Hiện vật bảo tàng, trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.Ảnh: Oleg Yunakov, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Áo Torah (me'il)

Nhận ra: Áo vải trùm kín cuộn sách, hở hai đầu trục

Ở Đức và Trung Âu, áo hẹp, may từ hai mảnh vải chữ nhật, hoa văn theo màn che tủ: cột, sư tử, vương miện. Áo của người Sephardi may bằng vải quý, thường để trơn. Ở Morocco và Algeria, áo nhung thêu dày. Ở Ý, áo rộng và mở phía trước.

Một cuộn Torah mặc áo nhung thêu chỉ vàng, trên hai trục là đôi chóp bạc. Hiện vật bảo tàng, trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.
Một cuộn Torah mặc áo nhung thêu chỉ vàng, trên hai trục là đôi chóp bạc. Hiện vật bảo tàng, trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.Ảnh: Oleg Yunakov, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).

Hộp Torah (tik)

Nhận ra: Hộp trụ bằng gỗ hoặc bọc bạc, mở dọc làm đôi

Các cộng đồng quanh đông Địa Trung Hải và phương Đông cất cuộn Torah trong hộp cứng thay cho áo vải. Hộp hình trụ hoặc lăng trụ tám, mười, mười hai mặt, mở dọc thành hai nửa. Encyclopaedia Judaica chia ba kiểu: đỉnh phẳng (Yemen, Cochin, đông Iran, Afghanistan), đỉnh tròn hoặc hình củ hành (Iraq, tây Iran), đỉnh có vành miện (Libya, Tunisia, cộng đồng Romaniote ở Hy Lạp). My Jewish Learning ghi thêm rằng khi đọc, người ta không lấy cuộn sách ra khỏi hộp.

Hộp đựng Torah (tik) bọc bạc, trên có vương miện, thế kỷ 19, của cộng đồng Do Thái Cochin, Ấn Độ. Trưng bày tại nhà di sản Do Thái Cochin ở làng Nevatim, Israel.
Hộp đựng Torah (tik) bọc bạc, trên có vương miện, thế kỷ 19, của cộng đồng Do Thái Cochin, Ấn Độ. Trưng bày tại nhà di sản Do Thái Cochin ở làng Nevatim, Israel.Ảnh: Danny-w, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Hộp đựng Torah của người Do Thái Yemen, có đôi chóp và khăn phủ. Ảnh đen trắng năm 1983 của Trung tâm Nghệ thuật Do Thái, Đại học Hebrew Jerusalem.
Hộp đựng Torah của người Do Thái Yemen, có đôi chóp và khăn phủ. Ảnh đen trắng năm 1983 của Trung tâm Nghệ thuật Do Thái, Đại học Hebrew Jerusalem.Ảnh: Zev Radovan, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com). My Jewish Learning, Synagogue Layout. Jewish Virtual Library, The Torah: Breastplate.

Đôi chóp (rimonim)

Nhận ra: Hai chóp bạc cắm trên đầu hai trục, thường có chuông nhỏ

Chóp vốn là núm tròn trên đầu trục. Vì hình giống trái cây nên ở Tây Ban Nha và các cộng đồng Sephardi gọi là tappuah, quả táo, nơi khác gọi là rimon, quả lựu. Một văn bản năm 1159 trong kho Cairo Genizah cho thấy chóp bạc có chuông đã có từ thế kỷ 12. Từ thế kỷ 15, ở Tây Ban Nha, Ý và Đức xuất hiện kiểu chóp hình tháp. Đôi chóp trong ảnh làm ở Tiflis, được Bảo tàng Metropolitan tả là pha nét kiến trúc Ottoman, tân Gothic và hoa văn Do Thái.

Đôi chóp trục Torah (rimonim), bạc mạ vàng từng phần, làm tại Tiflis, Gruzia. Bảo tàng Metropolitan ghi năm 1895, trang ảnh gốc ghi năm 1896.
Đôi chóp trục Torah (rimonim), bạc mạ vàng từng phần, làm tại Tiflis, Gruzia. Bảo tàng Metropolitan ghi năm 1895, trang ảnh gốc ghi năm 1896.Ảnh: A.M., CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com). Bảo tàng Metropolitan, Pair of Torah finials (rimonim) (2013.444.1, .2). My Jewish Learning, Synagogue Layout.

Vương miện (keter)

Nhận ra: Một vương miện bạc đội trùm lên cả hai trục

Vương miện nói lên sự tôn quý của Torah. Lần nhắc sớm nhất là thế kỷ 11, trong một thư trả lời của Hai Gaon về lễ Simhat Torah. Khi ấy vương miện còn kết tạm bằng cây lá và trang sức. Khoảng một trăm năm sau, vương miện bạc cố định xuất hiện trong văn bản Cairo Genizah. Kiểu dáng đổi theo vùng: hình củ hành ở Iraq và Ba Tư, hình vòm thuôn ở Cochin và Aden, hình vòng hoa ở Địa Trung Hải, hai hoặc ba tầng ở Đông Âu. Morocco và Yemen không dùng vương miện.

Chi tiết một vương miện Torah (keter) của thợ bạc Andrea Zambelli, Venice, khoảng năm 1740 tới 1750, bạc mạ vàng từng phần. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Chi tiết một vương miện Torah (keter) của thợ bạc Andrea Zambelli, Venice, khoảng năm 1740 tới 1750, bạc mạ vàng từng phần. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Andrea Zambelli, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com). Bảo tàng Metropolitan, Jews and the Decorative Arts in Early Modern Italy.

Tấm che ngực (tas, hoshen)

Nhận ra: Tấm bạc treo bằng dây xích trước áo Torah

Đây là lệ của các cộng đồng Ashkenazi, nhắc tới tấm che ngực của thầy thượng tế trong sách Xuất Hành chương 28. Ban đầu tấm bạc có việc dùng rất thực: một ô nhỏ thay được bảng tên cho biết cuộn sách này dành cho ngày lễ nào. Về sau tấm che ngực được trang trí ngày càng kỹ, với cột, chân đèn, sư tử, vương miện. Ở Ý, tấm treo trước cuộn sách có hình nửa vành miện.

Tấm che ngực Torah (tas) của Elimelekh Tzoref, năm 1781 tới 1782, bạc mạ vàng từng phần, có men và đá. Bảo tàng Mỹ thuật Boston.
Tấm che ngực Torah (tas) của Elimelekh Tzoref, năm 1781 tới 1782, bạc mạ vàng từng phần, có men và đá. Bảo tàng Mỹ thuật Boston.Ảnh: Hiart, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jewish Virtual Library, The Torah: Breastplate. Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).

Que chỉ chữ (yad)

Nhận ra: Que nhỏ bằng bạc hoặc gỗ, đầu que là một bàn tay đang chỉ

Người đọc không chạm tay vào mặt da của cuộn Torah, nên dò chữ bằng một que chỉ. Ở châu Âu que gọi là yad, bàn tay, hoặc etzba, ngón tay. Các cộng đồng Sephardi và phương Đông gọi là moreh, que chỉ, hoặc kulmus, bút lông. Các cộng đồng phương Đông giữ dáng que trơn ban đầu, không có bàn tay.

