VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Nho Giáo

· Tượng, bài vị và chân dung Khổng Tử

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
47
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Nước và vùng
5
Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản
Nguồn
50
trang chính thức của Văn Miếu, bảo tàng, UNESCO, tạp chí nghiên cứu

Trang này gom hình thờ của Nho giáo: trong văn miếu người ta đặt gì ở chính giữa, vì sao có nơi là tượng, có nơi chỉ là một tấm bài vị, Đức Khổng Tử được vẽ ra sao, bốn vị Tứ Phối là ai, và điện Đại Thành bày thế nào. Thư viện dùng ảnh chụp tượng, tranh và bài vị thật đang ở miếu hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh hiền. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Phần Văn Miếu Quốc Tử Giám theo trang chính thức của di tích.

ITượng Hay Bài Vị

Người vào một ngôi chùa sẽ gặp tượng. Người vào một văn miếu thì có nơi gặp tượng, có nơi chỉ gặp một thẻ gỗ ghi tên. Thẻ gỗ ấy là bài vị, còn gọi là thần vị (神位). Vì sao có hai cách thờ là câu chuyện chính của hình thờ Nho giáo, và nó có mốc thời gian rõ ràng: năm 1530.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.

Theo nhà nghiên cứu Julia K. Murray, cho tới năm 1530 các miếu do triều đình dựng trên khắp Trung Hoa đều thờ tượng Khổng Tử cùng một số học trò và hậu Nho, mỗi năm tế hai kỳ. Mũ áo của tượng làm theo tước hiệu mà các hoàng đế truy phong, giống cách tạc tượng các vị thần của Đạo giáo và Phật giáo. Chính sự giống nhau ấy khiến các nhà Nho chuyên về lễ phản đối.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).

Cuộc cải cách lễ năm 1530, đời Gia Tĩnh nhà Minh, thay tượng bằng bài vị có khắc chữ. Tước vương của Khổng Tử cũng được đổi thành danh hiệu Chí Thánh Tiên Sư. Wikipedia ghi thêm rằng trước đó Minh Thái Tổ đã lệnh cho các miếu mới dựng chỉ đặt bài vị, và việc thờ tượng từng bị chê là bắt chước chùa Phật.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.
Bài vị Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh của John Thomson, thế kỷ 19. Không có tượng. Phía trên là bức hoành "Vạn thế sư biểu", phía trước là hương án.
Bài vị Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh của John Thomson, thế kỷ 19. Không có tượng. Phía trên là bức hoành "Vạn thế sư biểu", phía trước là hương án.Ảnh: John Thomson, Public domain, Wikimedia Commons
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh chụp năm 2026: khám thờ đặt bài vị, không có tượng.
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh chụp năm 2026: khám thờ đặt bài vị, không có tượng.Ảnh: 호고호, CC0, Wikimedia Commons
Tượng Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, ảnh chụp năm 2017. Trước tượng có đặt bài vị. Tượng hiện nay là tượng làm lại, tượng cũ đã mất.
Tượng Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, ảnh chụp năm 2017. Trước tượng có đặt bài vị. Tượng hiện nay là tượng làm lại, tượng cũ đã mất.Ảnh: 三猎, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Khám thờ giữa điện Đại Thành ở Khúc Phụ, phía trên treo bức hoành "Vạn thế sư biểu". Ảnh chụp năm 2015.
Khám thờ giữa điện Đại Thành ở Khúc Phụ, phía trên treo bức hoành "Vạn thế sư biểu". Ảnh chụp năm 2015.Ảnh: Zhangzhugang, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Lệnh bỏ tượng không áp dụng cho ngôi miếu gốc ở Khúc Phụ, quê Khổng Tử, nơi con cháu họ Khổng trông coi. Sau năm 1530, các sách địa chí còn in lại bản vẽ pho tượng ở Khúc Phụ, và theo bà Murray, chính những bản in ấy giúp việc thờ Khổng Tử lan rộng trong dân.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.
Vì sao bỏ tượng: các nguồn nói khác nhau

Bà Murray nêu lý do về lễ: tượng Khổng Tử trông quá giống tượng thần của đạo khác. Ông Ho Wei-hsuan thì cho rằng Trương Thông, người thi hành cuộc cải cách năm 1530, hành động vì tính toán chính trị, còn đề xuất gốc của Trình Mẫn Chính năm 1488 mới dựa trên kinh học. Một trang của chính quyền thành phố Đào Viên (Đài Loan) giải thích theo cách khác: sách Luận Ngữ chép rằng Khổng Tử không nói chuyện quái, lực, loạn, thần, nên trong Khổng miếu chỉ thờ bài vị có chữ. Thư viện ghi cả ba cách giải thích và không chọn bên nào.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Ho Wei-hsuan, Confucian Temple Reform in the Mid-Ming, Tsing Hua Journal of Chinese Studies 47 số 1, 2017 (tóm tắt). Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu.
NơiThờ bằng gìGhi chú theo nguồn
Khổng miếu Khúc Phụ, Trung QuốcTượng, trước tượng có bài vịMiếu gốc, không thuộc lệnh năm 1530. Tượng cũ đã mất, tượng nay là tượng làm lại
Khổng miếu Bắc Kinh, Trung QuốcBài vịJohn Thomson tả một thẻ gỗ trơn, khắc chữ Mãn và chữ Hán
Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà NộiTượng và bài vịTượng Khổng Tử ở gian giữa, phía sau là khám thờ có bài vị
Văn Miếu HuếBài vịNăm 1808 vua Gia Long cho thay tượng bằng bài vị
Văn miếu ở Seoul, Hàn QuốcBài vịĐại Thành Điện thờ bài vị Khổng Tử và các bậc hiền
Các Khổng miếu ở Đài LoanBài vịChính quyền Đào Viên viết rằng Khổng miếu chỉ thờ bài vị có chữ
Yushima Seidō, Tokyo, Nhật BảnTượngTượng Khổng Tử và tượng Tứ Phối
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius, Qufu. Wikimedia Commons, trang tệp ảnh của John Thomson, kèm lời tả của ông (dẫn Thư viện Beinecke). Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành. Wikipedia, Văn miếu (Huế). Đại học Sungkyunkwan, A Tradition of Excellence. Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu. Wikipedia, Yushima Seidō.

Ngày nay tượng Khổng Tử lại xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng thường là tượng đứng ngoài sân chứ không phải tượng thờ trong điện. Bà Murray ghi rằng các tượng mới này dựa trên hình ảnh Khổng Tử là người thầy, làm trước hết ở Đài Loan, rồi Hồng Kông và cộng đồng người Hoa ở các nước, sau cùng mới tới Trung Quốc đại lục.

Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).
Tượng đá Khổng Tử đứng chắp tay ngoài sân Khổng miếu Bắc Kinh, làm theo dáng bức "hành giáo". Tượng mới. Bệ khắc chữ "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng".
Tượng đá Khổng Tử đứng chắp tay ngoài sân Khổng miếu Bắc Kinh, làm theo dáng bức "hành giáo". Tượng mới. Bệ khắc chữ "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng".Ảnh: Mx. Granger, CC0, Wikimedia Commons
Tượng Khổng Tử và hai trong bốn vị Tứ Phối ở Khổng miếu Hàng Châu. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2009.
Tượng Khổng Tử và hai trong bốn vị Tứ Phối ở Khổng miếu Hàng Châu. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2009.Ảnh: G41rn8, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

IIChân Dung Đức Khổng Tử

Không có bức tranh hay pho tượng nào làm từ lúc Khổng Tử còn sống truyền lại tới nay. Hình Khổng Tử chỉ bắt đầu được vẽ từ thời Hán. Bức sớm nhất hiện biết tìm thấy trong mộ Hải Hôn hầu, người mất năm 59 trước Công nguyên. Vì vậy mọi chân dung về sau đều là hình dung của người đời sau. Mỗi kiểu chân dung cho thấy một cách nhìn về Ngài: người thầy, vị quan, hay bậc vương giả.

Nguồn: Wikipedia, Confucius. Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).

