VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Pashupatinath, Kathmandu

Pashupatinath Temple, श्री पशुपतिनाथ मन्दिर (Śrī Paśupatinātha Mandira), पशुपतिनाथ देगः

Đại thánh địa Ấn Độ giáo cổ kính bậc nhất bên bờ sông thiêng Bagmati ở phía Đông thủ đô Kathmandu, nơi tôn trí trụ đá đen Mukhalinga bốn mặt của thần Shiva Pashupati giữa 518 điện thờ và bến hỏa táng giải thoát Arya Ghat.

Khởi dựng
Thế kỷ 5 - 1692
Thời vương triều Licchavi, dựng lại đền chính năm 1692
Đền chính
Cao 23,7 m
2 tầng mái đồng mạ vàng, thờ Mukhalinga đá đen cao 1 m
Di sản
UNESCO (1979)
Quần thể 246 ha với 518 điện thờ bên sông Bagmati

Nằm cách trung tâm thủ đô Kathmandu khoảng 5 km về phía Đông Bắc tại khu vực cổ thành Deopatan (Patan của chư thiên), Đền Pashupatinath (Pashupatinath Temple, tiếng Nepal: श्री पशुपतिनाथ मन्दिर) hiện ra dọc theo hai bờ hẻm sông Bagmati như một thành phố tâm linh sống động kéo dài suốt mười sáu thế kỷ. Đứng từ các bậc đá bên bờ Đông sông Bagmati nhìn sang bờ Tây qua những chiếc cầu đá cổ, quý vị sẽ thấy hai tầng mái đồng mạ vàng rực rỡ cùng chóp tháp Gajur vươn cao 23,7 mét của chính điện Pashupatinath nổi bật giữa làn khói trầm hương và khói hỏa táng bảng lảng từ bến sông Arya Ghat ngay dưới chân nền đền. Phía trước cửa Tây của chính điện, pho tượng bò thần Nandi khổng lồ đúc bằng đồng mạ vàng nằm phủ phục uy nghiêm hướng thẳng vào nội điện, nơi an vị trụ đá đen Chaturmukha Mukhalinga cao một mét khắc bốn gương mặt thiêng liêng của thần Shiva nhìn ra bốn phương trời.

Không giống những ngôi đền chỉ phục vụ nghi lễ cầu nguyện thông thường, quần thể Pashupatinath rộng tới 246 héc-ta với 518 ngôi đền nhỏ, tu viện (matha), nhà nghỉ hành hương (sattal) và hàng trăm bệ thờ Linga bằng đá là nơi sự sống và cái chết đối diện nhau trong từng khoảnh khắc. Dọc theo bờ nước sông Bagmati chảy về hướng Nam để hợp lưu với sông Hằng tại Ấn Độ, các nghi lễ tắm gột rửa tội lỗi, lễ dâng đèn lửa Bagmati Sandhya Aarti mỗi tối và nghi thức hỏa táng tiễn đưa người quá cố về cõi giải thoát Moksha diễn ra liên tục suốt ngày đêm, biến nơi đây thành trung tâm hành hương tối thượng của hệ phái Shaiva trên toàn vùng Himalaya và tiểu lục địa Nam Á.

Đền Pashupatinath, Kathmandu
Đền Pashupatinath, Kathmandu. Ảnh: Bijay Chaurasia, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Shiva Pashupati, Biểu Tượng Mukhalinga Năm Diện Mạo Và Huyền Sử Rừng Mrigasthali

Danh xưng Pashupatinath bắt nguồn từ tiếng Phạn gồm ba thành tố: Pashu (पशु, nghĩa là muôn loài sinh linh, thú vật hay linh hồn cá thể còn bị trói buộc trong vòng luân hồi), Pati (पति, nghĩa là Chúa tể hay Đấng bảo hộ) và Natha (नाथ, nghĩa là Đức Chúa Tối Cao). Trong thần học Ấn Độ giáo Shaiva (đặc biệt là trường phái Pashupata Shaivism cổ đại và Shaiva Siddhanta), Pashupati là hóa thân từ bi và quyền năng của thần Shiva với tư cách là Đấng Chăn Dắt và Giải Thoát mọi sinh linh khỏi sợi dây trói buộc của vô minh (Pasha).