Que chỉ chữ (yad), khoảng năm 1800: thân gỗ bọc bạc hai đầu, đầu que là một bàn tay phải đang chỉ. Bảo tàng Cooper Hewitt, New York.
Que chỉ chữ (yad), khoảng năm 1800: thân gỗ bọc bạc hai đầu, đầu que là một bàn tay phải đang chỉ. Bảo tàng Cooper Hewitt, New York.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: My Jewish Learning, Synagogue Layout. Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).

Dải buộc và khăn phủ

Nhận ra: Dải vải quấn quanh cuộn sách bên trong áo

Ở Đức từ nửa sau thế kỷ 16, dải buộc gọi là wimpel được may từ tấm vải lanh dùng trong lễ cắt bì của một bé trai, thêu tên em, tên cha, ngày sinh và lời chúc em lớn lên vào với Torah, với lễ cưới và với việc lành. Riêng người Do Thái Yemen vẫn quấn cuộn Torah trong hai ba lớp khăn vải bông in hoa cho tới khi họ di cư về Israel.

Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).

VBục Đọc, Chân Đèn Và Ngôi Sao David

Bục đọc (bimah)

Bimah là bục có bàn để mở cuộn Torah ra đọc. Bục còn có tên almemar, gốc từ chữ al-minbar tiếng Ả Rập, và người Sephardi gọi là tevah. Chỗ đặt bục là điểm khác nhau rõ nhất giữa các truyền thống. Maimonides, trong bộ Mishneh Torah, dạy đặt bục ở giữa. Joseph Caro cho rằng chỗ đặt tùy hoàn cảnh. Khi các hội đường thế kỷ 19 dời bục lên sát tủ, Moses Sofer và Ezekiel Landau phản đối gay gắt, và một trăm rabbi đã ra tuyên bố đòi giữ bục ở giữa.

Nguồn: Jewish Virtual Library, Bimah. My Jewish Learning, Synagogue Layout.
Truyền thốngChỗ đặt bục đọcChỗ ngồi
Ashkenazi truyền thốngGiữa phòng, giữa bục và tủ còn có ghếGhế quay về phía tủ
Sephardi và phương ĐôngGiữa phòng hoặc lùi về phía đối diện tủ, giữa bục và tủ không có ghếGhế xếp dọc, quay vào trục nối bục và tủ
Ý, từ thế kỷ 16Tủ và bục ở hai đầu đối nhau, được coi trọng ngang nhauGhế chạy dọc hai bên
Cải cách và Bảo thủ thời nayBục gộp với tủ ở phía trướcGhế xếp hàng nhìn lên phía trước
Nguồn: Jewish Virtual Library, Bimah. College of Charleston, The Life of the Synagogue: Inside the Synagogue. Wikipedia, Synagogue architecture.
Phòng cầu nguyện hội đường Worms, Đức: bàn đọc Torah đặt giữa phòng, Tủ Thánh ở tường trước, bên cạnh là một chân đèn nhiều nhánh.
Phòng cầu nguyện hội đường Worms, Đức: bàn đọc Torah đặt giữa phòng, Tủ Thánh ở tường trước, bên cạnh là một chân đèn nhiều nhánh.Ảnh: HOWI - Horsch, Willy, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Bên trong hội đường Cũ Mới (Staronová), Praha, xây xong năm 1270. Bục đọc có lưới sắt bao quanh nằm giữa phòng.
Bên trong hội đường Cũ Mới (Staronová), Praha, xây xong năm 1270. Bục đọc có lưới sắt bao quanh nằm giữa phòng.Ảnh: Mattsjc, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Hội đường Tây Ban Nha (Scuola Spagnola), Venice, nhìn về phía Tủ Thánh. Ghế chạy dọc hai bên, quay vào lối giữa.
Hội đường Tây Ban Nha (Scuola Spagnola), Venice, nhìn về phía Tủ Thánh. Ghế chạy dọc hai bên, quay vào lối giữa.Ảnh: Markhole, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Thánh đường Temple Emanu-El, Manhattan, New York, của một giáo đoàn Cải cách. Tủ Thánh và bục giảng cùng nằm ở phía trước, ghế xếp thành hàng nhìn lên.
Thánh đường Temple Emanu-El, Manhattan, New York, của một giáo đoàn Cải cách. Tủ Thánh và bục giảng cùng nằm ở phía trước, ghế xếp thành hàng nhìn lên.Ảnh: Rhododendrites, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trong hội đường Chính thống, nam và nữ ngồi riêng. Có nơi ngăn bằng một tấm chắn gọi là mechitzah, có nơi phụ nữ ngồi trên ban công. My Jewish Learning ghi rằng micro chỉ dùng ở các hội đường không thuộc Chính thống, vì luật truyền thống không cho dùng trong ngày Shabbat và ngày lễ.

Nguồn: My Jewish Learning, Synagogue Layout. Chabad.org, What Is a Synagogue.

Chân đèn bảy nhánh và đèn chín nhánh

Chân đèn bảy nhánh (menorah) từng đứng trong Lều Tạm ở hoang mạc rồi trong Đền Thờ Jerusalem. Britannica gọi nó là một biểu tượng mạnh của căn tính Do Thái qua mọi thời và ở nước Israel ngày nay. Đèn dùng trong tám ngày lễ Hanukkah là một vật khác: có chín nhánh, tám nhánh cho tám đêm và một nhánh cho ngọn nến mồi gọi là shammash. Đèn này còn gọi là hanukkiyah.

Nguồn: Britannica, Menorah. Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.
Vì sao hiếm thấy bản sao đúng chân đèn Đền Thờ

Sách Talmud, phần Rosh Hashanah 24a, cấm làm một chân đèn bảy nhánh giống của Đền Thờ, dựa trên lệnh cấm làm lại các vật thánh của Lều Tạm. Rabbi Doniel Neustadt tóm ba cách hiểu: chỉ cấm bản sao y hệt, cấm mọi chân đèn có thể dùng được trong Lều Tạm, hoặc cấm mọi chân đèn bảy nhánh. Bộ Shulchan Arukh (Yoreh Deah 141:8) theo cách hiểu giữa: chân đèn bằng gỗ, bằng sứ, hoặc làm cho nến thay vì dầu thì được phép. Chân đèn sáu, tám hay chín nhánh thì không vướng gì. Vì thế chân đèn bảy nhánh trong hội đường ngày nay thường khác chân đèn Đền Thờ ở một điểm nào đó.