Khổng Tử hành giáo

先師孔子行教像Nhận ra: Đứng, hơi nghiêng mình, hai tay chắp trước ngực, áo dài tay rộng, râu dài

Đây là hình Khổng Tử quen mắt nhất, gặp trên sách, trên tượng đá ở sân trường và sân miếu. Hình này truyền qua các bản rập bia đá. Bia thường được ghi là theo tranh của Ngô Đạo Tử, họa sĩ đời Đường. Bảo tàng Penn viết rằng không còn bản gốc nào của Ngô Đạo Tử, nên không thể xác nhận. Asia Society cho rằng tấm bia có lẽ được khắc vào đời Minh, khoảng niên hiệu Chính Đức hoặc Gia Tĩnh. Bài tán khắc kèm là của Trần Phượng Ngô (1475 tới 1541).

Bản rập bia đá bức "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng", Khổng Tử đứng chắp tay. Trang ảnh gốc ghi tên Ngô Đạo Tử đời Đường. Bảo tàng Penn nói không còn bản gốc nào của họa sĩ này nên chưa thể xác nhận.
Bản rập bia đá bức "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng", Khổng Tử đứng chắp tay. Trang ảnh gốc ghi tên Ngô Đạo Tử đời Đường. Bảo tàng Penn nói không còn bản gốc nào của họa sĩ này nên chưa thể xác nhận.Ảnh: Wu Daozi, 685-758, Tang Dynasty., Public domain, Wikimedia Commons
Tượng đá Khổng Tử đứng chắp tay ngoài sân Khổng miếu Bắc Kinh, làm theo dáng bức "hành giáo". Tượng mới. Bệ khắc chữ "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng".
Tượng đá Khổng Tử đứng chắp tay ngoài sân Khổng miếu Bắc Kinh, làm theo dáng bức "hành giáo". Tượng mới. Bệ khắc chữ "Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng".Ảnh: Mx. Granger, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Penn, bản rập Portrait of the First Teacher, Confucius, Propagating his Teachings (29-25-21). Asia Society, Visible Traces, Portrait of Confucius (bản rập). Thư viện Đại học Melbourne, Confucian Stone Rubbings.

Chân dung bán thân thời Nguyên

至聖先賢半身像Nhận ra: Nửa người, khăn vải trùm đầu, râu dài, nhãn giấy ghi tước hiệu ở góc trên

Tập tranh gồm sáu mươi tờ, vẽ 120 bậc Nho từ thời Xuân Thu tới thời Nguyên. Tờ đầu vẽ Khổng Tử, nhãn ghi "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương". Căn cứ vào các tước hiệu trên nhãn, tập tranh được cho là làm sau năm 1330.

Khổng Tử, tờ đầu của tập tranh "Chí Thánh Tiên Hiền bán thân tượng", mực và màu trên giấy, 33,3 x 24,3 cm. Nhãn trên tranh ghi "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương". Trang ảnh gốc ghi thời Nguyên. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.
Khổng Tử, tờ đầu của tập tranh "Chí Thánh Tiên Hiền bán thân tượng", mực và màu trên giấy, 33,3 x 24,3 cm. Nhãn trên tranh ghi "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương". Trang ảnh gốc ghi thời Nguyên. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikimedia Commons, trang tệp Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old (dẫn Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc).

Khổng Tử yến cư và Khổng Tử làm Tư khấu

Nhận ra: Yến cư: khăn và áo thường. Tư khấu: mũ áo quan, phía trên có bài tán

Bà Murray viết rằng hình Khổng Tử trong dáng người thầy, không mang vẻ thần linh, có gốc từ một bức chân dung truyền trong dòng họ Khổng qua nhiều đời. Hai bức ở đây thuộc nhóm tranh của họ Khổng ở Khúc Phụ. Trang chính thức của Văn Miếu Hà Nội nhắc rằng Khổng Tử từng làm Đại Tư khấu, chức quan coi việc hình pháp của nước Lỗ.

"Khổng Tử yến cư tượng": Khổng Tử lúc nhàn cư, đội khăn, mặc áo thường. Tranh xếp trên Commons vào nhóm chân dung của Bảo tàng Khổng Tử, Khúc Phụ. Trang ảnh gốc không ghi niên đại.
"Khổng Tử yến cư tượng": Khổng Tử lúc nhàn cư, đội khăn, mặc áo thường. Tranh xếp trên Commons vào nhóm chân dung của Bảo tàng Khổng Tử, Khúc Phụ. Trang ảnh gốc không ghi niên đại.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
"Khổng Tử vi Lỗ Tư khấu tượng": Khổng Tử trong mũ áo quan Tư khấu nước Lỗ, phía trên có bài tán. Tranh xếp trên Commons vào nhóm chân dung của Bảo tàng Khổng Tử, Khúc Phụ. Trang ảnh gốc không ghi niên đại.
"Khổng Tử vi Lỗ Tư khấu tượng": Khổng Tử trong mũ áo quan Tư khấu nước Lỗ, phía trên có bài tán. Tranh xếp trên Commons vào nhóm chân dung của Bảo tàng Khổng Tử, Khúc Phụ. Trang ảnh gốc không ghi niên đại.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Khổng Tử.

Khổng Tử trong tranh Nhật Bản và sách châu Âu

Nhận ra: Mỗi nơi vẽ theo mũ áo mình hình dung

Tranh của Kanō Sansetsu vẽ năm 1632, nay ở Bảo tàng Quốc gia Tokyo. Bức in năm 1687 nằm trong cuốn Confucius Sinarum Philosophus, đặt Khổng Tử đứng trước một thư viện. Hai bức này cho thấy hình Khổng Tử đã đi xa tới đâu, chúng không phải hình thờ.

Khổng Tử, tranh của Kanō Sansetsu, Nhật Bản, năm 1632, thuộc một tập vẽ các bậc đại Nho. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Khổng Tử, tranh của Kanō Sansetsu, Nhật Bản, năm 1632, thuộc một tập vẽ các bậc đại Nho. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Kanō Sansetsu (狩野 山雪 1589 - 1651), CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Chân dung Khổng Tử in trong sách Confucius Sinarum Philosophus, năm 1687. Đây là cách người châu Âu thời ấy hình dung Khổng Tử, không phải tranh thờ.
Chân dung Khổng Tử in trong sách Confucius Sinarum Philosophus, năm 1687. Đây là cách người châu Âu thời ấy hình dung Khổng Tử, không phải tranh thờ.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Confucius.

IIITứ Phối Và Các Bậc Tiên Hiền

Khổng Tử không được thờ một mình. Trang chính thức của Văn Miếu Quốc Tử Giám viết: Tứ Phối là bốn vị Thánh được thờ chung với Đức Khổng Tử và được phối hưởng mỗi khi cúng tế. Bốn vị nối nhau thành một dòng truyền đạo: hai học trò của Khổng Tử, cháu nội của Ngài, rồi học trò của người cháu ấy.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối. Wikipedia, Four Sages.

Phục Thánh Nhan Tử

Nhan Hồi, tự Tử UyênNhận ra: Đứng đầu Tứ Phối. Trong tập tranh thời Nguyên, Ngài đội khăn xanh

Người nước Lỗ, học trò được Khổng Tử khen nhất, nổi tiếng an bần lạc đạo: một nắm cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẹp. Ngài mất khi mới 32 tuổi. Gọi là Phục Thánh vì biết sửa mình khôi phục lễ.

Nhan Tử (Nhan Hồi, tự Tử Uyên), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.
Nhan Tử (Nhan Hồi, tự Tử Uyên), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Tượng Nhan Hồi trong Nhan miếu, Khúc Phụ, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2010.
Tượng Nhan Hồi trong Nhan miếu, Khúc Phụ, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2010.Ảnh: Rolfmueller, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối.

Tông Thánh Tăng Tử

Tăng SâmNhận ra: Thường đi cặp với Mạnh Tử trên ban thờ Văn Miếu Hà Nội

Học trò của Khổng Tử, nổi tiếng với câu mỗi ngày ba lần xét lại mình. Sách Đại Học và Hiếu Kinh được coi là do Ngài ghi lại lời thầy. Ngài truyền đạo cho Tử Tư.

Tăng Tử (Tăng Sâm, tự Tử Dư), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.
Tăng Tử (Tăng Sâm, tự Tử Dư), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối.

