Trang này gom hình thờ của Nho giáo: trong văn miếu người ta đặt gì ở chính giữa, vì sao có nơi là tượng, có nơi chỉ là một tấm bài vị, Đức Khổng Tử được vẽ ra sao, bốn vị Tứ Phối là ai, và điện Đại Thành bày thế nào. Thư viện dùng ảnh chụp tượng, tranh và bài vị thật đang ở miếu hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh hiền. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Phần Văn Miếu Quốc Tử Giám theo trang chính thức của di tích.
ITượng Hay Bài Vị
Người vào một ngôi chùa sẽ gặp tượng. Người vào một văn miếu thì có nơi gặp tượng, có nơi chỉ gặp một thẻ gỗ ghi tên. Thẻ gỗ ấy là bài vị, còn gọi là thần vị (神位). Vì sao có hai cách thờ là câu chuyện chính của hình thờ Nho giáo, và nó có mốc thời gian rõ ràng: năm 1530.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.Theo nhà nghiên cứu Julia K. Murray, cho tới năm 1530 các miếu do triều đình dựng trên khắp Trung Hoa đều thờ tượng Khổng Tử cùng một số học trò và hậu Nho, mỗi năm tế hai kỳ. Mũ áo của tượng làm theo tước hiệu mà các hoàng đế truy phong, giống cách tạc tượng các vị thần của Đạo giáo và Phật giáo. Chính sự giống nhau ấy khiến các nhà Nho chuyên về lễ phản đối.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).Cuộc cải cách lễ năm 1530, đời Gia Tĩnh nhà Minh, thay tượng bằng bài vị có khắc chữ. Tước vương của Khổng Tử cũng được đổi thành danh hiệu Chí Thánh Tiên Sư. Wikipedia ghi thêm rằng trước đó Minh Thái Tổ đã lệnh cho các miếu mới dựng chỉ đặt bài vị, và việc thờ tượng từng bị chê là bắt chước chùa Phật.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.



Lệnh bỏ tượng không áp dụng cho ngôi miếu gốc ở Khúc Phụ, quê Khổng Tử, nơi con cháu họ Khổng trông coi. Sau năm 1530, các sách địa chí còn in lại bản vẽ pho tượng ở Khúc Phụ, và theo bà Murray, chính những bản in ấy giúp việc thờ Khổng Tử lan rộng trong dân.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Wikipedia, Temple of Confucius.Bà Murray nêu lý do về lễ: tượng Khổng Tử trông quá giống tượng thần của đạo khác. Ông Ho Wei-hsuan thì cho rằng Trương Thông, người thi hành cuộc cải cách năm 1530, hành động vì tính toán chính trị, còn đề xuất gốc của Trình Mẫn Chính năm 1488 mới dựa trên kinh học. Một trang của chính quyền thành phố Đào Viên (Đài Loan) giải thích theo cách khác: sách Luận Ngữ chép rằng Khổng Tử không nói chuyện quái, lực, loạn, thần, nên trong Khổng miếu chỉ thờ bài vị có chữ. Thư viện ghi cả ba cách giải thích và không chọn bên nào.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt). Ho Wei-hsuan, Confucian Temple Reform in the Mid-Ming, Tsing Hua Journal of Chinese Studies 47 số 1, 2017 (tóm tắt). Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu.Ngày nay tượng Khổng Tử lại xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng thường là tượng đứng ngoài sân chứ không phải tượng thờ trong điện. Bà Murray ghi rằng các tượng mới này dựa trên hình ảnh Khổng Tử là người thầy, làm trước hết ở Đài Loan, rồi Hồng Kông và cộng đồng người Hoa ở các nước, sau cùng mới tới Trung Quốc đại lục.
Nguồn: Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).