Nguồn: Torah.org, Rabbi Doniel Neustadt, Weekly Halacha: chân đèn bảy nhánh.
Đèn lễ Hanukkah bằng bạc, Hamburg, Đức, thế kỷ 17. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Đèn lễ Hanukkah bằng bạc, Hamburg, Đức, thế kỷ 17. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Mảnh đáy bát thủy tinh dát vàng, La Mã, năm 300 tới 350: một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, hai chân đèn bảy nhánh, tù và shofar và quả etrog. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Mảnh đáy bát thủy tinh dát vàng, La Mã, năm 300 tới 350: một tủ Torah mở cửa thấy các cuộn sách, hai chân đèn bảy nhánh, tù và shofar và quả etrog. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Chân đèn bảy nhánh khắc trên đá ở di tích hội đường Ostia Antica, gần Roma, Ý.
Chân đèn bảy nhánh khắc trên đá ở di tích hội đường Ostia Antica, gần Roma, Ý.Ảnh: Ethan Doyle White, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi sao David, một biểu tượng muộn

Ngôi sao sáu cánh (Magen David) nay có mặt trên màn che tủ, áo Torah và cửa hội đường, nhưng nó không lâu đời như chân đèn. Britannica ghi hình này có từ thời cổ, khi ấy là một dấu hiệu ma thuật hoặc hoa văn trang trí, dùng cạnh ngôi sao năm cánh. Theo My Jewish Learning, thế kỷ 17 ngôi sao được dùng để đánh dấu khu Do Thái ở Vienna, và cũng quanh thời ấy nó đi vào kiến trúc hội đường ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi. Đại hội Phục quốc Do Thái lần thứ nhất năm 1897 chọn nó làm biểu tượng. Sau này nó nằm trên quốc kỳ Israel. Ở Praha, hoàng đế Ferdinand III ban cho cộng đồng Do Thái một lá cờ riêng có ngôi sao David, để ghi công họ giữ thành trong Chiến tranh Ba mươi năm. Lá cờ treo trong hội đường Cũ Mới hiện nay là bản làm lại.

Nguồn: Britannica, Star of David. My Jewish Learning, Star of David. Wikipedia, Old New Synagogue.
Tủ Thánh của hội đường Hobart, Úc (khánh thành năm 1845): hai bia Mười Điều Răn ở trên cao, màn nhung đỏ thêu vương miện và ngôi sao sáu cánh che cửa tủ.
Tủ Thánh của hội đường Hobart, Úc (khánh thành năm 1845): hai bia Mười Điều Răn ở trên cao, màn nhung đỏ thêu vương miện và ngôi sao sáu cánh che cửa tủ.Ảnh: CutOffTies, CC0, Wikimedia Commons
Các cuộn Torah trong Tủ Thánh hội đường Hobart, Úc. Áo nhung xanh thêu ngôi sao sáu cánh, que chỉ chữ treo bằng dây phía trước.
Các cuộn Torah trong Tủ Thánh hội đường Hobart, Úc. Áo nhung xanh thêu ngôi sao sáu cánh, que chỉ chữ treo bằng dây phía trước.Ảnh: CutOffTies, CC0, Wikimedia Commons

Hai ảnh trên chụp ở hội đường Hobart, khánh thành ngày 4 tháng 7 năm 1845, tòa hội đường cổ nhất nước Úc.

Nguồn: Wikipedia, Hobart Synagogue.

VIHội Đường Qua Các Vùng Và Các Nhánh

Britannica ghi ba tên Hebrew của hội đường, ứng với ba việc: nhà cầu nguyện, nhà hội họp và nhà học. Không có một kiểu kiến trúc bắt buộc. Mỗi cộng đồng xây theo lối của xứ mình ở, và giữ bên trong mấy thứ không đổi: Tủ Thánh, cuộn Torah, bục đọc.

Nguồn: Britannica, Synagogue. College of Charleston, The Life of the Synagogue: Inside the Synagogue.

Ashkenazi: Trung Âu và Đông Âu

Hội đường Cũ Mới ở Praha xây xong năm 1270, là hội đường cổ nhất châu Âu còn hoạt động. Bục đọc đứng giữa hai cột lớn, Tủ Thánh ở tường đông sau năm bậc cấp. Phụ nữ ngồi ở một gian ngoài, nhìn vào qua các ô cửa nhỏ. Ở Kraków, Hội đường Cũ được kiến trúc sư người Ý Mateo Gucci xây lại năm 1570 và là tòa hội đường cổ nhất còn đứng ở Ba Lan. Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức tàn phá bên trong và dùng làm kho. Nay đó là một bảo tàng. Hội đường Izaak gần đó xây xong năm 1644 nhờ tiền của Izaak Jakubowicz, tường còn các bài kinh viết bằng sơn.

Bên trong hội đường Cũ Mới (Staronová), Praha, xây xong năm 1270. Bục đọc có lưới sắt bao quanh nằm giữa phòng.
Bên trong hội đường Cũ Mới (Staronová), Praha, xây xong năm 1270. Bục đọc có lưới sắt bao quanh nằm giữa phòng.Ảnh: Mattsjc, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tủ Thánh của Hội đường Cũ, khu Kazimierz, Kraków, Ba Lan. Tòa nhà nay là bảo tàng.
Tủ Thánh của Hội đường Cũ, khu Kazimierz, Kraków, Ba Lan. Tòa nhà nay là bảo tàng.Ảnh: Jeremiah Z. Cockroach, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tường phía đông hội đường Izaak, Kraków (xây xong năm 1644): Tủ Thánh có màn đỏ, phía trên là hai bia Mười Điều Răn đội vương miện. Trên tường còn các bài kinh viết bằng sơn.
Tường phía đông hội đường Izaak, Kraków (xây xong năm 1644): Tủ Thánh có màn đỏ, phía trên là hai bia Mười Điều Răn đội vương miện. Trên tường còn các bài kinh viết bằng sơn.Ảnh: Jeremiah Z. Cockroach, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Old New Synagogue. Wikipedia, Old Synagogue (Kraków). Wikipedia, Izaak Synagogue.

Hội đường gỗ Ba Lan và Litva

Từ giữa thế kỷ 16 tới giữa thế kỷ 17, các cộng đồng Do Thái trong Liên bang Ba Lan và Litva dựng nhiều hội đường bằng gỗ, mái nhiều tầng, bục đọc ở giữa. Tường và trần vẽ kín: thú vật, các cung hoàng đạo, chữ Hebrew. Tủ Thánh chạm gỗ cao nhiều tầng. Tủ của hội đường Wołpa có cột, chân đèn chạm nổi, bình hoa, tháp có mái, hai bia Mười Điều Răn và một con đại bàng. Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức đốt phá gần hết các hội đường gỗ còn lại, ở Ba Lan nay không còn tòa nào. Hội đường Gwoździec dựng khoảng năm 1650, trần do Israel ben Mordechai vẽ khoảng năm 1652 và được vẽ lại năm 1729. Bảo tàng POLIN ở Warszawa dựng lại mái và trần ở tỷ lệ khoảng 85 phần trăm, lắp vào năm 2013.

BẢN DỰNG LẠI vòm trần vẽ của hội đường gỗ Gwoździec tại Bảo tàng POLIN, Warszawa. Hội đường gốc (khoảng năm 1650) đã bị phá hủy. Trên trần có thú vật, các cung hoàng đạo và chữ Hebrew.
BẢN DỰNG LẠI vòm trần vẽ của hội đường gỗ Gwoździec tại Bảo tàng POLIN, Warszawa. Hội đường gốc (khoảng năm 1650) đã bị phá hủy. Trên trần có thú vật, các cung hoàng đạo và chữ Hebrew.Ảnh: Pudelek, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Wooden synagogue. Wikipedia, Wołpa Synagogue. Wikipedia, Gwoździec Synagogue.