Thuật Thánh Tử Tư

Khổng CấpNhận ra: Cháu nội Khổng Tử

Con của Khổng Lý, học trò của Tăng Tử, soạn sách Trung Dung. Gọi là Thuật Thánh vì có công truyền thuật tư tưởng của ông nội.

Tử Tư (Khổng Cấp), cháu nội Khổng Tử, cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.
Tử Tư (Khổng Cấp), cháu nội Khổng Tử, cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối.

Á Thánh Mạnh Tử

Mạnh KhaNhận ra: Bậc thánh thứ hai sau Khổng Tử, có miếu riêng ở Trâu Thành

Người đất Trâu, thời Chiến Quốc, học ở trường của Tử Tư. Ngài chủ trương tính thiện và nêu tư tưởng dân vi quý. Sách Mạnh Tử gồm bảy thiên.

Mạnh Tử (Mạnh Kha), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.
Mạnh Tử (Mạnh Kha), cùng tập tranh bán thân. Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Tượng Mạnh Tử trong điện Á Thánh, Mạnh miếu, Trâu Thành, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2011.
Tượng Mạnh Tử trong điện Á Thánh, Mạnh miếu, Trâu Thành, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2011.Ảnh: User:Vmenkov, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối.

Năm sinh, năm mất của bốn vị mỗi nguồn ghi một khác, nên trang này không ghi.

Sau Tứ Phối là ai

Kế Tứ Phối là nhóm các bậc triết. Ở Văn Miếu Hà Nội, trang chính thức ghi điện Đại Thành thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập triết, tức mười vị. Ở Trung Hoa và ở Văn Miếu Huế, nhóm này là mười hai vị. Rồi tới các bậc tiên hiền và tiên Nho, thờ ở hai dãy nhà hai bên sân. Danh sách dài dần theo thời gian: tới thời Dân quốc, Wikipedia ghi tổng cộng 162 vị.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành. Wikipedia, Văn miếu (Huế). Wikipedia, Temple of Confucius.

Con số bảy mươi hai người hiền, quen gọi là Thất thập nhị hiền, là số học trò được coi là nắm được đạo của thầy trong ba nghìn người theo học. Sử cũ chép rằng năm 1070, Văn Miếu Thăng Long đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, còn bảy mươi hai vị hiền thì vẽ hình để thờ.

Nguồn: Wikipedia, Disciples of Confucius. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông.
Dãy bài vị các bậc tiên Nho ở dãy vu, Khổng miếu Đài Nam. Mỗi vị một thẻ gỗ sơn đỏ ghi tên. Ảnh chụp năm 2008.
Dãy bài vị các bậc tiên Nho ở dãy vu, Khổng miếu Đài Nam. Mỗi vị một thẻ gỗ sơn đỏ ghi tên. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Pascal Terjan, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Hàng đồ tế bằng đồng và chiếc trống lớn ở Khổng miếu Hàng Châu. Trên tường phía sau là bản sao tranh các học trò của Khổng Tử. Ảnh chụp năm 2009.
Hàng đồ tế bằng đồng và chiếc trống lớn ở Khổng miếu Hàng Châu. Trên tường phía sau là bản sao tranh các học trò của Khổng Tử. Ảnh chụp năm 2009.Ảnh: G41rn8, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

IVĐiện Đại Thành Bày Thế Nào

Văn miếu ở nước nào cũng theo một bố cục chung, đi từ ngoài vào trong theo một trục thẳng. Cổng ngoài gọi là Linh Tinh môn. Qua Đại Thành môn (大成門) là sân chính và tòa điện chính, gọi là Đại Thành điện (大成殿). Hai bên sân là hai dãy nhà dài, người Việt gọi là Đông vu và Tây vu. Phía sau có đền thờ tổ tiên của Khổng Tử, gọi là Sùng Thánh từ (崇聖祠). Ở Việt Nam đền này mang tên Khải Thánh, thờ cha mẹ Khổng Tử.

Nguồn: Wikipedia, Temple of Confucius. Wikipedia, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple.

Tên Đại Thành lấy từ lời Mạnh Tử nói về Khổng Tử: Khổng Tử là bậc tập đại thành, nghĩa là người gom được học vấn và đức tốt của các bậc tiên thánh, tiên hiền.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Cổng Đại Thành.
Trong cùngSùng Thánh từ, Khải ThánhĐền thờ tổ tiên và cha mẹ của Khổng Tử, nằm sau điện chính
Điện chính, gian giữaĐức Khổng TửBài vị, hoặc tượng, mặt quay về hướng Nam
Điện chính, hai bênTứ Phối, rồi các bậc triếtNhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử ở gần gian giữa. Mười hoặc mười hai vị triết ở xa hơn về hai phía
Hai dãy vu hai bên sânTiên hiền và tiên NhoMỗi vị một bài vị, xếp thành hàng dài
Trước điệnSân tế, nhà bái đườngNơi bày hương án, đồ tế, nơi nhạc sinh và vũ sinh hành lễ

Sơ đồ gom điểm chung của các nguồn. Mỗi miếu có khác biệt riêng. Ở Khúc Phụ, trước điện còn có Hạnh Đàn (杏壇), nơi tương truyền Khổng Tử ngồi giảng dưới gốc cây hạnh, và sau điện có Tẩm điện thờ phu nhân của Ngài.

Điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, Sơn Đông. Tòa điện dài 54 mét, rộng 34 mét, dựng lại xong năm 1730.
Điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, Sơn Đông. Tòa điện dài 54 mét, rộng 34 mét, dựng lại xong năm 1730.Ảnh: Yumeto, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Cổng Đại Thành, lối vào sân Đại Bái và điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội.
Cổng Đại Thành, lối vào sân Đại Bái và điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Nam: khám bài vị ở giữa, các án thờ hai bên. Ảnh chụp năm 2008.
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Nam: khám bài vị ở giữa, các án thờ hai bên. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Pascal Terjan, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Đại Thành Điện (Daeseongjeon) của Văn miếu trong Thành Quân Quán (Sungkyunkwan), Seoul. Bên trong thờ bài vị. Ảnh chụp năm 2016.
Đại Thành Điện (Daeseongjeon) của Văn miếu trong Thành Quân Quán (Sungkyunkwan), Seoul. Bên trong thờ bài vị. Ảnh chụp năm 2016.Ảnh: GN Coordinator, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ông Thomas A. Wilson, người quay phim lễ tế mùa thu ở Khúc Phụ, tóm tắt: Khổng Tử, các bậc thánh, các vị phối hưởng và các bậc triết được tế trong điện chính, còn các bậc hiền và các nhà Nho được tế ở hai dãy hành lang phía Đông và phía Tây. Đồ tế được nấu ở Thần trù, tức bếp thần, đặt ở một góc khu miếu.

Nguồn: Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple.

Tượng Khổng Tử, ở những nơi có tượng, quay mặt về hướng Nam. Trang chính thức của Văn Miếu Hà Nội dẫn câu: thánh nhân ngồi quay về hướng Nam để nghe được hết lời của thiên hạ.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Khổng Tử.

VVăn Miếu Quốc Tử Giám Ở Hà Nội

Văn Miếu được khởi dựng năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông, là nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền, tiên Nho. Trang chính thức của di tích dẫn Đại Việt sử ký toàn thư: mùa thu tháng 8 dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, hoàng thái tử đến học ở đây. Như vậy ngay từ đầu, Văn Miếu Thăng Long đã thờ bằng tượng. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám bên cạnh.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nội tự. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Lịch sử di tích.

