Thờ cúng tổ tiên không thờ một vị thần có hình tướng. Trang này trả lời một câu hỏi khác: trên bàn thờ, cái gì thay mặt ông bà đã khuất, và quanh đó bày những gì. Câu trả lời xưa nhất là một cái tên viết trên gỗ, gọi là thần chủ hay bài vị. Di ảnh là lớp đến sau. Thư viện dùng ảnh chụp bàn thờ và đồ thờ thật: ảnh màu chụp ở Hà Nội và Hà Đông năm 1914 tới 1915, hiện vật bảo tàng, nhà thờ họ và nhà cổ. Thư viện không dùng ảnh di ảnh của các gia đình. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ.
ICái Gì Thay Mặt Tổ Tiên Trên Bàn Thờ
Bàn thờ tổ tiên của người Việt không có tượng thần. Thứ đứng ở chỗ trang trọng nhất là tên của người đã khuất, viết trên một thẻ gỗ gọi là thần chủ hay bài vị, đặt trong khám hoặc trên một chiếc ngai. Ảnh chân dung, quen gọi là di ảnh, là lớp đến sau. Phan Kế Bính, trong sách in năm 1915, kể rất kỹ thần chủ và đồ thờ mà không nhắc tới ảnh.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource. Wikipedia, Nhà thờ họ. Wikipedia, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.


Thần chủ
còn gọi bài vị, linh vịNhận ra: Thẻ gỗ đứng, giữa đề tên họ và chức tước, thường cất trong hộp hoặc trong khámTheo Phan Kế Bính, thần chủ làm bằng gỗ táo, lấy nghĩa gỗ táo sống được nghìn năm. Thẻ dài độ một thước ta. Ở giữa đề tên họ, chức tước. Hai bên đề ngày tháng sinh và mất. Thần chủ có hộp vuông che kín, để trong long khám, khi nào cúng tế mới mở ra. Nhà phú quý có đủ thần chủ bốn đời: cao, tằng, tổ, khảo, tức kỵ, cụ, ông, cha.

Ngũ đại mai thần chủ
Nhận ra: Chỉ thờ thần chủ bốn đời, tới đời thứ năm thì đem chôn thần chủ đời xa nhấtPhan Kế Bính ghi: hễ tới năm đời thì đem thần chủ ông cao tổ mai đi, tức là chôn đi, rồi nhắc lần tằng, tổ, khảo lên bậc trên, và đưa người mới mất vào chỗ thần chủ ông khảo. Lệ này gọi là ngũ đại mai thần chủ. Riêng nhà thờ thủy tổ của cả họ có một thần chủ thờ mãi mãi, không bao giờ thay, gọi là bách thế bất diêu chi chủ.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource.Ngai thờ và bộ ỷ
ngai tay chạm rồng còn gọi long ngaiNhận ra: Chiếc ghế nhỏ sơn son thếp vàng đặt ở lớp trong cùng, bên trên để trống hoặc đặt bài vịPhan Kế Bính viết rằng nhà thường dân có nhà dùng thần chủ, có nhà chỉ dùng một bộ ỷ để thờ. Wikipedia tiếng Việt, mục Nhà thờ họ, tả bệ thờ đặt linh tọa hoặc ngai, tay ngai chạm hình rồng nên còn gọi là long ngai. Ngai là nơi để bài vị tổ tiên, hoặc một ống quyển hay hộp sơn son thếp vàng đựng gia phả, bên ngoài phủ nhiễu điều. Chiếc ngai trong ảnh là hiện vật bảo tàng, thư viện không rõ nó từng thờ ai.