Sephardi: Tây Ban Nha, Amsterdam, Newport

Toledo còn hai hội đường thời Trung Cổ, cả hai xây theo lối Mudéjar và về sau đều thành nhà thờ. Santa María la Blanca có 24 cột tám cạnh đỡ vòm móng ngựa. Niên đại chưa thống nhất: có thuyết ghi khoảng năm 1205, có bài minh gợi ý năm 1180. El Tránsito do Samuel HaLevi Abulafia, quan giữ kho của vua Pedro xứ Castilla, xây khoảng năm 1357. Tường phủ vữa chạm, có chữ Hebrew trích Thi Thiên và cả chữ Ả Rập. Sau khi người Do Thái bị trục xuất năm 1492, những người Sephardi dựng lại đời sống ở nơi khác. Hội đường Bồ Đào Nha ở Amsterdam do Elias Bouman thiết kế, xây năm 1671 tới 1675. Tủ Thánh làm bằng gỗ jacaranda từ Brazil, bục tebah ở đầu đối diện, nền rải cát, và gian chính tới nay vẫn thắp nến chứ không mắc điện. Hội đường Touro ở Newport khánh thành ngày 2 tháng 12 năm 1763, do Peter Harrison thiết kế cho một cộng đồng gốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Hội đường Santa María la Blanca, Toledo, Tây Ban Nha: các hàng cột tám cạnh đỡ vòm móng ngựa. Tòa nhà thành nhà thờ từ đầu thế kỷ 15, nay là bảo tàng.
Hội đường Santa María la Blanca, Toledo, Tây Ban Nha: các hàng cột tám cạnh đỡ vòm móng ngựa. Tòa nhà thành nhà thờ từ đầu thế kỷ 15, nay là bảo tàng.Ảnh: Acediscovery, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Một mảng vữa chạm trên tường phía đông hội đường El Tránsito, Toledo, khoảng năm 1357: hoa lá, huy hiệu và các dòng chữ Hebrew. Nay là Bảo tàng Sephardi.
Một mảng vữa chạm trên tường phía đông hội đường El Tránsito, Toledo, khoảng năm 1357: hoa lá, huy hiệu và các dòng chữ Hebrew. Nay là Bảo tàng Sephardi.Ảnh: Roy Lindman, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Bên trong Hội đường Bồ Đào Nha ở Amsterdam trong một buổi lễ, tranh sơn dầu của Emanuel de Witte, năm 1680. Rijksmuseum, Amsterdam.
Bên trong Hội đường Bồ Đào Nha ở Amsterdam trong một buổi lễ, tranh sơn dầu của Emanuel de Witte, năm 1680. Rijksmuseum, Amsterdam.Ảnh: Emanuel de Witte, Public domain, Wikimedia Commons
Hội đường Bồ Đào Nha (Esnoga), Amsterdam, xây năm 1671 tới 1675, ảnh chụp năm 2015. Tủ Thánh bằng gỗ ở cuối phòng, các dãy ghế quay vào trục giữa.
Hội đường Bồ Đào Nha (Esnoga), Amsterdam, xây năm 1671 tới 1675, ảnh chụp năm 2015. Tủ Thánh bằng gỗ ở cuối phòng, các dãy ghế quay vào trục giữa.Ảnh: Chajm Guski from Germany, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Hội đường Touro, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ, khánh thành năm 1763. Bục đọc ở giữa nhìn về Tủ Thánh, ghế xếp dọc ba phía.
Hội đường Touro, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ, khánh thành năm 1763. Bục đọc ở giữa nhìn về Tủ Thánh, ghế xếp dọc ba phía.Ảnh: S.d.touro, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Synagogue of Santa María la Blanca. Wikipedia, Synagogue of El Tránsito. Wikipedia, Portuguese Synagogue (Amsterdam). Touro Synagogue (trang của hội đường), History.

Ý

Từ thế kỷ 16, hội đường Ý đặt Tủ Thánh và bục đọc ở hai đầu đối nhau, coi trọng ngang nhau, ghế chạy dọc hai bên. Hội đường Tây Ban Nha ở Venice thuộc một giáo đoàn lập năm 1555, tòa nhà xong năm 1580 và được tu sửa năm 1635. Bề ngoài tòa nhà không để lộ đây là nơi thờ phượng, vì thời ấy hội đường chỉ được dung thứ với điều kiện kín đáo.

Hội đường Tây Ban Nha (Scuola Spagnola), Venice, nhìn về phía Tủ Thánh. Ghế chạy dọc hai bên, quay vào lối giữa.
Hội đường Tây Ban Nha (Scuola Spagnola), Venice, nhìn về phía Tủ Thánh. Ghế chạy dọc hai bên, quay vào lối giữa.Ảnh: Markhole, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jewish Virtual Library, Bimah. Wikipedia, Spanish Synagogue (Venice).

Mizrahi và Yemen

Ở các cộng đồng phương Đông, điểm dễ nhận nhất là cuộn Torah nằm trong hộp tik và được đọc ngay trong hộp. Que chỉ chữ thường là que trơn. Người Yemen quấn cuộn Torah bằng khăn vải in hoa và không dùng vương miện. Về hình thú, các bậc thầy Sephardi nhìn chung không cho trang trí hội đường bằng hình thú.

Hộp đựng Torah của người Do Thái Yemen, có đôi chóp và khăn phủ. Ảnh đen trắng năm 1983 của Trung tâm Nghệ thuật Do Thái, Đại học Hebrew Jerusalem.
Hộp đựng Torah của người Do Thái Yemen, có đôi chóp và khăn phủ. Ảnh đen trắng năm 1983 của Trung tâm Nghệ thuật Do Thái, Đại học Hebrew Jerusalem.Ảnh: Zev Radovan, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com). My Jewish Learning, Synagogue Layout. Jewish Action (Orthodox Union), Rabbi Akiva Males, Chocolate and Eagles and Lions, Oh My.

Cochin, Ấn Độ

Hội đường Paradesi ở Kochi xây năm 1568. Nền lát hàng trăm viên gạch sứ Trung Hoa vẽ tay thế kỷ 18, không viên nào giống viên nào. Trần treo đèn chùm thủy tinh Bỉ, giữa phòng là bục đọc có lan can đồng. Các cuộn Torah ở đây có vương miện vàng được tặng. Hộp tik của Cochin thuộc kiểu đỉnh phẳng, vương miện hình vòm thuôn.

