VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đại bảo tháp Boudhanath, Kathmandu

Boudhanath, Boudha Stupa, बौद्धनाथ, खास्ति चैत्य (Khasti Chaitya), བྱ་རུང་ཁ་ཤོར། (Jarung Khashor)

Một trong những bảo tháp hình bán cầu lớn nhất thế giới trên tuyến thương lộ cổ nối Kathmandu với Lhasa, hiện thân của Đại Mandala ba chiều tôn trí Xá lợi Phật Ca Diếp và là trung tâm tâm linh của Phật giáo Tây Tạng tại Nepal.

Khởi dựng
Thế kỷ 5 - 6
Thời vương triều Licchavi, định hình lại vào thế kỷ 14
Quy mô
Rộng 100 m, cao 36 m
Mandala 3 tầng đế, vòm bán cầu trắng và 13 bậc chóp vàng
Di sản
UNESCO (1979)
Phục hồi hoàn chỉnh năm 2016 với 31 kg vàng ròng

Nằm ở phía Đông Bắc thủ đô Kathmandu, cách Đền Pashupatinath chưa đầy 2 km về phía thượng nguồn thung lũng, Đại bảo tháp Boudhanath (Boudha Stupa, tiếng Nepal: बौद्धनाथ, tiếng Newar: खास्ति चैत्य Khasti Chaitya, tiếng Tây Tạng: བྱ་རུང་ཁ་ཤོར། Jarung Khashor) hiện ra giữa một quảng trường hình tròn khép kín như một vũ trụ thu nhỏ bằng gạch trắng và vàng ròng. Khi bước qua cổng vòm hẹp từ con phố đông đúc để lọt vào vòng sân đi nhiễu (kora), quý vị sẽ choáng ngợp trước khối vòm bán cầu quét vôi trắng tinh khôi khổng lồ nằm trên ba tầng bệ Mandala góc cạnh có đường kính chân đế lên tới khoảng 100 mét. Phía trên vòm trắng là khối tháp vuông Harmika dát vàng bốn mặt, nơi đôi Mắt Phật Trí Tuệ (Wisdom Eyes) mở to trầm tĩnh dõi nhìn thấu suốt bốn phương trời, nâng đỡ ngọn tháp chóp nón 13 bậc vàng rực vươn lên độ cao 36 mét giữa những dải cờ cầu nguyện Lungta năm sắc phần phật trong gió Himalaya.

Suốt hơn một thiên niên kỷ rưỡi, Boudhanath là trạm dừng chân đầu tiên và cũng là điểm tạ ơn cuối cùng của các đoàn thương nhân, dịch giả và tăng sĩ vượt đèo Kuti (Nyalam) trên tuyến thương lộ xuyên Himalaya nối liền thung lũng Kathmandu với cao nguyên Tây Tạng. Ngày nay, bao quanh chân đại bảo tháp là hơn 50 tu viện (gompa) thuộc đủ bốn truyền thống lớn của Phật giáo Tây Tạng (Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug) cùng cộng đồng Phật giáo Newar bản địa. Từ lúc tinh mơ khi sương mù còn phủ kín mái vòm cho tới tận đêm khuya dưới ánh đèn bơ lung linh, dòng người hành hương tay lần tràng hạt, tay xoay 108 ống kinh luân đồng và thực hiện nghi thức ngũ thể đầu địa (tam bộ nhất bái) tạo thành một dòng chảy tâm linh xoay theo chiều kim đồng hồ chưa từng ngưng nghỉ.

Đại bảo tháp Boudhanath, Kathmandu
Đại bảo tháp Boudhanath, Kathmandu. Ảnh: Sumitbhatt222, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHuyền Sử Giọt Sương Khasti Chaitya, Đại Nguyện Jarung Khashor Và Xá Lợi Phật Ca Diếp

Đại bảo tháp Boudhanath là nơi hội tụ của hai dòng truyền thừa huyền sử lớn: truyền thống Phật giáo Newar bản địa tại thung lũng Kathmandu và truyền thống Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng. Mỗi dân tộc đều lưu giữ một tên gọi và một bản kinh sử thiêng liêng lý giải nguồn gốc của ngọn đại tháp vĩ đại này.