Theo sử liệu

Theo bộ cổ thư Skanda Purana (phần Himavatkhanda và Nepal Mahatmya) cùng bộ Pashupati Purana của văn học Phạn ngữ Nepal, thuở xa xưa thần Shiva và phối ngẫu Parvati khi du ngoạn qua thung lũng Kathmandu đã say mê vẻ đẹp thanh bình của khu rừng Mrigasthali (Rừng Hươu) trên đồi phía Đông dòng sông Bagmati. Hai vị thần đã hóa thân thành một đôi hươu vàng có sừng lấp lánh để dạo chơi giữa rừng cây. Khi chư thiên gồm thần Brahma, thần Vishnu và thần Indra tìm đến thỉnh cầu thần Shiva quay về chăm lo trật tự vũ trụ, thần Shiva trong hình dạng hươu thần đã không chịu rời đi. Trong cuộc giữ chân ấy, các vị thần nắm lấy chiếc sừng của hươu vàng khiến chiếc sừng gãy làm ba mảnh rơi xuống trần gian và hóa thành trụ Linga ánh sáng đầu tiên tại Deopatan. Về sau, khi chiếc Linga bị vùi lấp dưới lòng đất theo thời gian, một con bò cái kỳ diệu tên là Kamadhenu hằng ngày đều tự động đi tới gò đất bên sông Bagmati và nhỏ sữa từ bầu vú xuống đúng một vị trí. Người chăn bò lấy làm lạ bèn đào đất lên thì phát lộ thần tượng Jyotirlinga phát sáng của thần Pashupati.

Theo giáo nghĩa

Một truyền thống sử thi khác được ghi chép trong chương 9 phần Koti-Rudra Samhita của bộ Shiva Purana gắn kết trực tiếp Đền Pashupatinath với quần thể ngũ đại thánh địa Panch Kedar tại vùng Garhwal Himalaya (Ấn Độ). Sau cuộc đại chiến Kurukshetra trong sử thi Mahabharata, năm anh em hoàng tử Pandava lên dãy Himalaya tìm thần Shiva để cầu xin tha thứ tội lỗi sát phạt huyết thống. Thần Shiva hóa thành một con trâu mộng (hoặc bò đực) lẩn tránh rồi chui xuống lòng đất tại Kedarnath. Khi dũng sĩ Bhima nắm giữ đuôi và chân sau của con trâu thần, phần bướu lưng hiện ra tại Kedarnath, cánh tay hiện ở Tungnath, rốn hiện ở Madhyamaheshwar, khuôn mặt hiện ở Rudranath, tóc hiện ở Kalpeshwar, còn phần đầu tối thượng (Shiro-bhaga) của thần Shiva đã trồi lên mặt đất tại Pashupatinath ở Nepal. Bởi vậy, trong tâm thức hành hương Ấn Độ giáo, cuộc lễ bái Kedarnath chỉ thực sự trọn vẹn khi tín đồ đã chiêm bái phần đầu của thần Shiva tại Pashupatinath.

Trụ đá đen Chaturmukha Mukhalinga và năm phương diện vũ trụ

Bảo vật linh thiêng nhất ngự tại trung tâm nội điện (Garbhagriha) của Đền Pashupatinath là một Chaturmukha Mukhalinga (Linga khắc bốn khuôn mặt) bằng đá đen bóng (thuộc nhóm đá trầm tích biến chất cứng màu đen xám của vùng Himalaya), cao khoảng 1 mét (hơn 3 feet) đặt trên bệ Yoni (Snanadroni) bọc bạc chạm hình rắn thần Naga quấn quanh. Khác với các trụ Linga trơn thông thường, Mukhalinga tại Pashupatinath thể hiện trọn vẹn giáo lý Panchabrahma (Năm diện mạo tối cao của Shiva) cai quản không gian và thời gian:

Mặt quay về hướng Tây là Sadyojata (còn gọi là Barun), mang diện mạo trẻ thơ thuần khiết như vừa mới sinh ra, ứng với nguyên tố Đất (Prithvi) và quyền năng sáng tạo (Srishti). Mặt quay về hướng Bắc là Vamadeva (còn gọi là Ardhanarishvara, nửa nam nửa nữ), mang dung nhan thanh tú, hiền hòa của bậc bảo tồn và chữa lành, ứng với nguyên tố Nước (Jala) và quyền năng duy trì vũ trụ (Sthiti). Mặt quay về hướng Nam là Aghora (Bhairava), mang diện mạo dữ tợn, uy nghiêm với đôi mắt mở lớn và trang sức đầu lâu, ứng với nguyên tố Lửa (Agni) và quyền năng hủy diệt cái ác để tái sinh (Samhara). Mặt quay về hướng Đông là Tatpurusha, mang diện mạo trầm mặc, tĩnh tại của bậc đại thiền định với con mắt thứ ba trên trán, ứng với nguyên tố Khí (Vayu) và quyền năng ẩn giấu thực tại (Tirobhava). Cuối cùng, phần đỉnh vòm tròn không khắc mặt ở trên cùng hướng thẳng lên bầu trời chính là diện mạo thứ năm Ishana (Sada-Shiva vô hình tướng), ứng với nguyên tố Không gian (Akasha) và quyền năng ban phát ân sủng giải thoát tối hậu (Anugraha).

Chỗ hay hiểu lầm

Tại Nepal, Đền Pashupatinath còn là minh chứng đặc sắc cho sự giao thoa mật thiết giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Kim Cương thừa của người Newar cùng người Tây Tạng. Các hành giả Phật giáo tôn kính khu vực rừng Mrigasthali và hẻm sông Bagmati là nơi tu tập của các vị Đại Thành Tựu Giả (Mahasiddha) như Tổ sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava / Guru Rinpoche), Tilopa, Naropa, Matsyendranath và Gorakhnath. Khu vực nghĩa địa cổ bên sông Bagmati tại Pashupatinath được truyền thống Kim Cương thừa Tây Tạng xếp vào một trong Tám Đại Thi Lâm (Ashtasmashana, tiếng Tây Tạng gọi là Lhundrup Tsek, tức Gò Đất Tự Sinh), nơi Tổ sư Liên Hoa Sinh từng nhập thất thiền định và hàng phục các thế lực hộ pháp.

IIBiên Niên Sử Mười Sáu Thế Kỷ Từ Vương Triều Licchavi Tới Triều Đại Malla

Lịch sử kiến trúc và thờ tự của Đền Pashupatinath gắn liền với sự hình thành nhà nước cổ đại tại thung lũng Kathmandu. Các bộ biên niên sử hoàng gia cổ nhất của Nepal như Gopalarajavamshavali (Biên niên sử vương triều Gopala, biên soạn cuối thế kỷ 14) và Bhasha Vamshavali cùng hệ thống hàng trăm tấm bia đá khắc chữ Phạn (Sanskrit) và chữ Newar cổ trong khuôn viên đền đã cung cấp bức tranh lịch sử liên tục từ thế kỷ 5 SCN cho tới thời cận đại.

Theo sử liệu

Về vị vua đầu tiên dựng đền tại Pashupatinath, các bộ biên niên sử Nepal ghi nhận hai truyền thống bổ sung cho nhau: một số bản Vamshavali chép rằng quốc vương Supuspa Deva (thuộc dòng dõi tiền Licchavi hoặc sơ kỳ Licchavi) là người đầu tiên cho dựng một ngôi đền 5 tầng mái trên nền tảng Linga thiêng. Trong khi đó, bộ Gopalarajavamshavali và nhiều học giả lịch sử Nepal xác định quốc vương Prachanda Deva của vương triều Licchavi vào khoảng đầu thế kỷ 5 SCN (khoảng năm 400 SCN) là vị vua lịch sử đầu tiên kiến tạo ngôi đền quy mô lớn tại Deopatan. Các bi ký đá xác thực của vương triều Licchavi dưới thời vua Manadeva (trị vì 464 tới 505 SCN) và vua Amshuverma (đầu thế kỷ 7 SCN) cho thấy Pashupatinath đã trở thành quốc miếu tối cao của vương quốc Nepal, nơi các vị vua Licchavi tự xưng trong sắc chỉ hoàng gia là Bhagavat Pashupati Bhattaraka Pada Anugrihita (Người được ân sủng dưới chân Đức Chúa Pashupati Tối Cao).