IIChân Dung Đức Khổng Tử
Không có bức tranh hay pho tượng nào làm từ lúc Khổng Tử còn sống truyền lại tới nay. Hình Khổng Tử chỉ bắt đầu được vẽ từ thời Hán. Bức sớm nhất hiện biết tìm thấy trong mộ Hải Hôn hầu, người mất năm 59 trước Công nguyên. Vì vậy mọi chân dung về sau đều là hình dung của người đời sau. Mỗi kiểu chân dung cho thấy một cách nhìn về Ngài: người thầy, vị quan, hay bậc vương giả.
Nguồn: Wikipedia, Confucius. Julia K. Murray, Idols in the Temple: Icons and the Cult of Confucius, The Journal of Asian Studies 68, 2009 (tóm tắt).Khổng Tử hành giáo
先師孔子行教像Nhận ra: Đứng, hơi nghiêng mình, hai tay chắp trước ngực, áo dài tay rộng, râu dàiĐây là hình Khổng Tử quen mắt nhất, gặp trên sách, trên tượng đá ở sân trường và sân miếu. Hình này truyền qua các bản rập bia đá. Bia thường được ghi là theo tranh của Ngô Đạo Tử, họa sĩ đời Đường. Bảo tàng Penn viết rằng không còn bản gốc nào của Ngô Đạo Tử, nên không thể xác nhận. Asia Society cho rằng tấm bia có lẽ được khắc vào đời Minh, khoảng niên hiệu Chính Đức hoặc Gia Tĩnh. Bài tán khắc kèm là của Trần Phượng Ngô (1475 tới 1541).


Chân dung bán thân thời Nguyên
至聖先賢半身像Nhận ra: Nửa người, khăn vải trùm đầu, râu dài, nhãn giấy ghi tước hiệu ở góc trênTập tranh gồm sáu mươi tờ, vẽ 120 bậc Nho từ thời Xuân Thu tới thời Nguyên. Tờ đầu vẽ Khổng Tử, nhãn ghi "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương". Căn cứ vào các tước hiệu trên nhãn, tập tranh được cho là làm sau năm 1330.

Khổng Tử yến cư và Khổng Tử làm Tư khấu
Nhận ra: Yến cư: khăn và áo thường. Tư khấu: mũ áo quan, phía trên có bài tánBà Murray viết rằng hình Khổng Tử trong dáng người thầy, không mang vẻ thần linh, có gốc từ một bức chân dung truyền trong dòng họ Khổng qua nhiều đời. Hai bức ở đây thuộc nhóm tranh của họ Khổng ở Khúc Phụ. Trang chính thức của Văn Miếu Hà Nội nhắc rằng Khổng Tử từng làm Đại Tư khấu, chức quan coi việc hình pháp của nước Lỗ.


Khổng Tử trong tranh Nhật Bản và sách châu Âu
Nhận ra: Mỗi nơi vẽ theo mũ áo mình hình dungTranh của Kanō Sansetsu vẽ năm 1632, nay ở Bảo tàng Quốc gia Tokyo. Bức in năm 1687 nằm trong cuốn Confucius Sinarum Philosophus, đặt Khổng Tử đứng trước một thư viện. Hai bức này cho thấy hình Khổng Tử đã đi xa tới đâu, chúng không phải hình thờ.


IIITứ Phối Và Các Bậc Tiên Hiền
Khổng Tử không được thờ một mình. Trang chính thức của Văn Miếu Quốc Tử Giám viết: Tứ Phối là bốn vị Thánh được thờ chung với Đức Khổng Tử và được phối hưởng mỗi khi cúng tế. Bốn vị nối nhau thành một dòng truyền đạo: hai học trò của Khổng Tử, cháu nội của Ngài, rồi học trò của người cháu ấy.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Tứ Phối. Wikipedia, Four Sages.Phục Thánh Nhan Tử
Nhan Hồi, tự Tử UyênNhận ra: Đứng đầu Tứ Phối. Trong tập tranh thời Nguyên, Ngài đội khăn xanhNgười nước Lỗ, học trò được Khổng Tử khen nhất, nổi tiếng an bần lạc đạo: một nắm cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẹp. Ngài mất khi mới 32 tuổi. Gọi là Phục Thánh vì biết sửa mình khôi phục lễ.


Tông Thánh Tăng Tử
Tăng SâmNhận ra: Thường đi cặp với Mạnh Tử trên ban thờ Văn Miếu Hà NộiHọc trò của Khổng Tử, nổi tiếng với câu mỗi ngày ba lần xét lại mình. Sách Đại Học và Hiếu Kinh được coi là do Ngài ghi lại lời thầy. Ngài truyền đạo cho Tử Tư.