Theo sử liệu

Trong ngôn ngữ Nepal Bhasa của người Newar bản địa, bảo tháp mang tên cổ là Khasti Chaitya (खास्ति चैत्य), ghép từ chữ Khasu (sương mù, sương đêm) và Ti (giọt nước), nghĩa là Bảo tháp Giọt Sương. Theo các bộ biên niên sử cổ của Nepal như Gopalarajavamshavali và truyền thuyết dân gian Newar, vào thời vương triều Licchavi (thế kỷ 5 SCN), vua Vikramaditya (hoặc Dharmadeva) muốn dẫn nước vào đài phun nước hoàng gia (Narayanhiti) nhưng mạch nước bị khô cạn. Các nhà chiêm tinh tâu rằng cần phải hiến tế một người đàn ông hội đủ 32 tướng tốt (swee-nita lachhyan), mà trong vương quốc chỉ có nhà vua và hoàng tử Manadeva là có đủ tướng ấy. Để cứu muôn dân khỏi hạn hán mà không làm hại con trai, nhà vua đã tự trùm kín mặt nằm bên vòi nước cạn rồi ra lệnh cho hoàng tử Manadeva ban đêm ra chém đầu người đang nằm đó mà không được nhìn mặt. Khi lưỡi gươm hạ xuống, đầu người cha bay đi và nước suối tuôn trào, hoàng tử Manadeva kinh hoàng nhận ra mình đã vô tình phạm trọng tội giết cha (nghịch tội). Quá đau đớn và hối hận, Manadeva đến cầu xin nữ thần Vajrayogini tại Sankhu chỉ đường chuộc tội. Nữ thần dạy nhà vua hãy thả một con gà mái bay đi từ đỉnh đồi: con gà đậu xuống đâu thì hãy dựng một đại bảo tháp tại đó. Con gà đã đáp xuống vùng đất Boudha ngày nay. Trong suốt 12 năm xây dựng bảo tháp, vùng đất này lâm vào cảnh đại hạn không có nước trộn vữa xây gạch, người dân đã phải căng hàng ngàn tấm vải trắng vào ban đêm để hứng từng giọt sương mai (Khasu-ti) vắt lấy nước nhào đất xây tháp, từ đó thành tên gọi Khasti.

Theo giáo nghĩa

Trong khi đó, đối với toàn thể tín đồ Phật giáo Tây Tạng, bảo tháp được tôn kính dưới danh hiệu Jarung Khashor (བྱ་རུང་ཁ་ཤོར།, dịch nghĩa là Làm xong rồi, lời vua đã trót nói ra). Nguồn gốc tên gọi này được ghi chép chi tiết trong bản mật điển phục tàng (Terma) nổi tiếng Huyền sử Đại Bảo Tháp Jarung Khashor (Legend of the Great Stupa), tương truyền do Tổ sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) thuyết giảng cho vua Trisong Detsen tại tu viện Samye vào thế kỷ 8 và được đại dịch giả Lhatsun Ngonmo cùng Shakya Zangpo khám phá.

Theo bản kinh này, vào thời Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha, vị Phật quá khứ ngay trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), có một người phụ nữ nghèo làm nghề chăn gia cầm tên là Jadzima (Samvari), vốn là tiền thân của một thiên nữ con vua trời Đế Thích bị đọa xuống nhân gian. Bà Jadzima có bốn người con trai với bốn người chồng làm các nghề cưỡi ngựa, chăn lợn, chăn chó và chăn gia cầm. Nhờ tần tảo tích góp của cải suốt đời, bà phát đại nguyện xây dựng một ngôi bảo tháp khổng lồ làm nơi quy ngưỡng Tâm Trí Tuệ của mười phương Chư Phật và tôn trí Xá lợi xương của Đức Phật Ca Diếp. Bà đến xin nhà vua ban cho một mảnh đất chỉ rộng bằng tấm da của một con trâu. Nhà vua liền thuận miệng phán: Jarung! (Nghĩa là: Cứ làm đi! Cho phép làm!). Bà Jadzima liền xẻ tấm da trâu thành một sợi dây da mỏng dài vô tận rồi quây lấy cả một khu đất rộng lớn để khởi công đắp nền tháp cùng bốn người con trai, một người đầy tớ, một con voi và một con lừa chở gạch. Khi ngôi tháp vươn cao đồ sộ vượt qua cả cung điện của giới quý tộc và quan lại, các đại thần ganh tị kéo đến tâu xin nhà vua ra lệnh đình chỉ việc xây dựng của người đàn bà chăn gà. Tuy nhiên, nhà vua đã kiên quyết từ chối rút lại lệnh với câu trả lời bất hủ: Jarung Khashor! (Ta đã cho phép làm, lời đã trót buột ra khỏi miệng vua thì không bao giờ rút lại).