  • Khoảng năm 400 SCN (Thế kỷ 5)Khởi dựng đền thờ thời vương triều Licchavi
    Theo biên niên sử Gopalarajavamshavali, quốc vương Prachanda Deva (cùng truyền thống về vua Supuspa Deva) của vương triều Licchavi cho khởi dựng ngôi đền thờ thần Shiva Pashupati bên bờ Tây sông Bagmati tại Deopatan. Các vị vua kế tiếp của triều Licchavi như Manadeva (464 - 505) và Amshuverma (khoảng 605 - 621) dâng cúng nhiều bệ thờ Chaturmukha Linga bằng đá và nâng Pashupatinath lên vị thế quốc miếu bảo hộ vương triều.
  • 1099 - 1126Vua Shivadeva III đại trùng tu chính điện
    Sau nhiều thế kỷ chịu tác động của mưa lũ và thời gian, quốc vương thời trung cổ Shivadeva III (trị vì 1099 tới 1126) tiến hành đợt tái thiết toàn diện ngôi đền chính, mở rộng quy mô kiến trúc gỗ và thiết lập các quỹ ruộng đất (Guthi) để duy trì nghi lễ thờ phụng hằng ngày.
  • Cuối thế kỷ 13 (Khoảng 1274 - 1307)Vua Ananta Malla lợp mái mới và nạn binh lửa năm 1349
    Quốc vương Ananta Malla cho tu bổ ngôi đền và dựng thêm tầng mái mới. Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 1349, quân đội của tiểu vương Hồi giáo vùng Bengal là Shamsuddin Ilyas Shah tràn vào cướp phá thung lũng Kathmandu, đập vỡ trụ Mukhalinga cũ tại Pashupatinath thành nhiều mảnh. Ngay sau khi quân xâm lược rút đi, tể tướng Jayasimharama Vardhana đã cho tạc và an vị lại trụ đá đen Chaturmukha Mukhalinga mới cùng việc phục dựng lại ngôi đền.
  • 1692 (Năm 812 lịch Nepal Sambat)Vua Bhupalendra Malla kiến thiết ngôi đền 2 tầng mái đồng mạ vàng hiện nay
    Do cấu trúc gỗ của ngôi đền thời trung cổ bị mối mọt ăn mục nát nghiêm trọng, quốc vương xứ Kantipur (Kathmandu) là Bhupalendra Malla cùng mẫu hậu Riddhilakshmi cho tháo dỡ khung gỗ cũ và xây dựng lại hoàn toàn ngôi đền chính theo kiểu thức chùa tháp hai tầng mái đồng mạ vàng cao 23,7 mét với bốn cửa bọc bạc như diện mạo còn lưu giữ nguyên vẹn tới ngày nay.
  • Thế kỷ 18 - 19Mở rộng quần thể dưới vương triều Shah và dòng họ Rana
    Sau khi vua Prithvi Narayan Shah thống nhất Nepal (1768), các vị vua triều Shah như Rana Bahadur Shah, Rajendra Bikram Shah và các thủ tướng dòng họ Rana cho đúc tượng bò thần Nandi mạ vàng khổng lồ đặt trước cửa Tây, xây dựng lại hệ thống bậc đá hỏa táng Arya Ghat, cầu đá bắc qua sông Bagmati và hàng loạt cụm đền thờ nhỏ bằng đá trắng kiểu Shikara như cụm 15 đền Pandra Shivalaya bên bờ Đông.
  • 1979UNESCO công nhận Di sản Thế giới Thung lũng Kathmandu
    Tại kỳ họp lần thứ 3 của Ủy ban Di sản Thế giới, Quần thể Đền Pashupatinath được UNESCO ghi danh là một trong 7 phân khu di tích cấu thành Di sản Thế giới Thung lũng Kathmandu (mã số 121), tôn vinh kiệt tác kiến trúc gỗ và kim loại Newar cùng truyền thống tín ngưỡng sống động bên sông Bagmati.
  • 2015Đứng vững qua trận đại địa chấn Gorkha 7,8 độ Richter
    Ngày 25 tháng 4 năm 2015, trận động đất mạnh 7,8 độ Richter tàn phá nặng nề nhiều di tích gạch đá tại Kathmandu, nhưng ngôi đền chính Pashupatinath xây từ năm 1692 với hệ khung gỗ lồng mộng đàn hồi và móng sâu vẫn đứng vững hoàn toàn mà không bị sập đổ, củng cố niềm tin sâu sắc của người dân Nepal vào sự gia hộ của thần Pashupati.