Thuật Thánh Tử Tư
Khổng CấpNhận ra: Cháu nội Khổng TửCon của Khổng Lý, học trò của Tăng Tử, soạn sách Trung Dung. Gọi là Thuật Thánh vì có công truyền thuật tư tưởng của ông nội.

Á Thánh Mạnh Tử
Mạnh KhaNhận ra: Bậc thánh thứ hai sau Khổng Tử, có miếu riêng ở Trâu ThànhNgười đất Trâu, thời Chiến Quốc, học ở trường của Tử Tư. Ngài chủ trương tính thiện và nêu tư tưởng dân vi quý. Sách Mạnh Tử gồm bảy thiên.


Năm sinh, năm mất của bốn vị mỗi nguồn ghi một khác, nên trang này không ghi.
Sau Tứ Phối là ai
Kế Tứ Phối là nhóm các bậc triết. Ở Văn Miếu Hà Nội, trang chính thức ghi điện Đại Thành thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập triết, tức mười vị. Ở Trung Hoa và ở Văn Miếu Huế, nhóm này là mười hai vị. Rồi tới các bậc tiên hiền và tiên Nho, thờ ở hai dãy nhà hai bên sân. Danh sách dài dần theo thời gian: tới thời Dân quốc, Wikipedia ghi tổng cộng 162 vị.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành. Wikipedia, Văn miếu (Huế). Wikipedia, Temple of Confucius.Con số bảy mươi hai người hiền, quen gọi là Thất thập nhị hiền, là số học trò được coi là nắm được đạo của thầy trong ba nghìn người theo học. Sử cũ chép rằng năm 1070, Văn Miếu Thăng Long đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, còn bảy mươi hai vị hiền thì vẽ hình để thờ.
Nguồn: Wikipedia, Disciples of Confucius. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông.

IVĐiện Đại Thành Bày Thế Nào
Văn miếu ở nước nào cũng theo một bố cục chung, đi từ ngoài vào trong theo một trục thẳng. Cổng ngoài gọi là Linh Tinh môn. Qua Đại Thành môn (大成門) là sân chính và tòa điện chính, gọi là Đại Thành điện (大成殿). Hai bên sân là hai dãy nhà dài, người Việt gọi là Đông vu và Tây vu. Phía sau có đền thờ tổ tiên của Khổng Tử, gọi là Sùng Thánh từ (崇聖祠). Ở Việt Nam đền này mang tên Khải Thánh, thờ cha mẹ Khổng Tử.
Nguồn: Wikipedia, Temple of Confucius. Wikipedia, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple.Tên Đại Thành lấy từ lời Mạnh Tử nói về Khổng Tử: Khổng Tử là bậc tập đại thành, nghĩa là người gom được học vấn và đức tốt của các bậc tiên thánh, tiên hiền.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Cổng Đại Thành.Sơ đồ gom điểm chung của các nguồn. Mỗi miếu có khác biệt riêng. Ở Khúc Phụ, trước điện còn có Hạnh Đàn (杏壇), nơi tương truyền Khổng Tử ngồi giảng dưới gốc cây hạnh, và sau điện có Tẩm điện thờ phu nhân của Ngài.




Ông Thomas A. Wilson, người quay phim lễ tế mùa thu ở Khúc Phụ, tóm tắt: Khổng Tử, các bậc thánh, các vị phối hưởng và các bậc triết được tế trong điện chính, còn các bậc hiền và các nhà Nho được tế ở hai dãy hành lang phía Đông và phía Tây. Đồ tế được nấu ở Thần trù, tức bếp thần, đặt ở một góc khu miếu.
Nguồn: Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple.Tượng Khổng Tử, ở những nơi có tượng, quay mặt về hướng Nam. Trang chính thức của Văn Miếu Hà Nội dẫn câu: thánh nhân ngồi quay về hướng Nam để nghe được hết lời của thiên hạ.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Danh nhân: Khổng Tử.VVăn Miếu Quốc Tử Giám Ở Hà Nội
Văn Miếu được khởi dựng năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông, là nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền, tiên Nho. Trang chính thức của di tích dẫn Đại Việt sử ký toàn thư: mùa thu tháng 8 dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, hoàng thái tử đến học ở đây. Như vậy ngay từ đầu, Văn Miếu Thăng Long đã thờ bằng tượng. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám bên cạnh.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nội tự. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Vua Lý Thánh Tông. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Lịch sử di tích.Khu điện Đại Thành
Lớp không gian thứ tư của di tích là khu điện Đại Thành. Giữa là sân Đại Bái, hai dãy nhà Đông và Tây chạy dọc hai bên. Tòa phía trước là Bái Đường, nơi xưa kia làm lễ tế Khổng Tử. Gian giữa Bái Đường đặt hương án và đồ thờ, hai bên là đôi hạc đồng đứng trên lưng rùa, phía trên treo bức hoành "Vạn thế sư biểu", nghĩa là người thầy tiêu biểu của muôn đời.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Công trình kiến trúc: Điện Đại Thành.