Lời đại nguyện dưới chân tháp khai sinh Phật giáo Tây Tạng thế kỷ 8

Chỗ hay hiểu lầm

Điểm cốt lõi khiến Đại bảo tháp Boudhanath trở thành thánh địa tối thượng của Phật giáo Tây Tạng nằm ở lời phát nguyện hoàn thành bảo tháp. Khi bà Jadzima lâm chung, bà đã chứng đắc Phật quả trong trạng thái trung ấm, còn bốn người con trai của bà đã tiếp tục xây xong ngọn tháp, an vị Xá lợi xương của Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha) vào tâm tháp rồi cùng quỳ trước tháp phát đại nguyện: Nhờ công đức xây dựng đại bảo tháp này, nguyện cho chúng con trong kiếp tương lai sẽ tái sinh tại miền đất tuyết biên địa Tây Tạng để hoằng dương chánh pháp. Theo kinh điển Tây Tạng, vào thế kỷ 8 SCN, bốn người con trai ấy đã tái sinh thành bốn nhân vật trụ cột khai sáng Phật giáo Tây Tạng: người con cả tái sinh làm Quốc vương Trisong Detsen (vị Pháp vương bảo trợ Phật giáo), người con thứ hai tái sinh làm Đại viện trưởng Tịch Hộ (Shantarakshita), người con thứ ba tái sinh làm Đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava / Guru Rinpoche), và người con thứ tư tái sinh làm đại thần Bami Trizher tại Yarlung. Chính vì mối nhân duyên tiền kiếp ấy, mọi hành giả Tây Tạng đều xem việc hành hương lễ bái Boudhanath là trở về cội nguồn khai sinh ra giáo pháp Xứ Tuyết.

IILịch Sử Kiến Tạo Từ Triều Đại Licchavi, Cuộc Phục Hưng Thế Kỷ 14 Đến Đại Trùng Tu 2016

Trải qua hơn một ngàn năm trăm năm lịch sử, Đại bảo tháp Boudhanath đã chứng kiến sự hưng thịnh của vương triều Licchavi, những biến động thời trung cổ Malla, sự phát triển của mạng lưới tu viện Tây Tạng và cuộc trùng tu lịch sử sau trận đại địa chấn năm 2015.

Theo sử liệu

Về niên đại khởi dựng lịch sử của bảo tháp, các nguồn sử liệu Nepal ghi nhận hai mốc thời gian gần nhau trong thời kỳ vương triều Licchavi: bộ biên niên sử Bhasha Vamshavali gắn việc xây dựng bảo tháp với triều đại của vua Manadeva I (trị vì từ năm 464 tới 505 SCN, cuối thế kỷ 5), trong khi bộ biên niên sử cổ Gopalarajavamshavali lại ghi nhận vua Shivadeva I (trị vì khoảng năm 590 tới 604 SCN, cuối thế kỷ 6) là người kiến lập hoặc đại trùng tu bảo tháp Khasti. Các nhà khảo cổ học và sử học nghệ thuật Nepal nhận định rằng một bảo tháp sơ kỳ Licchavi đã tồn tại tại đây từ thế kỷ 5 - 6 SCN, nằm ngay trên nhánh đường thương mại cổ đi qua làng Sankhu ở góc Đông Bắc thung lũng Kathmandu để vượt đèo sang Tây Tạng.

  • Thế kỷ 5 - 6 SCNKhởi dựng bảo tháp Khasti dưới vương triều Licchavi
    Theo biên niên sử Nepal, bảo tháp được khởi dựng dưới triều vua Manadeva I (464 - 505 SCN) hoặc vua Shivadeva I (590 - 604 SCN) trên tuyến đường giao thương cổ nối thung lũng Kathmandu qua Sankhu tới Tây Tạng, nơi thờ nữ thần bảo hộ bản địa Khasti Ajima (Mammo Pukkasi).
  • Thế kỷ 8 SCNĐại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) dừng chân hành đạo
    Trên hành trình từ Ấn Độ qua thung lũng Kathmandu để tiến vào Tây Tạng theo lời thỉnh cầu của vua Trisong Detsen, Đại sư Liên Hoa Sinh và Viện trưởng Shantarakshita đã dừng chân chiêm bái bảo tháp Boudhanath, truyền dạy mật điển về nguồn gốc Jarung Khashor và biến nơi đây thành thánh địa hành hương tối cao của người Tây Tạng.
  • Giữa thế kỷ 14 (Sau năm 1349)Tái thiết định hình quy mô Đại Mandala hiện tại
    Sau cuộc tấn công tàn phá thung lũng Kathmandu của quân đội tiểu vương Bengal Shamsuddin Ilyas Shah vào năm 1349, bảo tháp cổ bị hư hại nặng. Các vị vua triều Malla và giới tăng sĩ Phật giáo đã tiến hành đợt đại kiến thiết quy mô lớn vào nửa sau thế kỷ 14, định hình nên cấu trúc ba tầng nền Mandala khổng lồ và vòm bán cầu trắng như diện mạo ngày nay.
  • Đầu thế kỷ 16Đại dịch giả Tây Tạng Shakya Zangpo tìm lại và trùng tu bảo tháp
    Theo sử liệu Tây Tạng, vào đầu thế kỷ 16 khi bảo tháp bị cây cối và đất đá che phủ, đạo sư và dịch giả mật điển (Terton) người Tây Tạng là Shakya Zangpo đã căn cứ theo chỉ dẫn trong bản kinh phục tàng Terma tìm đến Kathmandu, phát quang cây cối và tổ chức đợt đại trùng tu bảo tháp Jarung Khashor.
  • Thế kỷ 19 (1859)Lạt-ma người Trung Hoa Chiniya Lama được phong làm Trụ trì quản giám
    Vào năm 1859, Thủ tướng Nepal Jung Bahadur Rana chính thức bổ nhiệm vị đạo sư Phật giáo người Hán tu theo mật tông Tây Tạng là Ta Fo-yeh (thường gọi là Chiniya Lama) làm trụ trì tối cao trông coi Đại bảo tháp Boudhanath và ban cấp ruộng đất để duy trì việc quét vôi trắng, dát vàng và tổ chức lễ hội hằng năm.
  • 1979UNESCO ghi danh vào Di sản Thế giới Thung lũng Kathmandu
    Đại bảo tháp Boudhanath chính thức được UNESCO công nhận là một trong 7 phân khu di tích cấu thành Di sản Thế giới Thung lũng Kathmandu (mã số 121), ghi nhận giá trị độc đáo của một trong những bảo tháp hình cầu lớn nhất thế giới và trung tâm văn hóa sống động của hơn 50 tu viện Phật giáo Tây Tạng bao quanh.
  • 2015 - 2016Trận động đất Gorkha 2015 và kỳ tích phục hồi với 31 kg vàng ròng
    Trận đại địa chấn mạnh 7,8 độ Richter ngày 25 tháng 4 năm 2015 làm nứt vỡ nghiêm trọng phần tháp vuông Harmika và làm nghiêng lệch 13 bậc chóp vàng của Boudhanath. Ngay lập tức, Ủy ban Phát triển Khu vực Boudhanath cùng cộng đồng Phật tử toàn cầu đã quyên góp 2,1 triệu đô la Mỹ và 31 kg vàng ròng (trong đó Đại bảo pháp vương Tai Situ Rinpoche hiến tặng phần lớn lượng vàng) để tháo dỡ, gia cố và phục hồi nguyên trạng toàn bộ đỉnh tháp chỉ trong vòng 18 tháng, khánh thành trọng thể vào tháng 11 năm 2016.