Hội đường Paradesi, Kochi, Ấn Độ (xây năm 1568): Tủ Thánh sau màn đỏ, bục đọc có lan can đồng ở giữa, đèn chùm thủy tinh và nền gạch sứ vẽ tay.
Hội đường Paradesi, Kochi, Ấn Độ (xây năm 1568): Tủ Thánh sau màn đỏ, bục đọc có lan can đồng ở giữa, đèn chùm thủy tinh và nền gạch sứ vẽ tay.Ảnh: Pinakpani, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Hộp đựng Torah (tik) bọc bạc, trên có vương miện, thế kỷ 19, của cộng đồng Do Thái Cochin, Ấn Độ. Trưng bày tại nhà di sản Do Thái Cochin ở làng Nevatim, Israel.
Hộp đựng Torah (tik) bọc bạc, trên có vương miện, thế kỷ 19, của cộng đồng Do Thái Cochin, Ấn Độ. Trưng bày tại nhà di sản Do Thái Cochin ở làng Nevatim, Israel.Ảnh: Danny-w, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Paradesi Synagogue. Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com).

Khai Phong, Trung Quốc (đã mất)

Một tấm bia ghi hội đường Khai Phong lập năm 1163, mang tên Thanh Chân Tự, là tên người Trung Hoa vẫn gọi các thánh đường Hồi giáo. Sau trận lụt sông Hoàng Hà năm 1642, cộng đồng dựng lại hội đường và chép lại mười ba cuộn kinh. Hội đường bị dỡ trong khoảng năm 1850 tới 1866. Hình ảnh còn lại là các bản vẽ năm 1722 của giáo sĩ Jean Domenge. Theo chú giải bản vẽ, giữa điện có một bàn lễ đặt lư hương, bình hoa và chân nến theo lối Trung Hoa, và một chiếc ghế gọi là Ghế Moses, nơi đặt cuộn Torah khi đọc.

Bên trong hội đường Khai Phong, Trung Quốc, bản vẽ năm 1722 của giáo sĩ dòng Tên Jean Domenge. Hội đường không còn. Bản in lại trong sách Chinese Jews của William Charles White.
Bên trong hội đường Khai Phong, Trung Quốc, bản vẽ năm 1722 của giáo sĩ dòng Tên Jean Domenge. Hội đường không còn. Bản in lại trong sách Chinese Jews của William Charles White.Ảnh: Pere Jean Domenge, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Kaifeng Jews. Wikimedia Commons, trang tệp bản vẽ hội đường Khai Phong của Jean Domenge (chú giải các số trong bản vẽ).

Neolog và Cải cách

Thế kỷ 19, các giáo đoàn cấp tiến đưa vào hội đường những thứ trước đó không có. Hội đường phố Dohány ở Budapest, xây năm 1854 tới 1859 theo thiết kế của Ludwig Förster, có khoảng 3.000 chỗ và là hội đường lớn nhất châu Âu. Giáo đoàn theo phái Neolog. Lòng nhà chia ba gian dọc như một vương cung thánh đường Kitô giáo, và có cả đàn ống, điều hiếm thấy trong hội đường. Ở các hội đường Cải cách và Bảo thủ thời nay, bục đọc được đưa lên phía trước, ngay trước Tủ Thánh. Britannica nêu Temple Emanu-El ở New York làm ví dụ về hội đường Cải cách.

Hội đường phố Dohány, Budapest, xây năm 1854 tới 1859: ba gian dọc như một vương cung thánh đường, Tủ Thánh ở cuối, hai bên là các tầng ban công.
Hội đường phố Dohány, Budapest, xây năm 1854 tới 1859: ba gian dọc như một vương cung thánh đường, Tủ Thánh ở cuối, hai bên là các tầng ban công.Ảnh: Epistola8, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Thánh đường Temple Emanu-El, Manhattan, New York, của một giáo đoàn Cải cách. Tủ Thánh và bục giảng cùng nằm ở phía trước, ghế xếp thành hàng nhìn lên.
Thánh đường Temple Emanu-El, Manhattan, New York, của một giáo đoàn Cải cách. Tủ Thánh và bục giảng cùng nằm ở phía trước, ghế xếp thành hàng nhìn lên.Ảnh: Rhododendrites, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Dohány Street Synagogue. College of Charleston, The Life of the Synagogue: Inside the Synagogue. Britannica, Synagogue.

VIIVật Thánh Trong Nhà Người Do Thái

Nhà người Do Thái không có bàn thờ và không có ảnh thờ. Đời sống đạo trong nhà đi qua những vật dùng cho từng điều răn: gắn lên cửa, thắp lên bàn ăn, khoác lên người lúc cầu nguyện.

Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Mezuzah

Nhận ra: Hộp nhỏ gắn nghiêng trên khung cửa bên phải

Mezuzah gồm một cuộn da nhỏ và chiếc hộp đựng. Cuộn da do người chép kinh viết tay hai đoạn sách Đệ Nhị Luật (6:4 tới 9 và 11:13 tới 21), trong đó có kinh Shema. Hộp thì làm bằng gì, cỡ nào, hình gì cũng được. Mặt sau cuộn da ghi chữ Shaddai, một danh xưng của Thượng Đế. Ba chữ cái của danh xưng ấy còn được đọc là chữ đầu của câu Đấng gìn giữ các cửa của Israel. Mezuzah gắn ở bên phải khi bước vào, khoảng một phần ba phía trên khung cửa. My Jewish Learning nhấn rằng đây là dấu nhắc về Giao Ước, không phải bùa hộ thân.

Một hộp mezuzah gắn nghiêng trên khung cửa ở đường Jaffa, Jerusalem. Trên hộp có ngôi sao sáu cánh.
Một hộp mezuzah gắn nghiêng trên khung cửa ở đường Jaffa, Jerusalem. Trên hộp có ngôi sao sáu cánh.Ảnh: zeevveez from Jerusalem, Israel, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: My Jewish Learning, Mezuzah. Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Nến Shabbat

Nhận ra: Hai chân nến trên bàn ăn chiều thứ Sáu

Nến được thắp trước khi ngày Shabbat và các ngày lễ bắt đầu, để tôn kính ngày thánh. Nến thường đặt ở nơi ăn bữa lễ. Người phụ nữ đã lập gia đình thắp hai ngọn hoặc nhiều hơn.

Đôi chân nến Shabbat, Nga, năm 1862. Một đôi vợ chồng nhận làm quà cưới năm 1868 ở Ba Lan rồi mang sang Texas. Bộ sưu tập MSJE.
Đôi chân nến Shabbat, Nga, năm 1862. Một đôi vợ chồng nhận làm quà cưới năm 1868 ở Ba Lan rồi mang sang Texas. Bộ sưu tập MSJE.Ảnh: Oleg Yunakov, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Ly kiddush

Nhận ra: Chiếc ly dành riêng cho lời chúc tụng trên rượu

Đầu bữa ăn ngày Shabbat và ngày lễ, người ta đọc lời kiddush trên một ly rượu nho hoặc nước nho. Chiếc ly dành cho việc này tiếng Yiddish gọi là becher.

Ly kiddush bằng bạc chạm, Nga. Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Do Thái Hoa Kỳ.
Ly kiddush bằng bạc chạm, Nga. Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Do Thái Hoa Kỳ.Ảnh: Wmpearl, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Bộ havdalah

Nhận ra: Nến bện nhiều tim và hộp hương liệu

Khi ngày Shabbat kết thúc, người ta đọc lời cầu nguyện trên hương liệu thơm gọi là besamim và trên ngọn lửa của một cây nến bện nhiều tim.