Sau Bái Đường là điện Đại Thành, chín gian, tường kín ba mặt, nối với Bái Đường bằng một tiểu đình. Trang chính thức viết: điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập triết. Gian chính giữa là tượng Đức Khổng Tử, mặt nhìn về hướng Nam, phía sau là khám thờ, trên có bài vị. Văn Miếu Hà Nội vì thế có cả tượng lẫn bài vị.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu điện Đại Thành.Tượng Đức Khổng Tử
Nhận ra: Ngồi trên ngai, đội mũ phốc đầu, hai bàn tay ốp vào nhau trước ngựcTrang chính thức tả: gương mặt đầy đặn, phương phi, mắt sáng, hai tai lớn và dày. Tượng ngồi trên ngai, chân buông cân đối phía trước, mặc áo thụng dài, ống tay rất rộng. Hai bàn tay ốp vào nhau trước ngực, tay phải úp đặt trên tay trái ngửa. Tượng tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng.

Tượng Tứ Phối
Nhận ra: Bốn pho ngồi thành hai cặp ở hai bên gian giữa, sơn son thếp vàngWikipedia tiếng Việt ghi bốn vị ngoài bài vị ra đều có tượng gỗ sơn thếp, một bên là Tăng Tử và Mạnh Tử, một bên là Nhan Tử và Tử Tư. Hai gian đầu hồi có hai khám lớn thờ Thập triết.

Khu Thái Học: thầy Chu Văn An và ba vị vua
Khu sau cùng vốn là Quốc Tử Giám. Thời Nguyễn, nơi này thành đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1946 toàn khu bị đốt phá trong chiến tranh. Khu Thái Học ngày nay khởi công năm 1999 và xong năm 2000. Nhà Hậu Đường có hai tầng. Tầng dưới thờ thầy Chu Văn An, Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Tầng trên thờ ba vị vua có công với Văn Miếu Quốc Tử Giám: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Nhà Thái Học. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Khu Thái Học.Thầy Chu Văn An (1292 tới 1370)
Nhận ra: Tượng đồng ngồi, mũ áo quan, tay cầm cuốn sáchNgười làng Quang Liệt, mở trường dạy học rồi được vua Trần Minh Tông mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy gian thần, vua không nghe, ông từ quan về Chí Linh. Khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ ở Văn Miếu. Tượng hiện nay bằng đồng, đúc năm 2003, nặng khoảng 3 tấn kể cả ngai.


Ba vị vua
Nhận ra: Tượng đồng ngồi ngai, đội mũ miệnLý Thánh Tông dựng Văn Miếu năm 1070. Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên năm 1075 và lập Quốc Tử Giám năm 1076. Lê Thánh Tông mở rộng Quốc Tử Giám năm 1483 và cho dựng những tấm bia Tiến sĩ đầu tiên năm 1484. Ba pho tượng đều do nghệ nhân làng Ngũ Xã, Hà Nội đúc năm 2003, mỗi pho cao 1,4 mét, nặng chừng một tấn.


Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở và nguồn gốc rõ ràng của tượng vua Lê Thánh Tông.
VICác Văn Miếu Khác Ở Việt Nam
Từ Văn Miếu ở kinh đô, việc thờ Khổng Tử lan về các trấn, các tỉnh, rồi tới làng xã với các văn từ, văn chỉ. Một bài trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2013 đã lần theo quá trình ấy từ năm 1070 qua các triều đại. Dưới đây là mấy văn miếu còn lại, kèm cách thờ ở từng nơi theo nguồn đã đọc.
Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 12 năm 2013, Văn miếu, văn từ, văn chỉ trong lịch sử Việt Nam (tóm tắt). Wikipedia, Văn miếu.Văn Miếu Huế (Văn Thánh)
Dựng năm 1808, đời vua Gia Long, bên bờ sông Hương. Wikipedia tiếng Việt ghi: khi dựng miếu, vua Gia Long cho làm đồ tự khí mới và thay tượng thánh hiền bằng bài vị. Triều Nguyễn còn buộc các địa phương đang thờ Khổng Tử bằng tượng phải đổi sang bài vị gỗ, vì coi thờ bằng hình tượng là thiếu trang trọng với người đã khuất. Thư viện mới thấy điều này ở một nguồn. Điện Đại Thành thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập nhị triết, hai dãy vu thờ tiên hiền, tiên Nho. Trước miếu có 32 tấm bia khắc tên 293 Tiến sĩ triều Nguyễn, từ khoa thi năm 1822 tới khoa cuối năm 1919. Di tích đang được trùng tu lớn.

Văn miếu Mao Điền
Văn miếu của trấn Hải Dương xưa, dời về Mao Điền năm 1801. Phần chính gồm hai tòa nhà lớn bảy gian, có Đông vu, Tây vu và đền Khải Thánh thờ thân phụ, thân mẫu của Khổng Tử. Xưa kia mỗi năm trấn tổ chức tế Khổng Tử vào ngày Đinh đầu tháng trọng xuân (tháng hai) và trọng thu (tháng tám).
Nguồn: Wikipedia, Văn miếu Mao Điền.Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên)
Dựng từ cuối thời Lê, trùng tu lớn năm 1839. Khu nội tự kiểu chữ Tam, gồm tiền tế, trung từ và hậu cung. Miếu thờ Khổng Tử và các bậc hiền của Nho gia, cùng thờ với Khổng Tử là thầy Chu Văn An. Còn lại 9 tấm bia đá ghi tên các nhà khoa bảng.

Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai)
Văn miếu đầu tiên ở Đàng Trong, dựng năm 1715, bị phá năm 1861, dựng lại từ năm 1998 tới 2002. Trịnh Hoài Đức tả miếu cũ có Đại Thành điện, Đại Thành môn, cửa Kim Thanh, cửa Ngọc Chấn, Khuê Văn các, và đồ thờ có thần bài, khám vàng cùng đồ phủ, quỹ, biên, đậu. Công trình mới bày khác hẳn: nhà thờ chính có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở gian giữa, hai bên thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam và danh nhân đất Nam Bộ. Khổng Tử được thờ ở một nhà bia phía trước.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Cuối đường thần đạo là điện Đại Thành. Chính điện thờ Khổng Tử, hai bên thờ Tứ Phối và Thập triết. Hai gian nhà Tả vu, Hữu vu thờ Thất thập nhị hiền. Trong khuôn viên còn có Tụy Văn lâu, tầng dưới có khám thờ đặt bài vị Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản.

VIIHình Thờ Khổng Tử Qua Từng Nước
Văn miếu theo chân Nho học tới Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Ở Indonesia cũng có nơi thờ Khổng Tử, lớn và lâu đời nhất là Boen Bio ở Surabaya, dựng năm 1883 và dời tới chỗ mới năm 1907. Thư viện chưa có ảnh có giấy phép mở của Boen Bio.
Nguồn: Wikipedia, Temple of Confucius.Trung Quốc
Khổng miếu Khúc Phụ dựng từ năm 478 trước Công nguyên, bị phá và dựng lại nhiều lần, nay có hơn 100 công trình và hơn 1.000 tấm bia. Điện Đại Thành dài 54 mét, rộng 34 mét, đỡ bằng 28 cột đá, mười cột mặt trước chạm rồng cuốn. Năm 1724 một trận cháy phá gần hết điện và các pho tượng bên trong, việc dựng lại xong năm 1730. Nhiều tượng làm lại bị hư hại và phá hủy năm 1966. Lễ tế hằng năm vào ngày sinh Khổng Tử được nối lại năm 1984. Ở Khổng miếu Bắc Kinh, John Thomson vào thế kỷ 19 tả bài vị là một thẻ gỗ trơn khắc chữ Mãn và chữ Hán, hai bên là bài vị bốn học trò lớn. Hai vị trong Tứ Phối có miếu riêng ở Sơn Đông: Nhan miếu ở Khúc Phụ và Mạnh miếu ở Trâu Thành, cả hai đều thờ tượng.