IIIKiến Trúc Đại Mandala Ba Chiều, Năm Nguyên Tố Vũ Trụ Và 108 Khám Tượng Ngũ Trí Phật

Về mặt hình thái học kiến trúc, Đại bảo tháp Boudhanath không đơn thuần là một khối tháp chứa Xá lợi mà được thiết kế như một Đại Mandala không gian ba chiều (Three-dimensional Cosmic Mandala) biểu thị toàn bộ cấu trúc vũ trụ Phật giáo Kim Cương thừa và lộ trình tu chứng từ phàm phu lên tới quả vị Phật toàn giác. Khi nhìn từ trên không trung xuống, mặt bằng tổng thể của bảo tháp là một đồ hình hình học đối xứng hoàn hảo với 20 góc vuông vức xếp tầng như một cung điện chư Phật.

Giải mã Năm nguyên tố vũ trụ (Ngũ đại) từ chân nền lên tới đỉnh lọng vàng

Toàn bộ chiều cao khoảng 36 mét (118 feet) và đường kính nền khoảng 100 mét (328 feet) của Đại bảo tháp Boudhanath được kiến tạo từ gạch nung đặc, đất sét, đá và đồng mạ vàng, chia thành 5 tầng cấu trúc tương ứng chính xác với Ngũ đại (Năm nguyên tố cấu thành vũ trụ) và Ngũ Trí Như Lai (Pancha Tathagata):

Thứ nhất là Nền tháp ba tầng bậc hình chữ thập góc cạnh (Vimana) có chu vi khoảng 300 mét, tượng trưng cho nguyên tố Đất (Địa đại / Prithvi) và sự vững chãi của giới luật. Thứ hai là Khối vòm bán cầu khổng lồ (Anda / Kumbha) quét vôi trắng tinh khôi hằng năm và tưới nước nghệ tây vàng rực hình cánh sen từ trên đỉnh xuống, tượng trưng cho nguyên tố Nước (Thủy đại / Ap) và chiếc bình báu chứa đựng giáo pháp viên mãn. Thứ ba là Khối tháp vuông (Harmika) đặt trên đỉnh vòm trắng, bốn mặt vẽ đôi Mắt Phật Trí Tuệ (Wisdom Eyes) nhìn thấu bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, giữa hai mắt là chấm tròn con mắt thứ ba (Urna), còn phía dưới thay cho chiếc mũi là ký hiệu chữ số 1 trong chữ viết Nepal (Ek, viết là १) mang hình dấu hỏi uốn lượn tượng trưng cho Tính Nhất Như (Sự hợp nhất tối hậu của vạn pháp) và con đường nhất tâm dẫn tới giác ngộ. Thứ tư là Ngọn tháp chóp nón 13 bậc (Chudamani) bọc đồng mạ vàng ròng vươn lên trên khối Harmika, tượng trưng cho nguyên tố Lửa (Hỏa đại / Tejas) và 13 cấp địa Bồ Tát (Thập tam địa / Trayodasha Bhumi) mà hành giả Kim Cương thừa phải vượt qua để đạt thành Phật quả. Thứ năm là Chiếc lọng báu hình hoa sen (Chatra) che phía trên ngọn tháp tượng trưng cho nguyên tố Gió / Khí (Phong đại / Vayu), và trên đỉnh cao nhất là Đỉnh tháp hình giọt nước vàng (Gajur / Ushnisha) tượng trưng cho nguyên tố Không gian / Hư không (Không đại / Akasha / Sunyata), tức Pháp thân thường trụ khắp mười phương.