IIIKiến Trúc Chùa Tháp Newar Mạ Vàng, 518 Điện Thờ Và Bến Hỏa Táng Arya Ghat

Toàn bộ khu bảo tồn di sản Pashupatinath trải rộng trên diện tích 246 héc-ta bao lấy hai bờ sông Bagmati và sườn đồi rừng Mrigasthali. Theo thống kê của Quỹ Phát triển Khu vực Pashupati (Pashupati Area Development Trust), toàn quần thể quy tụ 518 ngôi đền và miếu thờ lớn nhỏ, chia thành hai khu vực: vành đai nội viện có tường bao quanh bên bờ Tây dành cho chính điện Pashupatinath, và không gian mở dọc hai bờ sông cùng khu đồi phía Đông quy tụ hàng trăm ngôi đền cổ thuộc nhiều phong cách kiến trúc khác nhau.

Chính điện Pashupatinath hai tầng mái đồng mạ vàng và truyền thống tư tế Bhatta

Ngôi đền chính Pashupatinath được vua Bhupalendra Malla tái thiết năm 1692 là một hình mẫu chuẩn mực của kiến trúc chùa tháp Newar (Newari Pagoda style). Công trình có mặt bằng hình vuông hoàn hảo mỗi cạnh dài khoảng 16 mét, đặt trên một bệ nền lát đá vuông vức và vươn cao tổng cộng 23,7 mét (23 m 7 cm) từ mặt nền lên tới đỉnh tháp. Hai tầng mái dốc lớn nhô rộng ra bốn phía được lợp bằng các tấm đồng gò thủ công phủ vàng lá lấp lánh, đỡ bởi hệ thống hàng chục thanh chống mái bằng gỗ sal (tundal) chạm khắc tinh xảo hình ảnh chư thiên, thần Shiva, nữ thần Parvati và các vũ nữ Apsara. Trên đỉnh tầng mái thứ hai là chóp tháp hình chuông vàng rực rỡ (Suvarna Gajur), biểu trưng cho đỉnh núi Kailash và cõi giới tối cao.

Tầng trệt của chính điện mở ra đúng bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc bằng bốn bộ cửa đôi bằng gỗ bọc bạc chạm nổi tinh vi, bao quanh bởi các khung cửa (torana) bằng đồng mạ vàng. Không gian bên trong đền gồm hai lớp đồng tâm: vòng hành lang bên ngoài để đi nhiễu và phòng nội điện tối mật (Garbhagriha) ở trung tâm, nơi đặt trụ đá đen Chaturmukha Mukhalinga cao 1 mét. Theo quy chế nghi lễ cổ truyền được thiết lập từ thời trung cổ (gắn với truyền thống của Đại sư Adi Shankaracharya và các vua Malla), chỉ có 4 vị đại tư tế Bhatta (vốn là các học giả Bà-la-môn dòng Vệ-đà thông thuộc kinh Rigveda và Yajurveda tuyển chọn từ vùng Karnataka miền Nam Ấn Độ, đứng đầu là vị Mool Bhatta) mới được phép bước vào chạm tay trực tiếp để tắm rửa, thay y phục và làm lễ Puja cho trụ Mukhalinga, với sự phụ tá vòng ngoài của 108 vị Rajbhandari (dòng dõi quý tộc Newar tại Deopatan chuyên giữ kho báu và chăm sóc nội điện theo ca trực luân phiên mỗi kỳ trăng tròn).