Hộp hương liệu dùng trong lễ havdalah, hình tháp có cờ, khoảng năm 1920. Bảo tàng Brooklyn, New York.
Hộp hương liệu dùng trong lễ havdalah, hình tháp có cờ, khoảng năm 1920. Bảo tàng Brooklyn, New York.Ảnh: Brooklyn Museum, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Đĩa seder

Nhận ra: Đĩa tròn lớn bày các món tượng trưng đêm lễ Vượt Qua

Trong bữa seder của lễ Vượt Qua, một chiếc khay tròn bày sáu món ăn mang ý nghĩa nghi lễ, cùng ba tấm bánh không men matzah.

Đĩa seder của lễ Vượt Qua, làm ở Đức, thế kỷ 18, theo người Do Thái di cư sang Mỹ. Bảo tàng Lịch sử Hoa Kỳ Smithsonian, Washington.
Đĩa seder của lễ Vượt Qua, làm ở Đức, thế kỷ 18, theo người Do Thái di cư sang Mỹ. Bảo tàng Lịch sử Hoa Kỳ Smithsonian, Washington.Ảnh: Rania al-Bahara, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Đèn Hanukkah

Nhận ra: Đèn chín nhánh, mỗi đêm thắp thêm một ngọn

Đèn có chín chỗ thắp, trong đó một chỗ dành cho ngọn mồi shammash. Mỗi đêm trong tám đêm lễ, người ta thắp thêm một ngọn.

Đèn lễ Hanukkah bằng bạc, Hamburg, Đức, thế kỷ 17. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Đèn lễ Hanukkah bằng bạc, Hamburg, Đức, thế kỷ 17. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home. Britannica, Menorah.

Tallit và tefillin

Nhận ra: Khăn choàng có tua ở bốn góc, hai hộp da đen có dây

Tallit là khăn choàng cầu nguyện có tua, thường bằng len trắng có sọc màu. Tefillin là hai hộp da đựng mảnh da chép bốn đoạn kinh, một hộp đeo trên đầu, một hộp buộc vào cánh tay. Theo Chabad, một trang Chính thống, nam giới khoác tallit trong buổi cầu nguyện sáng và đeo tefillin trong các buổi cầu nguyện ngày thường.

Một tấm khăn choàng cầu nguyện (tallit) có sọc và tua, hiện vật bảo tàng. Trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.
Một tấm khăn choàng cầu nguyện (tallit) có sọc và tua, hiện vật bảo tàng. Trang ảnh gốc không ghi tên bảo tàng và niên đại.Ảnh: Oleg Yunakov, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Một bộ tefillin kiểu Sephardi: hai hộp da đen cùng dây da, một hộp đeo trên đầu, một hộp buộc vào cánh tay.
Một bộ tefillin kiểu Sephardi: hai hộp da đen cùng dây da, một hộp đeo trên đầu, một hộp buộc vào cánh tay.Ảnh: クフィ, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home.

Tấm mizrah

Nhận ra: Tấm tranh hay giấy cắt ghi chữ Đông

Mizrah nghĩa là phía đông. Ở các nước phương Tây, hướng về Jerusalem là hướng đông, nên Tủ Thánh nằm ở tường đông. Tấm mizrah trong ảnh là giấy cắt của Joseph A. Michael, khoảng năm 1870: giữa là một trái tim ghi chữ Đông mọc lên từ một chiếc đèn Hanukkah, hai bên có hai sư tử đứng trên cây hoa, bốn góc là hoa thị. Đây là một ví dụ về hình thú trong nghệ thuật dân gian Do Thái.

Tấm mizrah cắt giấy của Joseph A. Michael, Hoa Kỳ, khoảng năm 1870. Giữa tấm là trái tim ghi chữ Đông, hai bên có hai sư tử. Bảo tàng Do Thái, New York.
Tấm mizrah cắt giấy của Joseph A. Michael, Hoa Kỳ, khoảng năm 1870. Giữa tấm là trái tim ghi chữ Đông, hai bên có hai sư tử. Bảo tàng Do Thái, New York.Ảnh: Joseph A. Michael, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Do Thái New York, Mizrah của Joseph A. Michael. Jewish Virtual Library, Ark.

VIIIBức Tường Phía Tây: Nơi Cầu Nguyện, Không Phải Vật Thờ

Bức Tường Phía Tây (Kotel) ở Thành Cổ Jerusalem là phần còn lại duy nhất của bức tường chắn bao quanh Núi Đền, nơi từng có Đền Thờ thứ nhất và thứ hai. Phần lộ trên mặt đất dài khoảng 50 mét, cao khoảng 20 mét, phần chìm dưới đất còn sâu hơn nhiều. Bức tường đứng vững qua lần quân La Mã phá Đền Thờ thứ hai năm 70. My Jewish Learning gọi đây là nơi thánh nhất của Do Thái giáo.

Nguồn: Britannica, Western Wall. My Jewish Learning, The Western Wall.

Người Do Thái tới đây để cầu nguyện, để thương tiếc Đền Thờ đã mất và cầu cho Đền Thờ được dựng lại. Có tục viết lời cầu xin lên giấy rồi cài vào khe đá. Tên Bức Tường Than Khóc là do du khách châu Âu đặt khi thấy cảnh người Do Thái khóc thương ở đó.

Nguồn: Britannica, Western Wall.
Người Do Thái có thờ bức tường không

Không. Chabad viết rõ đây là một hiểu lầm: người Do Thái không thờ bức tường mà cầu nguyện tại đó, hướng lên Thượng Đế. Sự thánh của nơi này đến từ Núi Đền, nơi theo truyền thống Thượng Đế đã chọn làm chỗ ngự từ thời vua David. Truyền thống Do Thái còn nói Sự Hiện Diện của Thượng Đế không bao giờ rời Bức Tường Phía Tây.