Vòng tường 108 khám đá chạm tượng Ngũ Trí Phật và 147 ô kinh luân

Bao quanh chân khối vòm bán cầu trắng là bức tường tròn chia thành 108 khám đá hõm sâu (con số thiêng liêng của Phật giáo biểu thị 108 pháp môn đoạn trừ 108 phiền não). Bên trong mỗi khám đá đều chạm khắc một pho tượng đá thuộc hệ thống Ngũ Trí Như Lai (Tỳ Lô Giá Na, A Súc Bệ, Bảo Sinh, A Di Đà, Bất Không Thành Tựu) cùng các vị Bồ Tát và Bản tôn (Yidam) Mật tông. Ngay bên dưới chân tường có 147 ô cửa sổ gắn hàng trăm ống kinh luân bằng đồng (Mani Khorlo) chứa hàng vạn biến chú Om Mani Padme Hum để tín đồ vừa đi nhiễu vừa dùng tay phải xoay tròn.

Đền thờ Nữ thần Hộ pháp Ajima (Mammo Pukkasi / Hariti) ở cổng Bắc

Tọa lạc ngay bên cạnh cầu thang chính ở phía Bắc dẫn lên các tầng nền Mandala là ngôi đền cổ thờ nữ thần hộ pháp bản địa Khasti Ajima (được Phật giáo Tây Tạng gọi là Mammo Pukkasi hoặc Pukkasiddhi, còn người Newar đồng nhất với nữ thần bảo vệ trẻ em Hariti). Đây là vị nữ thần đã ngự trị tại vùng đất này từ trước khi xây dựng bảo tháp và được Tổ sư Liên Hoa Sinh thu phục làm đại hộ pháp canh giữ kho tàng Xá lợi bên trong Boudhanath.

Hai mươi góc nền Mandala và các bảo tháp nhỏ trên ba tầng đài

Ba tầng nền gạch đỏ (Plinths) của Boudhanath được thiết kế giật cấp với 20 góc vuông nhô ra thụt vào tạo thành đồ hình Mandala chữ thập. Từ cổng chính phía Bắc, người hành hương có thể bước lên các bậc thang đá (qua cổng vòm có tượng hai con voi đá canh giữ) để đi dạo trên các tầng hành lang trên cao sát chân vòm trắng, nơi có các tháp nhỏ phụ trợ và những bức tường treo kín hàng vạn sợi dây cờ cầu nguyện Lungta năm màu nối liền từ đỉnh chóp vàng xuống bốn góc nền.

Hơn 50 tu viện Phật giáo Tây Tạng (Gompa) bao quanh quảng trường

Kể từ thập niên 1950 và 1960, khu vực xung quanh Đại bảo tháp Boudhanath đã phát triển thành quần thể tu viện Tây Tạng lớn nhất bên ngoài Tây Tạng với hơn 50 ngôi chùa (Gompa) của cả bốn phái. Nổi bật nhất ngay đối diện cổng Bắc của bảo tháp là Tu viện Tamang Gompa (Guru Lhakhang) có pho tượng Phật Di Lặc khổng lồ, cùng các đại tu viện danh tiếng nằm quanh vành đai như Tu viện Shechen (do Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche sáng lập), Tu viện Ka-Nying Shedrup Ling (Chùa Trắng) và Tu viện Thrangu Tashi Yangtse.

Cây trụ Pháp (Sokshing) bằng gỗ bách và 31 kg vàng ròng trên đỉnh tháp

Ẩn sâu bên trong tâm của ngọn tháp chóp 13 bậc là cây trụ gỗ linh thiêng (Sokshing / Trục sinh mệnh của bảo tháp) làm bằng gỗ tùng bách quý, xung quanh xếp hàng ngàn hộp bảo vật chứa Xá lợi xương Phật, kinh điển viết bằng vàng, tượng đồng cổ và thần chú Đà-la-ni. Trong đợt đại trùng tu năm 2015 - 2016, toàn bộ 13 bậc chóp và khối Harmika bên ngoài đã được bọc đồng và mạ mới bằng 31 kg vàng ròng nguyên chất theo kỹ thuật luyện kim truyền thống của nghệ nhân Newar tại Patan.