Khu điện Đại Thành

Lớp không gian thứ tư của di tích là khu điện Đại Thành. Giữa là sân Đại Bái, hai dãy nhà Đông và Tây chạy dọc hai bên. Tòa phía trước là Bái Đường, nơi xưa kia làm lễ tế Khổng Tử. Gian giữa Bái Đường đặt hương án và đồ thờ, hai bên là đôi hạc đồng đứng trên lưng rùa, phía trên treo bức hoành "Vạn thế sư biểu", nghĩa là người thầy tiêu biểu của muôn đời.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Công trình kiến trúc: Điện Đại Thành.
Gian giữa nhà Bái Đường, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội: hương án và bức hoành "Vạn thế sư biểu".
Gian giữa nhà Bái Đường, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội: hương án và bức hoành "Vạn thế sư biểu".Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Ban thờ Khổng Tử trong điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ảnh chụp năm 2018.
Ban thờ Khổng Tử trong điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ảnh chụp năm 2018.Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Sau Bái Đường là điện Đại Thành, chín gian, tường kín ba mặt, nối với Bái Đường bằng một tiểu đình. Trang chính thức viết: điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập triết. Gian chính giữa là tượng Đức Khổng Tử, mặt nhìn về hướng Nam, phía sau là khám thờ, trên có bài vị. Văn Miếu Hà Nội vì thế có cả tượng lẫn bài vị.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành.

Tượng Đức Khổng Tử

Nhận ra: Ngồi trên ngai, đội mũ phốc đầu, hai bàn tay ốp vào nhau trước ngực

Trang chính thức tả: gương mặt đầy đặn, phương phi, mắt sáng, hai tai lớn và dày. Tượng ngồi trên ngai, chân buông cân đối phía trước, mặc áo thụng dài, ống tay rất rộng. Hai bàn tay ốp vào nhau trước ngực, tay phải úp đặt trên tay trái ngửa. Tượng tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng.

Tượng Khổng Tử ở gian giữa điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Gỗ mít sơn son thếp vàng, hai bàn tay ốp vào nhau trước ngực. Ảnh chụp năm 2009.
Tượng Khổng Tử ở gian giữa điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Gỗ mít sơn son thếp vàng, hai bàn tay ốp vào nhau trước ngực. Ảnh chụp năm 2009.Ảnh: Dennis G. Jarvis, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Khổng Tử.

Tượng Tứ Phối

Nhận ra: Bốn pho ngồi thành hai cặp ở hai bên gian giữa, sơn son thếp vàng

Wikipedia tiếng Việt ghi bốn vị ngoài bài vị ra đều có tượng gỗ sơn thếp, một bên là Tăng Tử và Mạnh Tử, một bên là Nhan Tử và Tử Tư. Hai gian đầu hồi có hai khám lớn thờ Thập triết.

Tượng Mạnh Tử và Tăng Tử, hai trong bốn vị Tứ Phối, điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Tên hai vị ghi theo trang ảnh gốc.
Tượng Mạnh Tử và Tăng Tử, hai trong bốn vị Tứ Phối, điện Đại Thành, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Tên hai vị ghi theo trang ảnh gốc.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Wikipedia, Temple of Literature, Hanoi.

Khu Thái Học: thầy Chu Văn An và ba vị vua

Khu sau cùng vốn là Quốc Tử Giám. Thời Nguyễn, nơi này thành đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1946 toàn khu bị đốt phá trong chiến tranh. Khu Thái Học ngày nay khởi công năm 1999 và xong năm 2000. Nhà Hậu Đường có hai tầng. Tầng dưới thờ thầy Chu Văn An, Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Tầng trên thờ ba vị vua có công với Văn Miếu Quốc Tử Giám: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nhà Thái Học. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu Thái Học.

Thầy Chu Văn An (1292 tới 1370)

Nhận ra: Tượng đồng ngồi, mũ áo quan, tay cầm cuốn sách

Người làng Quang Liệt, mở trường dạy học rồi được vua Trần Minh Tông mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy gian thần, vua không nghe, ông từ quan về Chí Linh. Khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ ở Văn Miếu. Tượng hiện nay bằng đồng, đúc năm 2003, nặng khoảng 3 tấn kể cả ngai.

Tượng thầy Chu Văn An, đồng, đúc năm 2003, khu Thái Học, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Tượng mới.
Tượng thầy Chu Văn An, đồng, đúc năm 2003, khu Thái Học, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Tượng mới.Ảnh: Phuongcacanh at Vietnamese Wikipedia, Public domain, Wikimedia Commons
Ban thờ thầy Chu Văn An ở tầng dưới nhà Hậu Đường, khu Thái Học, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Phía trên là bức hoành "Truyền kinh chính học". Ảnh chụp năm 2018.
Ban thờ thầy Chu Văn An ở tầng dưới nhà Hậu Đường, khu Thái Học, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Phía trên là bức hoành "Truyền kinh chính học". Ảnh chụp năm 2018.Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An.

Ba vị vua

Nhận ra: Tượng đồng ngồi ngai, đội mũ miện

Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu năm 1070. Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên năm 1075 và lập Quốc Tử Giám năm 1076. Lê Thánh Tông mở rộng Quốc Tử Giám năm 1483 và cho dựng những tấm bia Tiến sĩ đầu tiên năm 1484. Ba pho tượng đều do nghệ nhân làng Ngũ Xã, Hà Nội đúc năm 2003, mỗi pho cao 1,4 mét, nặng chừng một tấn.

Tượng vua Lý Thánh Tông, đồng, đúc năm 2003, tầng trên nhà Hậu Đường, khu Thái Học. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2010.
Tượng vua Lý Thánh Tông, đồng, đúc năm 2003, tầng trên nhà Hậu Đường, khu Thái Học. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2010.Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tượng vua Lý Nhân Tông, đồng, đúc năm 2003, tầng trên nhà Hậu Đường, khu Thái Học. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2010.
Tượng vua Lý Nhân Tông, đồng, đúc năm 2003, tầng trên nhà Hậu Đường, khu Thái Học. Tượng mới. Ảnh chụp năm 2010.Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Nhân Tông. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lê Thánh Tông.

Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở và nguồn gốc rõ ràng của tượng vua Lê Thánh Tông.

VICác Văn Miếu Khác Ở Việt Nam

Từ Văn Miếu ở kinh đô, việc thờ Khổng Tử lan về các trấn, các tỉnh, rồi tới làng xã với các văn từ, văn chỉ. Một bài trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2013 đã lần theo quá trình ấy từ năm 1070 qua các triều đại. Dưới đây là mấy văn miếu còn lại, kèm cách thờ ở từng nơi theo nguồn đã đọc.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 12 năm 2013, Văn miếu, văn từ, văn chỉ trong lịch sử Việt Nam (tóm tắt). Wikipedia, Văn miếu.

Văn Miếu Huế (Văn Thánh)

Dựng năm 1808, đời vua Gia Long, bên bờ sông Hương. Wikipedia tiếng Việt ghi: khi dựng miếu, vua Gia Long cho làm đồ tự khí mới và thay tượng thánh hiền bằng bài vị. Triều Nguyễn còn buộc các địa phương đang thờ Khổng Tử bằng tượng phải đổi sang bài vị gỗ, vì coi thờ bằng hình tượng là thiếu trang trọng với người đã khuất. Thư viện mới thấy điều này ở một nguồn. Điện Đại Thành thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập nhị triết, hai dãy vu thờ tiên hiền, tiên Nho. Trước miếu có 32 tấm bia khắc tên 293 Tiến sĩ triều Nguyễn, từ khoa thi năm 1822 tới khoa cuối năm 1919. Di tích đang được trùng tu lớn.

Đại Thành môn của Văn Miếu Huế (Văn Thánh), dựng năm 1808 bên bờ sông Hương. Ảnh chụp năm 2008.
Đại Thành môn của Văn Miếu Huế (Văn Thánh), dựng năm 1808 bên bờ sông Hương. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Lưu Ly, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Văn miếu (Huế). Báo Tiền Phong, Bên trong di tích Văn Miếu 200 năm tuổi vừa hạ giải đại trùng tu. Khám phá Huế (khamphahue.com.vn), Spiritual Encouragement of Education during the Nguyen Dynasty.

Văn miếu Mao Điền

Văn miếu của trấn Hải Dương xưa, dời về Mao Điền năm 1801. Phần chính gồm hai tòa nhà lớn bảy gian, có Đông vu, Tây vu và đền Khải Thánh thờ thân phụ, thân mẫu của Khổng Tử. Xưa kia mỗi năm trấn tổ chức tế Khổng Tử vào ngày Đinh đầu tháng trọng xuân (tháng hai) và trọng thu (tháng tám).