Nguồn: Chabad.org, bài giải đáp vì sao người Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Phía Tây. Britannica, Western Wall.
Bức Tường Phía Tây (Kotel) và quảng trường cầu nguyện, Thành Cổ Jerusalem, ảnh chụp năm 2012.
Bức Tường Phía Tây (Kotel) và quảng trường cầu nguyện, Thành Cổ Jerusalem, ảnh chụp năm 2012.Ảnh: Jorge Láscar from Australia, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Người Do Thái cầu nguyện trước Bức Tường Phía Tây, ảnh của Félix Bonfils, thập niên 1870.
Người Do Thái cầu nguyện trước Bức Tường Phía Tây, ảnh của Félix Bonfils, thập niên 1870.Ảnh: Félix Bonfils, Public domain, Wikimedia Commons

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc nguồn qua mạng và chưa đối chiếu với nguyên bản Hebrew của Talmud, Mishneh Torah và Shulchan Arukh. Các điều luật trên trang là theo lời tóm của My Jewish Learning, Jewish Action, Torah.org và Jewish Virtual Library.
·Thư viện chưa tìm được nguồn tiếng Việt của chính cộng đồng Do Thái tại Việt Nam. Các tên gọi tiếng Việt trên trang (Tủ Thánh, đèn vĩnh cửu, bục đọc, tấm che ngực, que chỉ chữ) là do thư viện dịch, kèm tên Hebrew để người đọc đối chiếu.
·Niên đại nền khảm Beit Alpha: Jewish Virtual Library ghi thế kỷ 5 tới 6 và dẫn dòng chữ nhắc hoàng đế Justin. Một bài trên My Jewish Learning lại ghi thế kỷ 4. Trang này theo Jewish Virtual Library.
·Niên đại sách Haggadah Đầu Chim: Wikipedia ghi khoảng năm 1300, một bài trên My Jewish Learning ghi thế kỷ 12. Thư viện chưa mở được trang của Bảo tàng Israel để đối chiếu.
·Hộp tik là của ai: My Jewish Learning viết chung là người Sephardi cất Torah trong hộp. Encyclopaedia Judaica ghi kỹ hơn rằng hộp là lệ của các cộng đồng phương Đông và quanh đông Địa Trung Hải, còn người Sephardi ở Morocco, Algeria và Tây Âu dùng áo vải. Trang này theo Encyclopaedia Judaica.
·Hội đường Wołpa bị phá năm nào: Wikipedia ghi tháng 11 năm 1942, trang ảnh trên Wikimedia Commons ghi năm 1940 và 1941. Thư viện không đăng ảnh tủ của hội đường này vì trong ảnh có một tấm bảng viết lớn Thánh Danh bốn chữ.
·Bàn tay trong tranh Dura-Europos là dấu chỉ sự can thiệp của Thượng Đế, không phải hình Thượng Đế. Ảnh trên trang chụp cả hốc Torah, không cận cảnh chi tiết này. Nền khảm Beit Alpha có hình Helios ở giữa vòng hoàng đạo, ảnh trên trang chụp cả nền, không cận cảnh. Nếu cộng đồng thấy vẫn chưa nên, xin báo để thư viện gỡ.
·Mấy hiện vật chỉ có thông tin từ người chụp ảnh: áo Torah và tấm tallit (không rõ bảo tàng), hộp tik Cochin, đĩa seder, ly kiddush, đôi chân nến năm 1862, đèn vĩnh cửu Oświęcim. Thư viện chưa đối chiếu với hồ sơ của bảo tàng.
·Đôi chóp Torah làm ở Tiflis: Bảo tàng Metropolitan ghi năm 1895, trang ảnh trên Commons ghi năm 1896.
·Hội đường Worms, hội đường mới Bochum và thánh đường Temple Emanu-El: thư viện chưa mở được nguồn riêng cho từng nơi nên chú thích ảnh chỉ tả những gì thấy trong ảnh.
·Tục treo tấm mizrah trong nhà: thư viện mới đọc được trang hiện vật của Bảo tàng Do Thái New York, chưa đọc được một bài riêng về tục này.
·Lệ đặt hai bia Mười Điều Răn phía trên tủ: Jewish Virtual Library ghi bắt đầu từ Amsterdam thế kỷ 17. Thư viện chưa có nguồn thứ hai.
·Niên đại Bức Tường Phía Tây: Britannica ghi tường có từ khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên, phần trên xây thêm về sau. Thư viện chưa có nguồn thứ hai nên trang này không ghi năm xây.
·Còn thiếu ảnh có giấy phép mở cho một số nơi: bên trong một hội đường Yemen, một hội đường Mizrahi ở Iraq hay Iran, một tấm mechitzah, một hội đường Bảo thủ.

Bạn là người Do Thái, rabbi hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Dura Synagogue ciborium.jpg · Marsyas · Public domain
2Dura-Europos archival photograph, Synagogue, west wall, aedicula, general view Synagogue.jpg · Yale University Art Gallery · CC0
3Beit Alfa Synagogue Mosaic.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
4Bowl Fragments with Menorah, Shofar, and Torah Ark MET DP355178.jpg · Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art · CC0
5Menorah symbol at Ostia Antica synagogue.jpg · Ethan Doyle White · CC BY-SA 4.0
6Scribe- Menahem - The Birds' Head Haggadah - Google Art Project.jpg · Người chép Menahem · Public domain
7Hobart Synagogue Aron Kodesh.jpg · CutOffTies · CC0
8Old Synagogue, interior-Torah ark (Aron ha-Kodesh), 24 Szeroka Street, Kazimierz, Kraków, Poland.jpg · Jeremiah Z. Cockroach · CC BY-SA 4.0
9Isaac Synagogue, interior-Aron ha-Kodesh (Torah ark), 14 Kupa Street, Kazimierz, Kraków, Poland.jpg · Jeremiah Z. Cockroach · CC BY-SA 4.0
10Leah Ottolenghi - Torah Ark Curtain - Google Art Project.jpg · Leah Ottolenghi · Public domain
11Lampa Ner Tamid z Wielkiej Synagogi w Oświęcimiu, MŻ 9 (1).jpg · RDW MIC · Public domain
12Pair of Torah finials (rimonim) MET DP340658.jpg · A.M. · CC0
13Torah crown (keter) MET DP334408.jpg · Andrea Zambelli · CC0
14Torah shield by Elimelekh Tzoref, 1781-1782, Museum of Fine Arts, Boston.jpg · Hiart · CC0
15Torah Pointer (Yad), ca. 1800 (CH 18453553).jpg · Không rõ tác giả · Public domain
16Torah mantle and rimonim - 01.jpg · Oleg Yunakov · CC BY-SA 4.0
17Bochum Synagoge 2.jpg · Reclus · CC0
18Hobart Synagogue Torahs.jpg · CutOffTies · CC0
19Cochin Jewish Heritage 06.jpg · Danny-w · CC BY-SA 3.0
20Yemenite Torah case with finials.jpg · Zev Radovan · CC BY-SA 4.0
21Hanukkah lamp MET DP236471.jpg · Không ghi tác giả, The Metropolitan Museum of Art · CC0
22Beesaal Synagoge Worms. Lesepult (Bima).jpg · HOWI - Horsch, Willy · CC BY-SA 3.0
23Interior of the Old New Synagogue in Prague.jpg · Mattsjc · CC BY-SA 4.0
24Interior-Santa María-La-Blanca-synagogue-Toledo-1.jpg · Acediscovery · CC BY 4.0
25RoyLindmanElTransitoSynagogue 003.jpg · Roy Lindman · CC BY-SA 3.0
26Interieur van de Portugese synagoge te Amsterdam Rijksmuseum SK-A-3738.jpeg · Emanuel de Witte · Public domain
27Portuguese synagogue in Amsterdam (17255631811).jpg · Chajm Guski from Germany · CC BY-SA 2.0
28Interior of the Paradesi Synagogue (Mattancherry Synagogue) at Kochi 04.jpg · Pinakpani · CC BY 4.0
29Interior of kaifeng synagogue-1-.JPG · Pere Jean Domenge · Public domain
30Dohány Street Synagogue, inside.jpg · Epistola8 · CC BY-SA 4.0
31Magnificant Touro Synagogue large.6 17 15.jpg · S.d.touro · CC BY-SA 4.0
32Warszawa - synagoga z Gwoźdźca 2.JPG · Pudelek · CC BY-SA 4.0
33Spanish Synagogue, view toward the ark.jpg · Markhole · CC BY-SA 4.0
34Congregation Emanu-El (05320p).jpg · Rhododendrites · CC BY-SA 4.0
35Mezuzah with Star of David (3580841449).jpg · zeevveez from Jerusalem, Israel · CC BY 2.0
36Shabbat Candlesticks, Russia, 1862.jpg · Oleg Yunakov · CC BY-SA 4.0
37Kiddush cup from Russia, engraved sterling silver, National Museum of American Jewish History.JPG · Wmpearl · CC0
38Spice container Brooklyn Museum.jpg · Brooklyn Museum · CC BY 3.0
39Smithsonian Seder plate.jpg · Rania al-Bahara · CC0
40Tallit.jpg · Oleg Yunakov · CC BY-SA 4.0
41Sephardic Tefillin.jpg · クフィ · CC BY-SA 4.0
42Mizrah Joseph A. Michael 1870.jpg · Joseph A. Michael · Public domain
43Western Wall Plaza (10804490996).jpg · Jorge Láscar from Australia · CC BY 2.0
44Jews at Western Wall by Felix Bonfils, 1870s.jpg · Félix Bonfils · Public domain