Đài Loan
Khổng miếu Đài Nam dựng năm 1665, là ngôi sớm nhất trên đảo. Khổng miếu Đài Bắc dựng năm 1879, bị dỡ năm 1907 và dựng lại trong những năm 1925 tới 1939. Các miếu ở đây thờ bài vị. Trang của chính quyền thành phố Đào Viên viết rằng Khổng miếu không bày nhiều tượng thần như chùa hay miếu dân gian, bên trong chỉ thờ bài vị có chữ. Mỗi năm vào ngày 28 tháng 9 có lễ tế với nhạc và múa cổ.



Hàn Quốc
Văn miếu (Munmyo) nằm trong Thành Quân Quán ở Seoul. Đại Thành Điện dựng lần đầu năm 1398, cháy trong cuộc xâm lược năm 1592 và được dựng lại đầu thế kỷ 17. Trong điện thờ bài vị của Khổng Tử và các bậc hiền: Khổng Tử, bốn vị Tứ Phối, mười học trò, sáu nhà Nho đời Tống và mười tám bậc hiền của Triều Tiên, tổng cộng 39 vị. Lễ Thích điện (Seokjeon) được giữ mỗi năm hai kỳ, vào tháng hai và tháng tám âm lịch.


Nhật Bản
Yushima Seidō ở Tokyo có gốc từ miếu và trường của nhà Nho Hayashi Razan đầu thế kỷ 17. Tướng quân Tokugawa Tsunayoshi dời về chỗ hiện nay năm 1690, có nguồn ghi năm 1691. Các tòa nhà thời Edo sập trong trận động đất năm 1923, điện hiện nay do kiến trúc sư Itō Chūta thiết kế, xong năm 1935. Khác với Bắc Kinh và Seoul, nơi đây thờ tượng: tượng Khổng Tử trong khám và tượng bốn vị Tứ Phối. Ngoài sân có pho tượng Khổng Tử lớn do Lions Club Đài Bắc tặng năm 1975. Lễ tế Khổng Tử làm vào chủ nhật thứ tư của tháng 4 hằng năm. Trường Ashikaga ở tỉnh Tochigi cũng có một Khổng miếu thờ tượng Khổng Tử ngồi.





VIIILễ Thích Điện Và Đồ Tế
Lễ tế Khổng Tử có tên chữ là Thích điện (釋奠), người Hàn đọc là Seokjeon, người Nhật đọc là sekiten. Lần tế đầu tiên của một hoàng đế thường được tính từ năm 195 trước Công nguyên, khi Hán Cao Tổ tới tế ở nước Lỗ. Nhạc và múa của lễ được định chuẩn lần đầu năm 485, đời Nam Tề. Vì trong điện là bài vị chứ không phải tượng, những gì bày trước bài vị trong ngày tế, tức đồ tế, nhạc khí và điệu múa, mới là phần hình ảnh của Nho giáo.
Nguồn: Thomas A. Wilson (Hamilton College), Autumnal Sacrifice to Confucius: Temple. Wikipedia, Temple of Confucius. Wikipedia, Seokjeon Daeje.Đồ tế
John Thomson tả lễ ở Bắc Kinh thế kỷ 19: trước bài vị có một hương án đơn sơ, trên đặt lư đồng, hai bên là chân đèn đồng. Tới kỳ tế xuân và tế thu, bò và dê được mổ, đặt lên giá trước bài vị. Ông viết thêm: người ta tế là tế thần của bậc thánh, được coi là ngự trong bài vị.
Nguồn: Wikimedia Commons, trang tệp ảnh của John Thomson, kèm lời tả của ông (dẫn Thư viện Beinecke).Bảng dựa trên bài của bà Lại Huệ Mẫn về bộ tế khí kim loại vua Càn Long cho làm. Công dụng của đăng, hình và trở trong bài được tả ở phần nói về Thái miếu. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng kể văn miếu Trấn Biên xưa có đồ phủ, quỹ, biên, đậu.