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Kim Cương thừa tại Nepal và Tây Tạng không áp dụng phong thủy la bàn Trung Hoa mà kiến thiết thánh địa theo hệ thống Đồ hình Vũ trụ Mandala và Địa lý Mật tông (Sacred Beyul / Pitha Geography). Tại Boudhanath, bản thân ngôi bảo tháp được kiến tạo như ngọn núi vũ trụ Tu Di (Sumeru) đứng ở tâm điểm cõi giới, với bốn mặt khối tháp Harmika khắc đôi Mắt Phật nhìn thẳng ra bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc để phóng chiếu từ bi và trí tuệ khắp mười phương. Tuy nhiên, xét về mặt nghi lễ và kết cấu cổng bậc thang, khác với hầu hết các bảo tháp Ấn Độ và Nepal thường mở lối chính về hướng Đông đón Mặt Trời mọc, Đại bảo tháp Boudhanath lại mở cổng bậc thang chính và đền hộ pháp Ajima về hướng Bắc, nhìn thẳng về phía dãy Himalaya và cao nguyên Tây Tạng. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế của bảo tháp theo phép hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình bồn địa Kathmandu tại tọa độ 27,7214 độ vĩ Bắc và 85,3619 độ kinh Đông (độ cao khoảng 1.325 mét so với mực nước biển), Đại bảo tháp Boudhanath tọa lạc trên một thềm đất phẳng cao ráo (Bình dương cao nguyên) ở phía Đông Bắc thung lũng Kathmandu, nằm giữa lưu vực của dòng sông Bagmati ở phía Đông Nam (cách khoảng 1,2 km) và dòng nhánh Dhobi Khola (Rudramati) ở phía Tây. Trong phép xem hình thế đồng bằng bồn địa (Bình dương phong thủy), sách xưa có câu: Bình dương nhất đột trị thiên kim (Giữa đồng bằng có một gò cao nổi lên thì quý giá ngàn vàng). Vị trí đất Boudha nằm trên dải đất cao nối từ chân dãy núi Shivapuri (cao 2.732 mét) ở phương Bắc vươn xuống vùng cổ thành Deopatan - Chabahil, giúp nền móng của khối bảo tháp gạch đặc nặng hàng vạn tấn luôn khô ráo, không bị mạch nước ngầm làm sụt lún qua mười lăm thế kỷ.

Về bố cục sơn hướng và khí mạch: Đại bảo tháp Boudhanath lấy dãy núi tuyết Shivapuri và rặng Langtang Himalaya sừng sững ở phương Bắc làm Thái tổ sơn và Tọa sơn hùng vĩ, đồng thời mở lối bậc thang chính đón thẳng trục đường thương mại cổ đi từ đèo Tây Tạng qua Sankhu xuống Kathmandu. Phía trước ở phương Nam và Đông Nam là nơi dòng sông Bagmati uốn khúc chảy qua rừng Mrigasthali và Pashupatinath, đóng vai trò Ngoại minh đường tụ thủy. Đặc biệt nhất về mặt tụ khí nhân tạo là cấu trúc quy hoạch đô thị bao quanh chân tháp: các dãy nhà phố cổ của người Newar và các tu viện Tây Tạng được xây dựng nối liền nhau thành một vòng tường tròn khép kín đồng tâm bao bọc lấy quảng trường đi nhiễu Kora, chỉ chừa các lối cổng vòm nhỏ hẹp để người đi bộ lọt vào. Thiết kế vòng tròn khép kín này kết hợp với chuyển động đi bộ xoay tròn liên tục theo chiều kim đồng hồ của hàng vạn tín đồ mỗi ngày đã tạo nên một trường khí xoáy tụ tâm (Tàng phong tụ khí) cực kỳ mạnh mẽ, giữ cho không gian bên trong quảng trường Boudhanath luôn tĩnh lặng, ấm áp và tách biệt hoàn toàn với khói bụi giao thông của thủ đô Kathmandu bên ngoài.

VTết Cổ Truyền Tây Tạng Losar, Đại Lễ Saga Dawa Và Các Kỳ Lễ Hội Trăng Tròn

Đời sống nghi lễ tại Đại bảo tháp Boudhanath vận hành theo sự kết hợp hài hòa giữa Âm lịch Tây Tạng (Phugpa Luni-solar Calendar) của cộng đồng Kim Cương thừa và Âm lịch Nepal Sambat của người Newar cùng tộc người Tamang bản địa. Vào những ngày trăng tròn (Purnima) và các kỳ đại lễ, toàn bộ khối vòm trắng của bảo tháp được vẽ mới các cánh sen bằng nước nghệ tây vàng cam và thắp sáng bởi hàng vạn ngọn đèn bơ.