Bài vị Cửu Huyền Thất Tổ
九玄七祖Nhận ra: Một bài vị hoặc một tấm tranh kiếng đề bốn chữ, thờ chung mọi đời tổ tiênWikipedia tiếng Việt ghi rằng trên ban thờ gia tiên của nhiều gia đình người Việt có một bài vị chính giữa đề bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ, bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ, và khi khấn thì người chủ lễ khấn Cửu Huyền Thất Tổ để gửi lời tới tất cả các vị. Cũng nguồn ấy cho biết hai cụm Cửu Huyền và Thất Tổ có trong cổ văn Trung Hoa, còn cả cụm thì nay không dùng trong văn hóa Trung Quốc. Ở Nam Bộ, bốn chữ này hay nằm trên tranh kiếng treo sau bàn thờ.
Nguồn: Wikipedia, Cửu Huyền Thất Tổ. Báo Tuổi Trẻ, Tranh kính dân gian dựng bàn thờ gia tiên (21/07/2023).Chân dung: từ tranh thờ tới di ảnh
Trước khi có máy ảnh, một số gia đình và đền thờ có tranh chân dung vẽ tay. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết bức chân dung Nguyễn Trãi ở bảo tàng là bản phục chế từ tranh thờ của đền thờ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trưng bày một bức chân dung bà cụ ở Thái Bình, nhãn ghi năm 1804.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Tranh thờ, một nét di sản văn hóa trong mỹ thuật cổ của người Việt (27/08/2015).

Ngày nay phần lớn bàn thờ có di ảnh. Wikipedia tiếng Việt viết rằng trên bàn thờ có bài vị hay hình ảnh người quá cố, và nhà nào ít nhất cũng treo di ảnh. Một bài trên báo Tuổi Trẻ tả bàn thờ người Sài Gòn cũng kể bài vị hoặc ảnh. Ở Huế còn nghề vẽ truyền thần: chân dung đen trắng vẽ tay theo ảnh để đặt lên bàn thờ, một bài báo năm 2011 ghi nghề này đang mai một.
Nguồn: Wikipedia, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Báo Tuổi Trẻ, Bàn thờ tổ tiên ngày tết của người Sài Gòn ra sao (26/01/2017). Worldcrunch (dịch từ Süddeutsche Zeitung), In Vietnam, souls captured on paper (06/10/2011). Wikipedia, Truyền thần.Thư viện chưa tìm được công trình nghiên cứu nào ghi rõ ảnh chụp lên bàn thờ người Việt từ năm nào. Điều chắc được là: nhiếp ảnh vào Việt Nam trong thế kỷ 19, hiệu ảnh mở ở Hà Nội và Sài Gòn. Wikipedia tiếng Anh, mục Photography in Vietnam, viết rằng nhu cầu có ảnh chân dung gia đình để dùng trong việc thờ tổ tiên là một lý do khiến nhiếp ảnh lan rộng. Sách của Phan Kế Bính năm 1915 chưa kể ảnh trong đồ thờ. Vì vậy trang này chỉ nói di ảnh là tục của thế kỷ 20 trở lại đây, không ghi một mốc năm.
Nguồn: Wikipedia, Photography in Vietnam. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource.Thư viện không dùng ảnh chụp di ảnh của các gia đình. Hai bức chân dung trên đây là một danh nhân lịch sử và một hiện vật bảo tàng.
IIĐồ Thờ Trên Bàn Thờ
Phan Kế Bính kể đồ thờ mà nhà nào cũng có: một bộ đèn nến, lư hương, bình hoa, mâm quỳ, mâm bồng, cỗ đài rượu, hộp trầu, đài nước. Người dùng đồ đồng, đồ thiếc, người dùng đồ gỗ sơn son thếp vàng. Ông viết thêm: nghèo đến đâu cũng có được một vài cây đèn nến sơn son và một cái bình hương, và đồ thờ là thứ không ai dám đem cầm đem bán.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource.Tam sự và ngũ sự
Nhận ra: Tam sự: một lư hoặc đỉnh ở giữa, hai chân đèn hai bên. Ngũ sự: thêm hai món nữaWikipedia tiếng Việt định nghĩa bộ tam sự gồm một lư hay đỉnh hương và hai cây đèn, thường bằng đồng. Bộ ngũ sự là tam sự thêm hai món, nguồn này kể bình hoa, lư trầm, đĩa đèn dầu hoặc đôi hạc tùy từng nhà. Lư để đốt trầm, đèn để thắp sáng. Cũng theo nguồn ấy, ngày Tết nhiều nhà đem bộ lư đồng đi đánh bóng để đón ông bà. Ảnh năm 1915 của Léon Busy cho thấy đôi hạc đồng đứng hai bên chiếc đỉnh.



Bát hương
Nhận ra: Bát tròn bằng sứ hoặc đồng, đựng tro hay cát để cắm hươngBát hương là chỗ cắm nén hương mỗi lần lễ. Phan Kế Bính gọi là bình hương và xếp vào thứ mà nhà nghèo nhất cũng có. Số bát hương trên một bàn thờ thì mỗi nhà, mỗi vùng một khác. Bài trên Vietcetera, dẫn sách của Toan Ánh, ghi ba hoặc năm. Thư viện chưa đọc được nguyên sách nên không ghi con số nào làm lệ.