Nguồn: Wikipedia, Văn miếu Mao Điền.

Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên)

Dựng từ cuối thời Lê, trùng tu lớn năm 1839. Khu nội tự kiểu chữ Tam, gồm tiền tế, trung từ và hậu cung. Miếu thờ Khổng Tử và các bậc hiền của Nho gia, cùng thờ với Khổng Tử là thầy Chu Văn An. Còn lại 9 tấm bia đá ghi tên các nhà khoa bảng.

Tượng thầy Chu Văn An trong Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên. Ảnh chụp năm 2010.
Tượng thầy Chu Văn An trong Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên. Ảnh chụp năm 2010.Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Văn miếu Xích Đằng.

Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai)

Văn miếu đầu tiên ở Đàng Trong, dựng năm 1715, bị phá năm 1861, dựng lại từ năm 1998 tới 2002. Trịnh Hoài Đức tả miếu cũ có Đại Thành điện, Đại Thành môn, cửa Kim Thanh, cửa Ngọc Chấn, Khuê Văn các, và đồ thờ có thần bài, khám vàng cùng đồ phủ, quỹ, biên, đậu. Công trình mới bày khác hẳn: nhà thờ chính có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở gian giữa, hai bên thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam và danh nhân đất Nam Bộ. Khổng Tử được thờ ở một nhà bia phía trước.

Nhà thờ chính của Văn miếu Trấn Biên, Đồng Nai, nhìn từ hồ Tịnh Quang. Công trình dựng lại từ năm 1998 tới 2002.
Nhà thờ chính của Văn miếu Trấn Biên, Đồng Nai, nhìn từ hồ Tịnh Quang. Công trình dựng lại từ năm 1998 tới 2002.Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Văn miếu Trấn Biên.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long

Cuối đường thần đạo là điện Đại Thành. Chính điện thờ Khổng Tử, hai bên thờ Tứ Phối và Thập triết. Hai gian nhà Tả vu, Hữu vu thờ Thất thập nhị hiền. Trong khuôn viên còn có Tụy Văn lâu, tầng dưới có khám thờ đặt bài vị Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản.

Lối thần đạo dẫn vào điện Đại Thành, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.
Lối thần đạo dẫn vào điện Đại Thành, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.

VIIHình Thờ Khổng Tử Qua Từng Nước

Văn miếu theo chân Nho học tới Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Ở Indonesia cũng có nơi thờ Khổng Tử, lớn và lâu đời nhất là Boen Bio ở Surabaya, dựng năm 1883 và dời tới chỗ mới năm 1907. Thư viện chưa có ảnh có giấy phép mở của Boen Bio.

Nguồn: Wikipedia, Temple of Confucius.

Trung Quốc

Khổng miếu Khúc Phụ dựng từ năm 478 trước Công nguyên, bị phá và dựng lại nhiều lần, nay có hơn 100 công trình và hơn 1.000 tấm bia. Điện Đại Thành dài 54 mét, rộng 34 mét, đỡ bằng 28 cột đá, mười cột mặt trước chạm rồng cuốn. Năm 1724 một trận cháy phá gần hết điện và các pho tượng bên trong, việc dựng lại xong năm 1730. Nhiều tượng làm lại bị hư hại và phá hủy năm 1966. Lễ tế hằng năm vào ngày sinh Khổng Tử được nối lại năm 1984. Ở Khổng miếu Bắc Kinh, John Thomson vào thế kỷ 19 tả bài vị là một thẻ gỗ trơn khắc chữ Mãn và chữ Hán, hai bên là bài vị bốn học trò lớn. Hai vị trong Tứ Phối có miếu riêng ở Sơn Đông: Nhan miếu ở Khúc Phụ và Mạnh miếu ở Trâu Thành, cả hai đều thờ tượng.

Điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, Sơn Đông. Tòa điện dài 54 mét, rộng 34 mét, dựng lại xong năm 1730.
Điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, Sơn Đông. Tòa điện dài 54 mét, rộng 34 mét, dựng lại xong năm 1730.Ảnh: Yumeto, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tượng Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, ảnh chụp năm 2017. Trước tượng có đặt bài vị. Tượng hiện nay là tượng làm lại, tượng cũ đã mất.
Tượng Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Khúc Phụ, ảnh chụp năm 2017. Trước tượng có đặt bài vị. Tượng hiện nay là tượng làm lại, tượng cũ đã mất.Ảnh: 三猎, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bài vị Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh của John Thomson, thế kỷ 19. Không có tượng. Phía trên là bức hoành "Vạn thế sư biểu", phía trước là hương án.
Bài vị Khổng Tử trong điện Đại Thành, Khổng miếu Bắc Kinh, ảnh của John Thomson, thế kỷ 19. Không có tượng. Phía trên là bức hoành "Vạn thế sư biểu", phía trước là hương án.Ảnh: John Thomson, Public domain, Wikimedia Commons
Tượng Mạnh Tử trong điện Á Thánh, Mạnh miếu, Trâu Thành, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2011.
Tượng Mạnh Tử trong điện Á Thánh, Mạnh miếu, Trâu Thành, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2011.Ảnh: User:Vmenkov, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tượng Nhan Hồi trong Nhan miếu, Khúc Phụ, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2010.
Tượng Nhan Hồi trong Nhan miếu, Khúc Phụ, Sơn Đông. Ảnh chụp năm 2010.Ảnh: Rolfmueller, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Temple and Cemetery of Confucius and the Kong Family Mansion in Qufu. Wikipedia, Temple of Confucius, Qufu. China Daily, Temple of Confucius: a temple to harmony and peace, 2019. Wikimedia Commons, trang tệp ảnh của John Thomson, kèm lời tả của ông (dẫn Thư viện Beinecke).

Đài Loan

Khổng miếu Đài Nam dựng năm 1665, là ngôi sớm nhất trên đảo. Khổng miếu Đài Bắc dựng năm 1879, bị dỡ năm 1907 và dựng lại trong những năm 1925 tới 1939. Các miếu ở đây thờ bài vị. Trang của chính quyền thành phố Đào Viên viết rằng Khổng miếu không bày nhiều tượng thần như chùa hay miếu dân gian, bên trong chỉ thờ bài vị có chữ. Mỗi năm vào ngày 28 tháng 9 có lễ tế với nhạc và múa cổ.

Bài vị "Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử" trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Bắc. Không có tượng. Ảnh chụp năm 2024.
Bài vị "Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử" trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Bắc. Không có tượng. Ảnh chụp năm 2024.Ảnh: 阿道, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Nam: khám bài vị ở giữa, các án thờ hai bên. Ảnh chụp năm 2008.
Bên trong điện Đại Thành, Khổng miếu Đài Nam: khám bài vị ở giữa, các án thờ hai bên. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Pascal Terjan, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Dãy bài vị các bậc tiên Nho ở dãy vu, Khổng miếu Đài Nam. Mỗi vị một thẻ gỗ sơn đỏ ghi tên. Ảnh chụp năm 2008.
Dãy bài vị các bậc tiên Nho ở dãy vu, Khổng miếu Đài Nam. Mỗi vị một thẻ gỗ sơn đỏ ghi tên. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Pascal Terjan, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Temple of Confucius. Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu. Wikipedia, Taipei Confucius Temple.

Hàn Quốc

Văn miếu (Munmyo) nằm trong Thành Quân Quán ở Seoul. Đại Thành Điện dựng lần đầu năm 1398, cháy trong cuộc xâm lược năm 1592 và được dựng lại đầu thế kỷ 17. Trong điện thờ bài vị của Khổng Tử và các bậc hiền: Khổng Tử, bốn vị Tứ Phối, mười học trò, sáu nhà Nho đời Tống và mười tám bậc hiền của Triều Tiên, tổng cộng 39 vị. Lễ Thích điện (Seokjeon) được giữ mỗi năm hai kỳ, vào tháng hai và tháng tám âm lịch.