XINguồn

1Sefaria, sách Xuất Hành 20:4 tới 5 (bản Hebrew và bản dịch Anh)
2My Jewish Learning, Ask the Expert: Graven Images
3My Jewish Learning, Jewish Art in the Ancient World
4Jewish Action (Orthodox Union), Rabbi Akiva Males, Chocolate and Eagles and Lions, Oh My
5Wikipedia, Dura-Europos synagogue
6Britannica, Dura-Europus
7Jewish Virtual Library, Beit Alpha
8Wikipedia, Birds' Head Haggadah
9Bảo tàng Metropolitan, Bowl Fragments with Menorah, Shofar, and Torah Ark (18.145.1a, b)
10My Jewish Learning, Synagogue Layout
11Chabad.org, What Is a Synagogue
12Chabad.org, Ner Tamid: The Eternal Light
13Jewish Virtual Library, Ark
14Jewish Virtual Library, Bimah
15College of Charleston, The Life of the Synagogue: Inside the Synagogue
16Wikipedia, Synagogue architecture
17Encyclopaedia Judaica, mục Torah Ornaments (đăng lại trên Encyclopedia.com)
18Jewish Virtual Library, The Torah: Breastplate
19Bảo tàng Metropolitan, Pair of Torah finials (rimonim) (2013.444.1, .2)
20Bảo tàng Metropolitan, Jews and the Decorative Arts in Early Modern Italy
21Bảo tàng Do Thái New York, Torah Ark Curtain (F 3432)
22Bảo tàng Do Thái New York, Mizrah của Joseph A. Michael
23Britannica, Menorah
24Torah.org, Rabbi Doniel Neustadt, Weekly Halacha: chân đèn bảy nhánh
25My Jewish Learning, Star of David
26Britannica, Star of David
27Britannica, Synagogue
28Wikipedia, Old New Synagogue
29Wikipedia, Old Synagogue (Kraków)
30Wikipedia, Izaak Synagogue
31Wikipedia, Hobart Synagogue
32Wikipedia, Wooden synagogue
33Wikipedia, Gwoździec Synagogue
34Wikipedia, Wołpa Synagogue
35Wikipedia, Synagogue of Santa María la Blanca
36Wikipedia, Synagogue of El Tránsito
37Wikipedia, Portuguese Synagogue (Amsterdam)
38Touro Synagogue (trang của hội đường), History
39Wikipedia, Spanish Synagogue (Venice)
40Wikipedia, Paradesi Synagogue
41Wikipedia, Kaifeng Jews
42Wikimedia Commons, trang tệp bản vẽ hội đường Khai Phong của Jean Domenge (chú giải các số trong bản vẽ)
43Wikipedia, Dohány Street Synagogue
44My Jewish Learning, Mezuzah
45Chabad.org, 19 Ritual Items Found in a Jewish Home
46Britannica, Western Wall
47Chabad.org, bài giải đáp vì sao người Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Phía Tây
48My Jewish Learning, The Western Wall

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao hội đường Do Thái không có tượng

Điều Răn thứ hai trong sách Xuất Hành cấm làm tượng chạm và mọi hình để cúi lạy. Do Thái giáo không tạc, không vẽ Thượng Đế. Chỗ trang trọng nhất của hội đường là Tủ Thánh, nơi cất các cuộn Torah chép tay.

Người Do Thái có thờ cuộn Torah hay Bức Tường Phía Tây không

Không. Cuộn Torah được tôn kính vì là lời dạy, được mặc áo, đội vương miện và mọi người đứng dậy khi tủ mở, nhưng lời cầu nguyện chỉ hướng lên Thượng Đế. Chabad viết rõ rằng người Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Phía Tây chứ không thờ bức tường.

Menorah bảy nhánh khác đèn Hanukkah chín nhánh thế nào

Chân đèn bảy nhánh là chân đèn của Lều Tạm và Đền Thờ Jerusalem, nay là một biểu tượng của dân Do Thái. Đèn Hanukkah có chín nhánh: tám nhánh cho tám đêm lễ và một nhánh cho ngọn nến mồi. Luật Do Thái còn hạn chế việc làm bản sao đúng chân đèn Đền Thờ.

Do Thái giáo có cấm mọi hình vẽ không

Không hẳn. Hội đường Dura-Europos thế kỷ 3 có tranh tường kể truyện Kinh Thánh, nền khảm Beit Alpha thế kỷ 6 có vòng hoàng đạo. Bộ luật Shulchan Arukh chặt với tượng tròn và phù điêu, và cho phép tranh phẳng với một số điều kiện. Trong đạo có nhiều cách hiểu, nhất là về hình thú trong hội đường.

Ngôi sao David có từ thời Kinh Thánh không

Các nguồn đã đọc không nói thế. Britannica ghi hình sao sáu cánh thời cổ là dấu hiệu ma thuật hoặc hoa văn. Theo My Jewish Learning, nó gắn với cộng đồng Do Thái rõ dần từ thế kỷ 17 và được Đại hội Phục quốc Do Thái chọn làm biểu tượng năm 1897.

Vì sao cuộn Torah có nơi mặc áo vải, có nơi nằm trong hộp

Đó là khác biệt giữa các truyền thống. Người Ashkenazi và nhiều cộng đồng Sephardi mặc áo vải cho cuộn sách. Các cộng đồng phương Đông như Iraq, Iran, Yemen, Cochin cất cuộn sách trong một hộp cứng gọi là tik và đọc ngay trong hộp.

›Đọc Tiếp