Hoành phi và câu đối
Phan Kế Bính gọi là hoành biển và đối liễnNhận ra: Tấm biển ngang treo trên cao, đề ba bốn chữ lớn. Hai vế đối treo dọc hai bênTheo Phan Kế Bính, nhà giàu treo hoành biển khắc ba bốn chữ đại tự và treo đối liễn hai bên bàn thờ, hoặc khảm trai, hoặc sơn thếp. Nhà không có thì dán hoành biển và đối liễn bằng giấy. Ý trong chữ là ghi tụng công đức của tổ tông. Tấm hoành phi trong ảnh chụp ở Hà Nội năm 1914 tới 1915 có bốn chữ Hán, thư viện đọc từ ảnh là Thuận đức giả xương (順德者昌).


Mâm ngũ quả
Nhận ra: Mâm trái cây chừng năm thứ, bày trên bàn thờ ngày TếtMâm ngũ quả là mâm trái cây có chừng năm thứ khác nhau, bày trên bàn thờ tổ tiên dịp Tết Nguyên Đán. Tên quả, màu sắc và cách xếp gửi gắm điều gia chủ mong cho năm mới. Mỗi miền chọn quả một khác, xem bảng ở mục Bắc, Trung, Nam bên dưới. Ngày thường, lễ vật có thể rất giản dị. Phan Kế Bính viết: thế nào cũng phải có cơi trầu, bát nước trong, một hồ rượu mới là thành lễ.

Hai cây mía ngày Tết
Nhận ra: Hai cây mía để cả ngọn dựng hai bên bàn thờPhan Kế Bính ghi rằng ngày Tết có nhà dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải, tức tổ tiên.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương XII Tứ thời tiết lạp, bản Wikisource.

IIICách Bài Trí Một Bàn Thờ Gia Tiên
Bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà: gian giữa với nhà một tầng, tầng trên cùng với nhà lầu. Không có một khuôn chung cho cả nước. Sơ đồ dưới đây gom những điểm mà sách Phan Kế Bính và các ảnh chụp năm 1914 tới 1915 ở Hà Nội, Hà Đông cùng cho thấy.
Nguồn: Wikipedia, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource. Bảo tàng Albert-Kahn, Archives de la Planète: chú thích gốc ảnh A5239 của Léon Busy, chép trên Wikimedia Commons.Sơ đồ chỉ để dễ hình dung. Nhà thường dân xưa có khi chỉ một bộ ỷ, vài cây đèn nến và một bình hương.



Ở nhà phú quý xưa có gia từ, tức nhà thờ riêng. Ban giữa thờ cao, tằng, tổ, khảo. Hai ban cạnh thờ Thổ công, Táo quân, Nghệ sư, có nhà thờ Bà Cô, Ông Mãnh. Nhà thường dân không có nhà thờ riêng thì thờ ngay tại nhà mình ở. Phan Kế Bính viết: dẫu nghèo thế nào cũng có một bàn thờ.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource.Nhiều bài phổ thông ghi di ảnh và bài vị xếp theo lệ nam tả nữ hữu. Một bài trên báo Tuổi Trẻ ghi lệ đông bình tây quả của người Sài Gòn: bình hoa bên trái, mâm quả bên phải, tính theo hướng từ trong bàn thờ nhìn ra. Vì ít nguồn nói rõ tính từ phía nào, trang này chỉ ghi bên trái bên phải ở chỗ nguồn có nói rõ.
Nguồn: Vietcetera, 4 bàn thờ phổ biến trong nhà người Việt (bài dẫn sách của Toan Ánh). Báo Tuổi Trẻ, Bí ẩn bàn thờ tổ tiên ngày tết của người Sài Gòn.IVTừ Bàn Thờ Trong Nhà Tới Nhà Thờ Họ
Theo Phan Kế Bính, con cháu dòng dõi trong một họ lập chung một nhà thờ thủy tổ, gọi là từ đường của họ ấy. Nhà thờ này chỉ thờ riêng một vị thủy tổ, khi tế thì các tổ của từng chi được phối hưởng. Mỗi chi lại có nhà thờ riêng gọi là bản chi từ đường. Có họ không có nhà thờ thì xây một cái đàn lộ thiên, dựng bia đá ghi tên các tổ tiên, tới kỳ tế thì ra đó mà tế.
Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), thiên I, chương IV Phụng sự tổ tôn, bản Wikisource.Trong nhà thờ họ có gì
Nhận ra: Bệ thờ ở gian giữa, trên đặt ngai hoặc khám với bài vị thủy tổ, có khi đặt gia phảWikipedia tiếng Việt tả gian giữa nhà thờ họ thường mở rộng ra phía tường hậu, kiểu chuôi vồ, để xây bệ thờ. Trên bệ đặt linh tọa hoặc ngai. Ngai là nơi để bài vị tổ tiên, hoặc hộp sơn son thếp vàng đựng gia phả. Thần chủ thủy tổ thì thờ mãi mãi, không đem chôn như thần chủ trong nhà. Nhà thờ của dòng trưởng, nơi giữ gia phả gốc, gọi là nhà thờ đại tôn.