Nhạc và múa
Nhạc tế là nhã nhạc, dùng chuông, khánh, đàn, sáo và trống. Trang của chính quyền Đào Viên kể: biên chung là mười sáu quả chuông kim loại treo thành tầng, biên khánh là mười sáu phiến đá cong, gõ lên cho tiếng cao thấp khác nhau. Còn có đàn cầm, đàn sắt hai mươi lăm dây và huân, một nhạc khí bằng gốm để thổi. Điệu múa là bát dật (八佾舞): tám hàng, mỗi hàng tám người. Ở Seoul, lễ có 64 vũ sinh. Số nhạc công thì mỗi nguồn ghi một khác.
Nguồn: Cục Dân chính thành phố Đào Viên (Đài Loan), Lễ khí và nhạc khí của Khổng miếu. Wikipedia, Temple of Confucius. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, Confucius ritual in spring. UNESCO, Quyết định 6.COM 13.43 về hồ sơ Seokjeon Daeje, 2011.


Ở Việt Nam, tên hai cổng nhỏ bên cổng Đại Thành của Văn Miếu Hà Nội cũng lấy từ nhạc tế. Kim Thanh là tiếng chuông mở đầu, Ngọc Chấn là tiếng khánh kết thúc một bài nhạc. Ngày nay nhà Bái Đường là nơi các trường học và dòng họ về làm lễ dâng hương khuyến học, khuyến tài.
Nguồn: Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Cổng Đại Thành. Văn Miếu Quốc Tử Giám (trang chính thức), Công trình kiến trúc: Điện Đại Thành.IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là người theo Nho học, người trông coi văn miếu hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn miếu thờ tượng hay thờ bài vị
Cả hai cách đều có. Năm 1530 nhà Minh thay tượng bằng bài vị trong các miếu của triều đình, riêng miếu gốc ở Khúc Phụ vẫn giữ tượng. Ngày nay Bắc Kinh, Seoul và các miếu ở Đài Loan thờ bài vị. Văn Miếu Hà Nội có cả tượng lẫn bài vị. Yushima Seidō ở Tokyo thờ tượng.
Bài vị Khổng Tử ghi chữ gì
Thường ghi danh hiệu Chí Thánh Tiên Sư kèm chữ thần vị. Bài vị ở Khổng miếu Đài Bắc ghi Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử. John Thomson, người chụp bài vị ở Bắc Kinh thế kỷ 19, cho biết thẻ gỗ ở đó khắc cả chữ Mãn và chữ Hán.
Tứ Phối là những ai
Là bốn vị được thờ chung và phối hưởng với Khổng Tử: Phục Thánh Nhan Tử, Tông Thánh Tăng Tử, Thuật Thánh Tử Tư và Á Thánh Mạnh Tử. Nhan Tử và Tăng Tử là học trò của Khổng Tử, Tử Tư là cháu nội của Ngài, Mạnh Tử là học trò của Tử Tư.
Chân dung Khổng Tử đứng chắp tay có phải vẽ từ người thật không
Không. Không có chân dung nào làm lúc Khổng Tử còn sống. Hình đứng chắp tay quen thuộc truyền qua các bản rập bia đá, bia ghi là theo tranh của Ngô Đạo Tử đời Đường, tức hơn một nghìn năm sau Khổng Tử. Ngay tên Ngô Đạo Tử cũng chưa được xác nhận.
Vì sao Văn Miếu Hà Nội thờ cả thầy Chu Văn An và ba vị vua
Chu Văn An là Tư nghiệp Quốc Tử Giám thời Trần, khi mất được vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ ở Văn Miếu. Ba vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông là những người dựng Văn Miếu, lập Quốc Tử Giám và dựng bia Tiến sĩ. Tượng bốn vị đều đúc năm 2003, đặt ở khu Thái Học dựng lại năm 2000.
Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại
Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: mũ áo, thế tay, chữ trên bài vị. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh hiền. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.