Đại tượng bò thần Nandi bằng đồng mạ vàng và Đinh ba Trishula

Đặt ngay trên sân đá trước cửa chính phía Tây của ngôi đền hai tầng mái là pho tượng thần bò Nandi (vật cưỡi trung thành và người gác cổng của thần Shiva) bằng đồng đúc mạ vàng có kích thước khổng lồ, được các quốc vương triều Shah cho đúc vào thế kỷ 19. Do quy định chỉ tín đồ Ấn Độ giáo mới được phép vào trong sân nội viện chính điện, du khách quốc tế đứng từ cổng ngoài phía Tây thường nhìn qua cổng vòm để chiêm ngưỡng phần hậu của pho tượng Nandi vàng rực rỡ cùng cây đinh ba Trishula khổng lồ dựng bên cạnh.

Bến hỏa táng Arya Ghat và Brahmanal (Đá lâm chung bên sông Bagmati)

Nằm ngay dưới chân tường phía Đông của chính điện bên bờ Tây sông Bagmati là Arya Ghat, bến hỏa táng linh thiêng nhất Nepal vốn xưa kia chỉ dành riêng cho hoàng gia và giới quý tộc (phía Nam cây cầu đá là bến Ram Ghat dành cho dân thường). Ngay sát mép nước Arya Ghat có tấm phiến đá nghiêng chạm khắc cổ gọi là Brahmanal: trước khi hỏa táng, thi hài người quá cố được đặt nằm trên phiến đá này sao cho đôi bàn chân chạm vào dòng nước sông Bagmati chảy từ dãy núi Shivapuri để linh hồn được thanh tẩy lần cuối trước khi lên giàn củi trầm và gỗ thơm.

Đền Guhyeshwari (Thánh địa Shakti Pitha của nữ thần Sati)

Nằm cách chính điện Pashupatinath khoảng 1 km về phía Đông Bắc bên bờ sông Bagmati (phía sau đồi Mrigasthali) là Đền Guhyeshwari, được vua Pratap Malla xây dựng lại vào thế kỷ 17. Nếu Pashupatinath đại diện cho nguyên lý nam tính Shiva thì Guhyeshwari đại diện cho nguyên lý nữ tính tối cao Shakti (nơi phần đầu gối hoặc tử cung của nữ thần Sati rơi xuống theo thần thoại Daksha Yajna). Giữa đền không thờ tượng hình người mà thờ một giếng nước mạch ngầm (Kunda) đậy nắp vàng bạc, được cả Ấn Độ giáo Mật tông và Phật giáo Kim Cương thừa Newar (dưới danh hiệu Nairatma / Vajravarahi) tôn sùng.

Quần thể 15 tháp đá Pandra Shivalaya và 108 miếu Ram Mandir bên bờ Đông

Đối diện trực tiếp với chính điện và bến Arya Ghat qua dòng sông Bagmati là hệ thống bậc đá dốc đứng bên bờ Đông dẫn lên rừng Mrigasthali. Tại đây quy tụ cụm 15 ngôi đền tháp đá trắng kiểu Shikara (Pandra Shivalaya) được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 để tưởng niệm các nhân vật lịch sử, cùng dãy hàng trăm ngôi miếu đá nhỏ xếp thẳng hàng, mỗi miếu đều tôn trí một trụ Shiva Linga bằng đá đen hướng về phía sông thiêng.

Tượng Virupaksha cổ đại và Tượng Phật Thích Ca thời Licchavi bên bờ sông

Bên bờ Tây sông Bagmati gần bến Arya Ghat có ngôi miếu thờ bức tượng đá bán thân Virupaksha (Kirateshwar) từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 6 SCN với nửa thân dưới chìm trong lòng đất, gắn liền với tín ngưỡng dân gian cho rằng pho tượng đang từ từ trồi lên theo chu kỳ thời đại Kali Yuga. Cách đó không xa ngay sát mép nước là một pho tượng Đức Phật Thích Ca ngồi thiền định chạm khắc bằng đá đen nguyên bản từ thời vương triều Licchavi (thế kỷ 6 - 7 SCN), minh chứng cho sự chung sống hòa bình từ buổi sơ khai giữa hai tôn giáo.