Đại Thành Điện (Daeseongjeon) của Văn miếu trong Thành Quân Quán (Sungkyunkwan), Seoul. Bên trong thờ bài vị. Ảnh chụp năm 2016.
Đại Thành Điện (Daeseongjeon) của Văn miếu trong Thành Quân Quán (Sungkyunkwan), Seoul. Bên trong thờ bài vị. Ảnh chụp năm 2016.Ảnh: GN Coordinator, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Giá biên chung (pyeonjong) trong dàn nhạc tế Văn miếu ở Seoul. Ảnh chụp năm 2015.
Giá biên chung (pyeonjong) trong dàn nhạc tế Văn miếu ở Seoul. Ảnh chụp năm 2015.Ảnh: ChaiCat, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Sungkyunkwan, A Tradition of Excellence. Wikipedia, Munmyo. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, Confucius ritual in spring. The Korea Times, Confucius to be honored in ancient ceremony, 2016.

Nhật Bản

Yushima Seidō ở Tokyo có gốc từ miếu và trường của nhà Nho Hayashi Razan đầu thế kỷ 17. Tướng quân Tokugawa Tsunayoshi dời về chỗ hiện nay năm 1690, có nguồn ghi năm 1691. Các tòa nhà thời Edo sập trong trận động đất năm 1923, điện hiện nay do kiến trúc sư Itō Chūta thiết kế, xong năm 1935. Khác với Bắc Kinh và Seoul, nơi đây thờ tượng: tượng Khổng Tử trong khám và tượng bốn vị Tứ Phối. Ngoài sân có pho tượng Khổng Tử lớn do Lions Club Đài Bắc tặng năm 1975. Lễ tế Khổng Tử làm vào chủ nhật thứ tư của tháng 4 hằng năm. Trường Ashikaga ở tỉnh Tochigi cũng có một Khổng miếu thờ tượng Khổng Tử ngồi.

Tượng Khổng Tử ngồi trong khám, điện Đại Thành (Taiseiden) của Yushima Seidō, Tokyo. Ảnh chụp năm 2014.
Tượng Khổng Tử ngồi trong khám, điện Đại Thành (Taiseiden) của Yushima Seidō, Tokyo. Ảnh chụp năm 2014.Ảnh: Guilhem Vellut, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Tượng Mạnh Tử ở Yushima Seidō, Tokyo. Tên vị được thờ ghi theo người chụp. Ảnh chụp năm 2014.
Tượng Mạnh Tử ở Yushima Seidō, Tokyo. Tên vị được thờ ghi theo người chụp. Ảnh chụp năm 2014.Ảnh: Guilhem Vellut, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Hai pho tượng Tứ Phối ở Yushima Seidō, Tokyo. Người chụp ghi là Nhan Hồi và Tử Tư, kèm dấu hỏi, nên thư viện chưa chắc tên từng pho.
Hai pho tượng Tứ Phối ở Yushima Seidō, Tokyo. Người chụp ghi là Nhan Hồi và Tử Tư, kèm dấu hỏi, nên thư viện chưa chắc tên từng pho.Ảnh: Guilhem Vellut, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Tượng Khổng Tử ngồi, thờ trong Khổng miếu của trường Ashikaga (Ashikaga Gakkō), tỉnh Tochigi, Nhật Bản. Ảnh chụp năm 2020.
Tượng Khổng Tử ngồi, thờ trong Khổng miếu của trường Ashikaga (Ashikaga Gakkō), tỉnh Tochigi, Nhật Bản. Ảnh chụp năm 2020.Ảnh: Asanagi, CC0, Wikimedia Commons
Khổng Tử, tranh của Kanō Sansetsu, Nhật Bản, năm 1632, thuộc một tập vẽ các bậc đại Nho. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Khổng Tử, tranh của Kanō Sansetsu, Nhật Bản, năm 1632, thuộc một tập vẽ các bậc đại Nho. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Kanō Sansetsu (狩野 山雪 1589 - 1651), CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Yushima Seidō. Mạng Khổng Tử Trung Quốc (chinakongzi.org, dẫn Tân Hoa xã), Yushima Seido of Tokyo, Japan.

VIIILễ Thích Điện Và Đồ Tế

Lễ tế Khổng Tử có tên chữ là Thích điện (釋奠), người Hàn đọc là Seokjeon, người Nhật đọc là sekiten. Lần tế đầu tiên của một hoàng đế thường được tính từ năm 195 trước Công nguyên, khi Hán Cao Tổ tới tế ở nước Lỗ. Nhạc và múa của lễ được định chuẩn lần đầu năm 485, đời Nam Tề. Vì trong điện là bài vị chứ không phải tượng, những gì bày trước bài vị trong ngày tế, tức đồ tế, nhạc khí và điệu múa, mới là phần hình ảnh của Nho giáo.

Nguồn: Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple. Wikipedia, Temple of Confucius. Wikipedia, Seokjeon Daeje.

Đồ tế

John Thomson tả lễ ở Bắc Kinh thế kỷ 19: trước bài vị có một hương án đơn sơ, trên đặt lư đồng, hai bên là chân đèn đồng. Tới kỳ tế xuân và tế thu, bò và dê được mổ, đặt lên giá trước bài vị. Ông viết thêm: người ta tế là tế thần của bậc thánh, được coi là ngự trong bài vị.

Nguồn: Wikimedia Commons, trang tệp ảnh của John Thomson, kèm lời tả của ông (dẫn Thư viện Beinecke).
Tên đồ tếChữ HánGhi theo nguồn
Đăng登Đựng thái canh (太羹)
Hình鉶Đựng hòa canh (和羹)
Phủ và quỹ簠, 簋Vua Càn Long nói biên, đậu, phủ, quỹ là để thờ thần minh. Đời trước lấy bát đĩa thay vào, ông cho làm lại theo lối cổ
Biên và đậu籩, 豆Bộ làm cho Khổng miếu Khúc Phụ thời Càn Long có 90 chiếc đậu
Tước爵Bộ làm cho Khúc Phụ có 27 chiếc
Thái lao太牢Lễ vật gồm bò, dê và lợn, bày trên trở (俎)
Nguồn: Lại Huệ Mẫn (Viện Nghiên cứu Trung ương, Đài Loan), bài về tế khí kim loại thời Càn Long, Cố cung học thuật quý san 37 số 3.

Bảng dựa trên bài của bà Lại Huệ Mẫn về bộ tế khí kim loại vua Càn Long cho làm. Công dụng của đăng, hình và trở trong bài được tả ở phần nói về Thái miếu. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng kể văn miếu Trấn Biên xưa có đồ phủ, quỹ, biên, đậu.

Đồ tế bày trên án trong điện Đại Thành của Yushima Seidō, Tokyo: chén ba chân, hộp đựng lễ có nắp, mâm quả. Ảnh chụp năm 2014.
Đồ tế bày trên án trong điện Đại Thành của Yushima Seidō, Tokyo: chén ba chân, hộp đựng lễ có nắp, mâm quả. Ảnh chụp năm 2014.Ảnh: Guilhem Vellut, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Lư hương và án lễ trước khám thờ, điện Đại Thành của Yushima Seidō, Tokyo. Ảnh chụp năm 2014.
Lư hương và án lễ trước khám thờ, điện Đại Thành của Yushima Seidō, Tokyo. Ảnh chụp năm 2014.Ảnh: Guilhem Vellut, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Đỉnh vuông bằng đồng của Khổng miếu Đài Nam. Ảnh chụp năm 2015.
Đỉnh vuông bằng đồng của Khổng miếu Đài Nam. Ảnh chụp năm 2015.Ảnh: Pbdragonwang, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Hàng đồ tế bằng đồng và chiếc trống lớn ở Khổng miếu Hàng Châu. Trên tường phía sau là bản sao tranh các học trò của Khổng Tử. Ảnh chụp năm 2009.
Hàng đồ tế bằng đồng và chiếc trống lớn ở Khổng miếu Hàng Châu. Trên tường phía sau là bản sao tranh các học trò của Khổng Tử. Ảnh chụp năm 2009.Ảnh: G41rn8, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhạc và múa

Nhạc tế là nhã nhạc, dùng chuông, khánh, đàn, sáo và trống. Trang của chính quyền Đào Viên kể: biên chung là mười sáu quả chuông kim loại treo thành tầng, biên khánh là mười sáu phiến đá cong, gõ lên cho tiếng cao thấp khác nhau. Còn có đàn cầm, đàn sắt hai mươi lăm dây và huân, một nhạc khí bằng gốm để thổi. Điệu múa là bát dật (八佾舞): tám hàng, mỗi hàng tám người. Ở Seoul, lễ có 64 vũ sinh. Số nhạc công thì mỗi nguồn ghi một khác.