Bảng tổng hợp các kỳ đại lễ và nghi thức truyền thống tại Đại bảo tháp Boudhanath theo lịch Tây Tạng và lịch Nepal. Nguồn: Tổng hợp từ Boudhanath Area Development Committee, UNESCO World Heritage Centre và tư liệu văn hóa Phật giáo Himalaya..
Thời điểm (Lịch áp dụng)Tên lễ hội / Nghi thứcNội dung và hoạt động nghi lễ tại Đại bảo tháp Boudhanath
Mồng 1 đến Rằm tháng 1 (Âm lịch Tây Tạng, khoảng tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch)Tết Cổ truyền Tây Tạng (Losar) và Đại Pháp hội Cầu nguyện MonlamDịp lễ rực rỡ nhất tại Boudhanath. Trước ngày Tết, vòm tháp được quét vôi trắng mới, rưới nước nghệ tây và thay mới toàn bộ hàng vạn dây cờ cầu nguyện Lungta từ đỉnh tháp xuống chân nền. Trong ngày mồng 1 và mồng 3 Tết Losar, chư tăng các tu viện và tín đồ mặc trang phục truyền thống Chuba tụ tập tung bột lúa mạch trắng (Tsampa) lên trời cầu chúc cát tường, múa vũ điệu mặt nạ Cham và cử hành lễ rước chân dung Đạt-lai Lạt-ma quanh bảo tháp.
Rằm tháng Baishakh / Rằm tháng 4 Tây Tạng (Khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 dương lịch)Đại lễ Phật Đản, Thành Đạo và Nhập Niết Bàn (Buddha Jayanti / Saga Dawa Duchen)Kỷ niệm ba sự kiện trọng đại nhất trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hàng vạn Phật tử Tây Tạng, Tamang, Sherpa và Newar phát nguyện ăn chay, phóng sinh, bố thí và đi nhiễu (Kora) hàng trăm vòng quanh bảo tháp. Vào buổi chiều có đoàn đại rước kiệu tôn tượng Đức Phật Thích Ca và kinh điển Kangyur do chư tăng hơn 50 tu viện dẫn đầu đi vòng quanh khu phố Boudha trong tiếng kèn đồng Dungchen và trống chiêng vang dội.
Rằm tháng Chaitra (Âm lịch Nepal, khoảng tháng 3 hoặc tháng 4 dương lịch)Lễ hội Trăng tròn Temal Jatra của người Tamang và lễ Mamla JatraCộng đồng người dân tộc Tamang từ các vùng núi quanh thung lũng Kathmandu kéo về Đại bảo tháp Boudhanath suốt đêm trước ngày rằm tháng Chaitra để thắp hàng vạn ngọn đèn bơ (Butter lamps) và hát các bài dân ca tâm linh cầu siêu cho tổ tiên đã khuất trước khi hành hương sang Bảo tháp Swayambhunath vào sáng hôm sau.
Ngày 22 tháng 9 (Âm lịch Tây Tạng, khoảng tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch)Lễ hội Đức Phật từ cõi trời Đao Lợi trở về (Lhabab Duchen)Một trong bốn ngày lễ nhân bội công đức lớn nhất của Phật giáo Tây Tạng. Các tu viện quanh Boudhanath đồng loạt tổ chức pháp hội trì tụng kinh điển, người dân tình nguyện quét sơn trắng lại thân tháp và thắp sáng toàn bộ ba tầng nền Mandala suốt đêm.
Chu kỳ 12 năm một lần vào năm Thân (Lịch 12 con giáp Tây Tạng)Đại lễ 12 năm mở cửa tháp và quán đảnh (Boudhanath Lhosar 12-Year Mela)Theo truyền thống cổ xưa cứ mỗi 12 năm (vào năm con Khỉ / Thân), Đại bảo tháp Boudhanath tổ chức đại lễ kỷ niệm trọng thể nhất với sự tham dự của các vị Đại đạo sư Rinpoche và dòng tộc Chiniya Lama, cử hành các pháp hội quán đảnh cộng đồng và lễ tắm tháp quy mô lớn.
Chỗ hay hiểu lầm

Một nét đẹp văn hóa đặc trưng mà quý vị có thể chứng kiến mỗi chiều tại Boudhanath là cảnh các nghệ nhân và tình nguyện viên trèo lên đỉnh vòm trắng mang theo những thùng nước ngâm nhụy hoa nghệ tây (Saffron water) thơm ngát để tưới thành những vệt hình cánh sen vàng cam khổng lồ chạy dài trên nền vôi trắng. Người Tây Tạng và người Nepal tin rằng sắc vàng của nghệ tây vừa là phẩm vật thanh tịnh nhất cúng dường lên Xá lợi Phật Ca Diếp bên trong lòng tháp, vừa mang lại năng lượng chữa lành và bình an cho mọi người đang đi nhiễu bên dưới.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Boudha Road, Ward No. 6, Kathmandu 44600, Bagmati Province, Nepal (बौद्ध, काठमाडौँ)
Đường tới
Đại bảo tháp Boudhanath tọa lạc tại phường 6 (Boudha) ở phía Đông Bắc thủ đô Kathmandu, cách Đền Pashupatinath khoảng 1,8 km về phía Đông Bắc (có thể đi bộ khoảng 20 đến 25 phút hoặc đi taxi 5 phút), cách Sân bay Quốc tế Tribhuvan khoảng 3,5 km và cách khu phố du lịch Thamel khoảng 6 đến 7 km về phía Đông.
Toạ độ
27.7214, 85.3619
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đại bảo tháp Boudhanath, quý vị bắt buộc phải đi nhiễu quanh bảo tháp và xoay các ống kinh luân theo đúng chiều kim đồng hồ (tức là luôn giữ cho thân bảo tháp nằm ở phía bên tay phải của mình) để tôn trọng quy tắc vũ trụ quan Phật giáo. Nếu quý vị bước qua cổng Bắc để lên đi dạo trên ba tầng nền Mandala phía trên hoặc vào bên trong chánh điện của các tu viện (Gompa) xung quanh quảng trường, xin cởi bỏ giày dép, ăn mặc lịch sự che kín vai và đầu gối, không bước chân qua người các hành giả đang nằm lễ ngũ thể đầu địa và giữ yên lặng khi chư tăng đang cử hành thời khóa tụng kinh.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại bảo tháp Boudhanath, Kathmandu