Gia phả
còn gọi tộc phả, thế phả, phả kýNhận ra: Cuốn sổ chép thế thứ, tên họ, chức tước, ngày sinh ngày mất của tổ tiênPhan Kế Bính viết rằng nhà thờ nào cũng có cuốn sổ ghi thế thứ trước sau, họ tên, chức tước, ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong nhà. Nhà đại gia chép cả công nghiệp, sự trạng, mả táng ở đâu, như một quyển sử ký trong nhà. Gia phả để tại nhà thờ, có họ in ra phát cho mỗi chi một bản. Trước đây gia phả chủ yếu chép bằng chữ Hán và chữ Nôm. Bản Nguyễn tộc gia phả trong ảnh là của một họ ở làng Trung Tự, Hà Nội, chép lại năm 1932, có bài tựa viết năm 1843.


Ruộng kỵ và ngày giỗ tổ
Nhận ra: Ruộng chung của họ, hoa lợi dùng cho việc tế tựHọ nào đã có nhà thờ thì có ruộng kỵ: ruộng hương hỏa tổ tông để lại, hoặc trong họ chung nhau tậu, hoặc của người trong họ cúng. Hoa lợi dùng chi cho việc tế tự. Mỗi năm, vào ngày húy của ông thủy tổ, cả họ họp mặt tại nhà thờ để tế tổ. Tiết thanh minh thì cả họ rủ nhau đi đắp mả tổ. Ba ngày Tết, con cháu đem trầu cau tới nhà thờ lễ tổ.

VBắc, Trung, Nam: Mỗi Miền Một Nếp
Phần này chỉ ghi những khác biệt mà thư viện đọc được trong nguồn. Trong cùng một miền, mỗi họ, mỗi nhà vẫn có lệ riêng.
Miền Bắc
Sách của Phan Kế Bính, in năm 1915, kể thần chủ trong long khám, bộ đèn nến, lư hương, mâm bồng, hoành biển và đối liễn. Loạt ảnh màu của Léon Busy chụp ở Hà Nội và Hà Đông năm 1914 tới 1915 cho thấy đúng những món ấy trên bàn thờ miền Bắc thời đó, thêm hoa thủy tiên, chậu cúc và khăn phủ thêu ngày Tết. Nhà thờ họ phổ biến ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ và ở Trung Bộ.



Huế và miền Trung
Huế có lớp thờ tổ tiên của hoàng tộc: các miếu trong Hoàng thành thờ vua và chúa Nguyễn, xem mục dưới. Ở phố cổ Hội An, một báo cáo khảo sát đăng năm 2018 trên tập Thông tin nghiên cứu Bảo tồn Di sản ghi 312 trên 604 nhà ở và nhà thờ tộc trong khu vực I có thờ ông bà, tổ tiên, tức 51,6 phần trăm. Báo cáo dùng chữ nhà thờ tộc để chỉ nhà thờ họ.