Nguồn: Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu. Wikipedia, Temple of Confucius. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, Confucius ritual in spring. UNESCO, Quyết định 6.COM 13.43 về hồ sơ Seokjeon Daeje, 2011.
Giá biên khánh và biên chung dùng trong lễ tế, trưng bày tại Khổng miếu Đài Nam. Ảnh chụp năm 2008.
Giá biên khánh và biên chung dùng trong lễ tế, trưng bày tại Khổng miếu Đài Nam. Ảnh chụp năm 2008.Ảnh: Pascal Terjan, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Giá biên chung (pyeonjong) trong dàn nhạc tế Văn miếu ở Seoul. Ảnh chụp năm 2015.
Giá biên chung (pyeonjong) trong dàn nhạc tế Văn miếu ở Seoul. Ảnh chụp năm 2015.Ảnh: ChaiCat, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Lễ Thích điện (sekiten) ở Nhật Bản: tranh thờ treo phía trên, các án lễ bày phía dưới, người dự lễ ngồi hai bên. Tranh "Thích điện đồ", năm 1788. Thư viện Quốc hội Nhật Bản.
Lễ Thích điện (sekiten) ở Nhật Bản: tranh thờ treo phía trên, các án lễ bày phía dưới, người dự lễ ngồi hai bên. Tranh "Thích điện đồ", năm 1788. Thư viện Quốc hội Nhật Bản.Ảnh: 源保繁, Public domain, Wikimedia Commons

Ở Việt Nam, tên hai cổng nhỏ bên cổng Đại Thành của Văn Miếu Hà Nội cũng lấy từ nhạc tế. Kim Thanh là tiếng chuông mở đầu, Ngọc Chấn là tiếng khánh kết thúc một bài nhạc. Ngày nay nhà Bái Đường là nơi các trường học và dòng họ về làm lễ dâng hương khuyến học, khuyến tài.

Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Cổng Đại Thành. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Công trình kiến trúc: Điện Đại Thành.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc phần lớn nguồn qua mạng. Về cuộc cải cách năm 1530, thư viện mới đọc được phần tóm tắt bài của Julia K. Murray và của Ho Wei-hsuan, chưa đọc toàn văn. Bài trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2013 cũng mới đọc được phần tóm tắt.
·Việc triều Nguyễn buộc các nơi đổi tượng sang bài vị: thư viện mới thấy ở Wikipedia tiếng Việt, chưa đối chiếu được với Đại Nam thực lục hay nguồn của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Thư viện cũng chưa có ảnh có giấy phép mở chụp bài vị trong điện Đại Thành ở Huế.
·Niên đại của tượng Khổng Tử và tượng Tứ Phối ở Văn Miếu Hà Nội: trang chính thức tả chất liệu và dáng tượng nhưng không ghi năm làm. Trang này vì thế không ghi niên đại.
·Tháng dựng Văn Miếu năm 1070: trang chính thức dẫn Toàn thư là tháng 8, khớp với dòng chữ trên bức hoành cổng Đại Thành. Wikipedia tiếng Việt dẫn cùng sách ấy lại ghi tháng 10. Trang này theo trang chính thức.
·Bên trái, bên phải: nguồn tiếng Việt ghi Tăng Tử và Mạnh Tử ở một bên, Nhan Tử và Tử Tư ở bên kia, nhưng không nói tính từ người đứng lễ hay từ tượng. Trang này vì thế không ghi vị nào ở bên nào.
·Thập triết hay Thập nhị triết: trang chính thức của Văn Miếu Hà Nội ghi Thập triết, nguồn về Văn Miếu Huế và về Trung Hoa ghi mười hai vị. Thư viện chưa đọc được nguồn giải thích vì sao Hà Nội giữ con số mười.
·Pho tượng Khổng Tử hiện nay ở điện Đại Thành, Khúc Phụ: các nguồn đã đọc cho biết tượng cũ mất trong trận cháy năm 1724 và tượng làm lại bị phá năm 1966, nhưng không ghi rõ pho hiện nay làm năm nào. Một nguồn gọi đây là tượng đất.
·Bức "Khổng Tử hành giáo": tên Ngô Đạo Tử ghi trên bia chưa được xác nhận, năm khắc bia cũng chỉ là ước đoán. Bản rập trên trang này không rõ rập từ tấm bia nào.
·Hai bức "Khổng Tử yến cư" và "Khổng Tử làm Tư khấu": trang ảnh gốc không ghi niên đại và tác giả. Thư viện chưa đọc được nguồn của Bảo tàng Khổng Tử về hai bức này.
·Tượng ở Yushima Seidō và ở trường Ashikaga: thư viện chưa đọc được trang chính thức của hai nơi, nên không ghi niên đại và chất liệu của tượng. Tên hai pho Tứ Phối trong ảnh Yushima do người chụp ghi kèm dấu hỏi.
·Lễ Thích điện ở Seoul: các nguồn ghi số nhạc công khác nhau, 64 hoặc 42. Một văn bản của UNESCO năm 2011 lại nói lễ tôn vinh mười sáu bậc hiền, trong khi nguồn Hàn Quốc ghi 39 vị. Năm dựng lại Đại Thành Điện có nguồn ghi 1601, có nguồn ghi 1602.
·Công dụng của từng món đồ tế: thư viện chỉ ghi những gì có trong nguồn đã đọc. Món nào đựng gì trong lễ tế Khổng Tử ở từng nước, thư viện chưa có nguồn đủ chắc.