Contribute photos, information or video for Boudhanath

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đôi mắt vẽ trên bốn mặt tháp vuông của Đại bảo tháp Boudhanath mang ý nghĩa gì?

Đôi mắt trên khối tháp vuông Harmika là Đôi Mắt Trí Tuệ và Từ Bi của Đức Phật (Wisdom Eyes) nhìn thấu suốt bốn phương tám hướng để chứng giám và cứu độ chúng sinh. Giữa hai chân mày là chấm tròn con mắt thứ ba (Urna) biểu thị trí tuệ siêu việt, còn nét uốn lượn giống hình dấu hỏi bên dưới không phải là chiếc mũi mà là chữ số 1 trong chữ viết Nepal (Ek), biểu trưng cho Tính Nhất Như của vạn pháp và con đường nhất tâm hướng tới giác ngộ.

Bên trong lòng Đại bảo tháp Boudhanath tôn trí bảo vật thiêng liêng nào?

Theo truyền thống kinh điển Phật giáo Tây Tạng và Nepal, bên trong lòng khối vòm của Đại bảo tháp Boudhanath tôn trí Xá lợi xương của Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha, vị Phật quá khứ thứ ba trong Hiền kiếp trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), cùng với Xá lợi của Đức Phật Thích Ca, cây trụ gỗ bách linh thiêng (Sokshing) và hàng vạn cuộn kinh điển, thần chú Đà-la-ni cùng pháp khí bằng vàng bạc.

Vì sao người Tây Tạng gọi bảo tháp này là Jarung Khashor còn người Newar gọi là Khasti Chaitya?

Tên tiếng Tây Tạng Jarung Khashor có nghĩa là 'Cho phép làm rồi, lời vua đã trót nói ra', gắn với huyền sử về bà lão chăn gà Jadzima xin vua mảnh đất bằng tấm da trâu để xây tháp và nhà vua giữ lời hứa không rút lại lệnh dù các quan lại phản đối. Trong khi đó, tên tiếng Newar Khasti Chaitya có nghĩa là 'Bảo tháp Giọt Sương', bắt nguồn từ truyền thuyết khi vua Manadeva xây tháp gặp nạn hạn hán suốt 12 năm, người dân đã phải căng vải trắng ban đêm để hứng từng giọt sương mai lấy nước trộn vữa xây tháp.

Cấu trúc kiến trúc của Đại bảo tháp Boudhanath thể hiện triết lý vũ trụ nào?

Toàn bộ bảo tháp cao 36 mét, đường kính nền 100 mét là một Đại Mandala ba chiều biểu thị Năm nguyên tố vũ trụ (Ngũ đại): ba tầng bệ chữ thập góc cạnh ở dưới tượng trưng cho Đất (Địa), khối vòm bán cầu trắng tượng trưng cho Nước (Thủy), ngọn tháp chóp 13 bậc vàng tượng trưng cho Lửa (Hỏa) và 13 cấp địa giác ngộ, chiếc lọng hoa sen trên đỉnh tượng trưng cho Gió (Phong) và chóp nhọn trên cùng tượng trưng cho Hư không (Không).

Đại bảo tháp Boudhanath đã được phục hồi như thế nào sau trận động đất năm 2015?

Trong trận đại địa chấn mạnh 7,8 độ Richter ngày 25 tháng 4 năm 2015 tại Nepal, phần khối vuông Harmika và 13 bậc chóp vàng phía trên vòm trắng của Boudhanath bị nứt vỡ nặng và phải tháo dỡ. Nhờ sự chung tay đóng góp của cộng đồng Phật tử toàn thế giới với kinh phí 2,1 triệu đô la Mỹ và 31 kg vàng ròng mà không cần dùng tới ngân sách nhà nước, các nghệ nhân truyền thống Nepal đã phục dựng hoàn chỉnh đỉnh tháp và khánh thành vào tháng 11 năm 2016, trở thành di sản thế giới đầu tiên tại Nepal hoàn tất trùng tu sau động đất.

›Đọc Tiếp