Miền Nam
Báo Tuổi Trẻ tả bàn thờ tổ tiên của người Sài Gòn: bài vị hoặc ảnh, lư hương, chân đèn, bình hoa, mâm quả. Nhà khá giả có thêm hoành phi, liễn đối, bao lam chạm, tranh sơn thủy và đôi hạc đồng đứng trên lưng rùa. Nhà xưa còn có giường thờ kê sau bàn thờ, về sau nhà chật nên bỏ. Lệ bày là đông bình tây quả: một bình hoa bên trái, mâm quả bên phải, tính từ trong bàn thờ nhìn ra. Phía sau bàn thờ hay có tranh kiếng, tức tranh vẽ ngược lên mặt sau tấm kính, đề Cửu Huyền Thất Tổ.


Mâm ngũ quả của ba miền
VIMiếu Thờ Vua Và Đền Thờ Quốc Tổ
Thế Miếu ở Huế
Thế Miếu, tên đủ là Thế Tổ Miếu, nằm ở góc tây nam Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vua triều Nguyễn. UNESCO ghi Thế Miếu và Thái Miếu, nơi thờ chín chúa Nguyễn, trong Quần thể di tích Cố đô Huế, ghi danh năm 1993. Vua Minh Mạng cho dựng miếu để thờ vua Gia Long, về sau miếu thành nơi thờ các vua kế tiếp. Bên trong, án thờ vua Gia Long và hai hoàng hậu ở gian chính giữa, án thờ các vua sau xếp dần ra hai bên. Trước năm 1958 có bảy án thờ. Ba vua chống Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân được rước vào thờ sau, nay miếu thờ mười vị vua.
Nguồn: UNESCO, Quần thể di tích Cố đô Huế. Wikipedia, Thế Tổ miếu (Hoàng thành Huế). Báo Văn Hóa, Sẽ không đón khách tham quan nội thất Thế Tổ Miếu (05/09/2025). vietnamtourism.vn, Dynastic Temple (The Mieu).


Năm dựng Thế Miếu: Wikipedia tiếng Việt ghi 1821 tới 1822, Wikipedia tiếng Anh ghi 1822 tới 1823, một trang du lịch ghi 1821. Thời điểm rước ba vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào thờ: Wikipedia tiếng Việt ghi tháng 10 năm 1958, trang du lịch ghi ngày 25 tháng 1 năm 1959. Thư viện chưa đọc được tài liệu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nên ghi cả hai.
Nguồn: Wikipedia, Thế Tổ miếu (Hoàng thành Huế). Wikipedia, Thế Miếu (tiếng Anh). vietnamtourism.vn, Dynastic Temple (The Mieu).Đền Hùng: tổ tiên chung của cả nước
Người Việt gọi các vua Hùng là Quốc Tổ. Khu di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ gồm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Giếng và lăng Hùng Vương. Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Năm 2012, UNESCO ghi danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ tả lễ vật có bánh chưng, bánh giầy, có rước kiệu, hát Xoan và đánh trống đồng. Báo Pháp Luật Việt Nam ghi đền Trung có ba ban thờ chính với bài vị các vua Hùng. Như ở bàn thờ trong nhà, chỗ của tổ tiên ở đây cũng là bài vị và ngai, không phải chân dung.
Nguồn: UNESCO, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (ghi danh năm 2012). Wikipedia, Đền Hùng. Báo Pháp Luật Việt Nam, Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đền Hùng (27/02/2018).


VIIBàn Thờ Tổ Tiên Ở Các Nước Láng Giềng
Thẻ gỗ ghi tên người đã khuất bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa và có mặt ở khắp Đông Á. Mỗi nước đặt nó vào một khung khác. Phần này chỉ để so sánh cho dễ nhận ra, không xếp nếp nào hơn nếp nào.
Nguồn: Wikipedia, Spirit tablet. Britannica, Ancestor worship.Trung Hoa và người Hoa
Sau tang lễ, gia đình lập bài vị người mất trên bàn thờ trong nhà, cạnh các đời trước. Dòng họ có từ đường, trong đó bài vị xếp theo thứ bậc các đời. Thời Minh và Thanh còn có loại tranh chân dung tổ tiên vẽ để thờ: người trong tranh ngồi ghế, vẽ toàn thân, nét mặt vẽ rất kỹ cho giống. Viện Smithsonian gọi đây là chân dung làm ra cho việc thờ phụng tổ tiên. Bức ở Bảo tàng Metropolitan vẽ hai mươi mốt vị tổ quanh một bài vị, bài vị ấy đề tên một bà họ Ngô.