Đền Vasuki Nath và Đền Bhuvaneswari trong nội viện

Ngay góc Đông Bắc bên trong sân nội viện chính điện Pashupatinath là ngôi đền cổ mái chùa thờ thần rắn Vasuki (Vasuki Naga, vị vua rắn quấn quanh cổ thần Shiva và bảo hộ kho báu của đền). Theo nghi thức truyền thống, mọi tín đồ khi bước vào sân đền đều phải đi nhiễu và lễ bái thần rắn Vasuki trước rồi mới được phép tiến tới lễ bái chính điện Pashupatinath.

IVThế Đất Và Hướng

Ấn Độ giáo không áp dụng thuật phong thủy la bàn của văn hóa Á Đông mà quy hoạch thánh địa theo hệ thống Vastu Shastra (Khoa học kiến trúc không gian Vệ-đà) và địa lý thiêng Tirtha (bến vượt sông giải thoát). Tại Pashupatinath, vị trí ngôi đền được định hình bởi sự kết hợp giữa dòng sông thiêng Bagmati (Vagmati) chảy từ đỉnh núi Shivapuri ở phía Bắc xuống phía Nam và ngọn đồi rừng thiêng Mrigasthali (Kailash), đồng thời kiến trúc chính điện được thiết kế theo đồ hình Vastu Purusha Mandala bốn mặt mở ra đúng bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc tương ứng với bốn khuôn mặt của trụ Mukhalinga. Phần phân tích dưới đây đối chiếu địa hình thực tế của quần thể tại Kathmandu dưới góc nhìn hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình thung lũng Kathmandu tại tọa độ 27,7097 độ vĩ Bắc và 85,3486 độ kinh Đông (độ cao khoảng 1.310 mét so với mực nước biển), Đền Pashupatinath tọa lạc tại một huyệt hẻm núi thu thủy (Thủy khẩu kết huyệt) vô cùng đặc biệt ở phía Đông Bắc bồn địa Kathmandu. Dòng sông Bagmati khởi nguồn từ dãy núi Shivapuri (cao 2.732 mét) ở chính Bắc, chảy uốn lượn qua cánh đồng Gokarna rồi khi tới khu vực Deopatan - Pashupatinath thì bị ép hẹp lại giữa hai dải đồi đất cao: bên bờ Đông là ngọn đồi rừng Mrigasthali và bên bờ Tây là gò đất cổ Kailashkut / Deopatan. Ngay sau khi chảy qua khe núi hẹp trước mặt đền Pashupatinath (theo hướng từ Bắc xuống Nam), dòng sông mở rộng trở lại để nhận thêm dòng nhánh Rudramati (Dhobi Khola) và chảy về phía Nam xuyên qua hẻm núi Chobhar để đổ vào hệ thống sông Hằng. Trong phép xem hình thế sơn thủy, vị trí hai dải đồi kẹp chặt dòng sông như hai cánh cổng đá giữ không cho khí lực của mạch nước phương Bắc trôi tuột đi mất chính là Thủy khẩu La thành và Hãn môn thiên tạo.

Về bố cục sơn hướng và tứ tượng: ngôi đền chính Pashupatinath tọa lạc trên bậc thềm cao bên bờ Tây sông Bagmati. Xét về mặt kiến trúc, ngôi đền có bốn cửa mở ra bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc và bốn gương mặt thần Shiva nhìn thấu bốn hướng, tuy nhiên, cửa hành lễ chính có tượng bò thần Nandi mạ vàng hướng về phía Tây (nối với trục đường hành hương cổ từ hoàng cung Kathmandu tới Deopatan), trong khi cửa hướng về bến nước Arya Ghat và dòng sông Bagmati mở ra phía Đông. Nếu lấy trục nhìn từ nội điện ra dòng sông Bagmati ở hướng Đông làm hướng minh đường thu thủy: lưng đền ở phía Tây có gò cao Deopatan và cao nguyên Kailash làm Hậu chẩm vững chãi, phía trước mặt ở hướng Đông có dòng sông Bagmati chảy sát chân thềm làm Nội minh đường và ngọn đồi Mrigasthali phủ kín rừng cây cổ thụ đứng sừng sững bên kia bờ sông làm Tiền án (Án sơn) cực kỳ gần gũi, giúp che chắn và tụ khí lại trong lòng hẻm sông, bên trái ở phương Bắc (Tả Thanh Long) là dãy núi tổ Shivapuri nơi phát nguyên nguồn nước, bên phải ở phương Nam (Hữu Bạch Hổ) là nơi dòng sông uốn khúc mở ra bình nguyên Patan. Thế đất Sơn hoàn thủy bão, lưỡng ngạn giáp khê (núi bao nước bọc, hai bờ kẹp suối) này giải thích vì sao khu vực Deopatan - Pashupatinath luôn giữ được vi khí hậu linh thiêng, tách biệt hẳn với sự ồn ào đô thị suốt mười sáu thế kỷ.