Bạn là người theo Nho học, người trông coi văn miếu hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Confucius Tang Dynasty, black print.jpg · Wu Daozi, 685-758, Tang Dynasty. · Public domain
2Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Confucius.jpg · Khuyết danh · Public domain
3Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Yan Hui Ziyuan (顏回 子淵).jpg · Khuyết danh · Public domain
4Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Zeng Shen Ziyu (曾參 子輿).jpg · Khuyết danh · Public domain
5Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Kong Ji Zisi (孔伋 子思).jpg · Khuyết danh · Public domain
6Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Meng Ke (孟軻).jpg · Khuyết danh · Public domain
7孔子燕居像.png · Không rõ tác giả · Public domain
8孔子爲魯司寇像.png · Không rõ tác giả · Public domain
9Confucius Sinarum Philosophus portrait.png · Không rõ tác giả · Public domain
10Great Confucian Figures - Painting of Kongzi by Kanō Sansetsu.jpg · Kanō Sansetsu (狩野 山雪 1589 - 1651) · CC BY 4.0
11THE CONFUCIAN TABLET IN THE GREAT HALL OF THE SAGE, PEKING.jpg · John Thomson · Public domain
12Inside Dacheng Hall, Beijing Confucius Temple.jpg · 호고호 · CC0
13曲阜孔庙大成殿孔子像.jpg · 三猎 · CC BY-SA 4.0
14Qufu Kong Miao 2015.08.15 14-24-26.jpg · Zhangzhugang · CC BY-SA 4.0
1520230612 Dacheng Dian, Qufu Kongmiao.jpg · Yumeto · CC BY-SA 4.0
16Temple of Mencius - Yasheng Hall - inside - P1050921.JPG · User:Vmenkov · CC BY-SA 3.0
17Qufu temple of yan sculpture 2010 06 05.jpg · Rolfmueller · CC BY-SA 3.0
18Hangzhou 2009 1757.jpg · G41rn8 · CC BY-SA 4.0
19Hangzhou 2009 1756.jpg · G41rn8 · CC BY-SA 4.0
20Statue of Confucius at Beijing temple.JPG · Mx. Granger · CC0
21DGJ 1722 - The main man here... Confucius (3506507631).jpg · Dennis G. Jarvis · CC BY-SA 2.0
22Altar to Confucius (Temple of Literature, Hanoi).jpg · Christophe95 · CC BY-SA 4.0
23Disciples Mencius (Mạnh Tử) and Zengzi (Tăng Tử) - Temple of Literature, Hanoi - DSC04594.JPG · Daderot · CC0
24House of Ceremonies - Temple of Literature, Hanoi - DSC04591.JPG · Daderot · CC0
25Gate of great synthesis (Dai Thanh) - Temple of Literature, Hanoi - DSC04579.JPG · Daderot · CC0
26Altar to Chu An (Temple of Literature, Hanoi).jpg · Christophe95 · CC BY-SA 4.0
27Chu Văn An 2.JPG · Phuongcacanh at Vietnamese Wikipedia · Public domain
28Lý Thánh Tông.JPG · Nguyễn Thanh Quang · CC BY-SA 3.0
29Lý Nhân Tông.JPG · Nguyễn Thanh Quang · CC BY-SA 3.0
30Dai Thanh gate.jpg · Lưu Ly · Public domain
31Văn miếu Xích Đằng 07.JPG · Nguyễn Thanh Quang · CC BY-SA 3.0
32Điện Đại Thành (Văn Thánh Miếu Vĩnh Long).jpg · Bùi Thụy Đào Nguyên at Vietnamese Wikipedia · CC BY-SA 3.0
33Nhà thờ chính Văn miếu Trấn Biên.jpg · Bùi Thụy Đào Nguyên · CC BY-SA 3.0
34Interior of the Ta Cheng Palace, Taipei Confucius Temple-01.2024-02-24.jpg · 阿道 · CC BY-SA 4.0
352008-02-08 Interior of the Tainan Confucius Temple.jpg · Pascal Terjan · CC BY-SA 2.0
362008-02-08 Spirit tablets of major Confucianism scholars at the Tainan Confucius Temple.jpg · Pascal Terjan · CC BY-SA 2.0
372008-02-08 ceremonial musical instruments on display at the Tainan Confucius Temple.jpg · Pascal Terjan · CC BY-SA 2.0
38臺南孔廟青銅方鼎.JPG · Pbdragonwang · CC BY-SA 4.0
39Daeseongjeon.jpg · GN Coordinator · CC BY-SA 4.0
40PyeonjongIMG 6163.JPG · ChaiCat · CC BY-SA 4.0
41Yushima Seido - seated statue of Confucius.jpg · Guilhem Vellut · CC BY 2.0
42Yushima Seido - seated statue of Mencius.jpg · Guilhem Vellut · CC BY 2.0
43Yushima Seido - seated statue of Yan Hui (left) Zi Si (right).jpg · Guilhem Vellut · CC BY 2.0
44Yushima Seido - ceremonial objects 2.jpg · Guilhem Vellut · CC BY 2.0
45Yushima Seido - ceremonial objects 4.jpg · Guilhem Vellut · CC BY 2.0
46Seated statue of Confucius of Ashikaga School 2020-02-24.jpg · Asanagi · CC0
47Sekiten.jpg · 源保繁 · Public domain

XINguồn

1Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nội tự
2Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành
3Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu Thái Học
4Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Khổng Tử
5Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối
6Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An
7Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông
8Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Nhân Tông
9Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lê Thánh Tông
10Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Công trình kiến trúc: Điện Đại Thành
11Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nhà Thái Học
12Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Cổng Đại Thành
13Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Lịch sử di tích
14Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt)
15Ho Wei-hsuan, Confucian Temple Reform in the Mid-Ming, Tsing Hua Journal of Chinese Studies 47 số 1, 2017 (tóm tắt)
16Wikipedia, Temple of Confucius
17Wikipedia, Temple of Confucius, Qufu
18UNESCO, Temple and Cemetery of Confucius and the Kong Family Mansion in Qufu
19China Daily, Temple of Confucius: a temple to harmony and peace, 2019
20Bảo tàng Penn, bản rập Portrait of the First Teacher, Confucius, Propagating his Teachings (29-25-21)
21Thư viện Đại học Melbourne, Confucian Stone Rubbings
22Asia Society, Visible Traces, Portrait of Confucius (bản rập)
23Wikipedia, Confucius
24Wikipedia, Disciples of Confucius
25Wikipedia, Four Sages
26Wikimedia Commons, trang tệp Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old (dẫn Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc)
27Wikimedia Commons, trang tệp ảnh của John Thomson, kèm lời tả của ông (dẫn Thư viện Beinecke)
28Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple
29Lại Huệ Mẫn (Viện Nghiên cứu Trung ương, Đài Loan), bài về tế khí kim loại thời Càn Long, Cố cung học thuật quý san 37 số 3
30Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu
31Wikipedia, Taipei Confucius Temple
32Đại học Sungkyunkwan, A Tradition of Excellence
33Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, Confucius ritual in spring
34The Korea Times, Confucius to be honored in ancient ceremony, 2016
35UNESCO, Quyết định 6.COM 13.43 về hồ sơ Seokjeon Daeje, 2011
36Wikipedia, Munmyo
37Wikipedia, Seokjeon Daeje
38Wikipedia, Yushima Seidō
39Mạng Khổng Tử Trung Quốc (chinakongzi.org, dẫn Tân Hoa xã), Yushima Seido of Tokyo, Japan
40Wikipedia, Temple of Literature, Hanoi
41Wikipedia, Văn Miếu Quốc Tử Giám
42Wikipedia, Văn miếu (Huế)
43Wikipedia, Văn miếu Mao Điền
44Wikipedia, Văn miếu Xích Đằng
45Wikipedia, Văn miếu Trấn Biên
46Wikipedia, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
47Wikipedia, Văn miếu
48Báo Tiền Phong, Bên trong di tích Văn Miếu 200 năm tuổi vừa hạ giải đại trùng tu
49Khám phá Huế (khamphahue.com.vn), Spiritual Encouragement of Education during the Nguyen Dynasty
50Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 12 năm 2013, Văn miếu, văn từ, văn chỉ trong lịch sử Việt Nam (tóm tắt)

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Văn miếu thờ tượng hay thờ bài vị

Cả hai cách đều có. Năm 1530 nhà Minh thay tượng bằng bài vị trong các miếu của triều đình, riêng miếu gốc ở Khúc Phụ vẫn giữ tượng. Ngày nay Bắc Kinh, Seoul và các miếu ở Đài Loan thờ bài vị. Văn Miếu Hà Nội có cả tượng lẫn bài vị. Yushima Seidō ở Tokyo thờ tượng.

Bài vị Khổng Tử ghi chữ gì

Thường ghi danh hiệu Chí Thánh Tiên Sư kèm chữ thần vị. Bài vị ở Khổng miếu Đài Bắc ghi Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử. John Thomson, người chụp bài vị ở Bắc Kinh thế kỷ 19, cho biết thẻ gỗ ở đó khắc cả chữ Mãn và chữ Hán.

Tứ Phối là những ai

Là bốn vị được thờ chung và phối hưởng với Khổng Tử: Phục Thánh Nhan Tử, Tông Thánh Tăng Tử, Thuật Thánh Tử Tư và Á Thánh Mạnh Tử. Nhan Tử và Tăng Tử là học trò của Khổng Tử, Tử Tư là cháu nội của Ngài, Mạnh Tử là học trò của Tử Tư.

Chân dung Khổng Tử đứng chắp tay có phải vẽ từ người thật không

Không. Không có chân dung nào làm lúc Khổng Tử còn sống. Hình đứng chắp tay quen thuộc truyền qua các bản rập bia đá, bia ghi là theo tranh của Ngô Đạo Tử đời Đường, tức hơn một nghìn năm sau Khổng Tử. Ngay tên Ngô Đạo Tử cũng chưa được xác nhận.

Vì sao Văn Miếu Hà Nội thờ cả thầy Chu Văn An và ba vị vua

Chu Văn An là Tư nghiệp Quốc Tử Giám thời Trần, khi mất được vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ ở Văn Miếu. Ba vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông là những người dựng Văn Miếu, lập Quốc Tử Giám và dựng bia Tiến sĩ. Tượng bốn vị đều đúc năm 2003, đặt ở khu Thái Học dựng lại năm 2000.

Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại

Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: mũ áo, thế tay, chữ trên bài vị. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh hiền. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.

›Đọc Tiếp