Triều Tiên
Lễ cúng tổ tiên gọi là jesa. Bài vị, tiếng Hàn là shinwi (신위, 神位), đặt ở giữa bàn lễ, phía sau là bình phong giấy. Hai cây nến ở hai đầu bàn, lư hương ở giữa. Bảo tàng Cleveland giữ một khám thờ nhỏ bằng sắt khảm bạc, gọi là gamsil, đặt trên một chiếc ghế cao làm chỗ cho linh hồn tổ tiên về ngự trong buổi lễ. Tông Miếu (Jongmyo) ở Seoul là miếu thờ bài vị các vua và hoàng hậu triều Joseon, UNESCO ghi danh năm 1995. Wikipedia ghi nơi đây có bài vị của 19 vua và 30 hoàng hậu trong 19 gian.



Nhật Bản
Bài vị gọi là ihai, đặt trong butsudan, tức bàn thờ Phật trong nhà. Butsudan là một chiếc tủ hay khám nhỏ, giữa thờ hình Phật, hai bên đặt bài vị tổ tiên. Người nhà dâng cơm, hoa, hương, thắp nến và tụng kinh. Tục này lan rộng từ thời Tokugawa (1603 tới 1867). Wikipedia ghi phần lớn các tông phái đặt ihai trong hoặc cạnh butsudan, riêng Tịnh Độ Chân tông thì không.


Lưu Cầu (Okinawa)
Ở Okinawa, bài vị tổ tiên gọi là totome, đặt trên bàn thờ trong nhà. Lễ lớn là Shimi vào mùa xuân, cả nhà ra mộ, và Obon vào mùa hè. Người gửi tấm ảnh dưới đây chú thích rằng hàng trên cùng là các thẻ ghi tên người mất, mỗi cặp thẻ trên dưới là một đời, chồng ở hàng trên, vợ ở hàng dưới, các đời xếp từ phải sang trái. Đây là lời của người gửi ảnh, thư viện chưa đối chiếu với nguồn nghiên cứu.

VIIINhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là người giữ việc hương khói trong họ, là thợ làm đồ thờ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
IXẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XNguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Bàn thờ tổ tiên có bắt buộc phải có di ảnh không
Không có nguồn nào thư viện đọc được ghi là bắt buộc. Nếp xưa thờ bằng thần chủ, tức thẻ gỗ ghi tên, hoặc chỉ một bộ ỷ. Sách Việt Nam phong tục năm 1915 kể đồ thờ rất kỹ mà chưa nhắc tới ảnh. Di ảnh là tục của thế kỷ 20 trở lại đây.
Thần chủ và bài vị khác nhau thế nào
Trong các nguồn đã đọc, hai tên này được dùng lẫn nhau để chỉ thẻ gỗ ghi tên người đã khuất. Phan Kế Bính dùng chữ thần chủ và tả: gỗ táo, dài độ một thước, giữa đề tên họ chức tước, hai bên đề ngày sinh ngày mất, có hộp che kín, để trong khám.
Vì sao chỉ thờ bài vị tới bốn đời
Theo lệ ngũ đại mai thần chủ mà Phan Kế Bính ghi lại, trong nhà thờ thần chủ bốn đời là cao, tằng, tổ, khảo. Tới đời thứ năm thì đem thần chủ đời xa nhất đi chôn và nhắc các đời sau lên. Riêng thần chủ ông thủy tổ ở nhà thờ họ thì thờ mãi mãi.
Tam sự và ngũ sự gồm những gì
Tam sự là một chiếc lư hay đỉnh ở giữa và hai chân đèn hai bên. Ngũ sự là tam sự thêm hai món, tùy nhà là bình hoa, lư trầm, đĩa đèn hoặc đôi hạc.
Mâm ngũ quả miền Bắc và miền Nam khác nhau ra sao
Miền Bắc thường có chuối, bưởi cùng các quả nhiều màu, không kiêng khem nhiều. Miền Nam chuộng mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, đọc trại thành cầu sung vừa đủ xài, và kiêng chuối, cam, lê vì tên gợi nghĩa xấu.
Vì sao trang này không có ảnh di ảnh của các gia đình
Di ảnh là hình của người thân một gia đình cụ thể. Thư viện chỉ dùng chân dung của danh nhân lịch sử và hiện vật bảo tàng, còn lại là ảnh bàn thờ, đồ thờ và nhà thờ họ.