VĐại Lễ Đêm Thần Shiva Maha Shivaratri, Lễ Hội Teej Và Nghi Thức Lửa Bagmati Aarti

Đền Pashupatinath là trái tim nghi lễ của đất nước Nepal với lịch trình tế lễ liên tục từ 4 giờ sáng tới 9 giờ tối mỗi ngày và hàng chục đại lễ lớn trong năm tính theo âm lịch Ấn Độ giáo Nepal (Vikram Samvat và Nepal Sambat). Nổi bật nhất là đêm đại lễ Maha Shivaratri thu hút hàng trăm ngàn người hành hương cùng hàng ngàn đạo sĩ khổ hạnh Sadhu từ khắp Ấn Độ và Nepal đổ về bên bờ sông Bagmati.

Bảng tổng hợp các kỳ đại lễ và nghi thức phụng vụ thường nhật tại Đền Pashupatinath theo lịch Ấn Độ giáo Nepal. Nguồn: Tổng hợp từ Pashupati Area Development Trust (PADT), UNESCO World Heritage Centre và công trình khảo cứu của Axel Michaels (2008)..
Thời điểm (Lịch áp dụng)Tên lễ hội / Nghi thứcNội dung và hoạt động nghi lễ tại Đền Pashupatinath
Đêm 14 nửa tối tháng Phalguna (Âm lịch Hindu, khoảng tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch)Đại lễ Đêm Thần Shiva (Maha Shivaratri)Lễ hội lớn nhất trong năm tại Pashupatinath thu hút trên một triệu tín đồ và hàng ngàn đạo sĩ Sadhu dòng Naga Baba mình phủ tro trắng từ Ấn Độ và Himalaya về tụ hội. Cả bốn cửa bạc của chính điện mở thông suốt đêm để các tư tế Bhatta cử hành lễ tắm Mukhalinga bốn canh giờ (Chaturprahar Puja) bằng sữa, sữa chua, bơ tinh khiết, mật ong và nước đường, trong khi các đạo sĩ đốt lửa thiêng Dhuni và trì tụng thần chú Om Namah Shivaya thâu đêm.
Mồng 3 nửa sáng tháng Bhadra (Âm lịch Hindu, khoảng tháng 8 hoặc tháng 9 dương lịch)Lễ hội Phụ nữ Hartalika TeejHàng chục vạn phụ nữ Ấn Độ giáo Nepal mặc trang phục sari màu đỏ thẫm rực rỡ (màu của hôn nhân cát tường), đeo trang sức vàng và thực hiện nghi thức nhịn ăn hoàn toàn (cả thức ăn lẫn nước uống) suốt một ngày một đêm, xếp hàng dài hàng cây số quanh đền Pashupatinath để cầu nguyện thần Shiva và nữ thần Parvati ban cho người chồng được trường thọ và gia đình hạnh phúc.
Đêm 14 nửa tối tháng Mangsir (Âm lịch Hindu, khoảng tháng 11 hoặc tháng 12 dương lịch)Lễ Bala Chaturdashi (Lễ rải Bảy hạt giống Satbeej cầu siêu)Các gia đình có người thân qua đời tập trung ngủ qua đêm quanh khuôn viên đền để thắp đèn dầu cầu siêu. Sáng sớm hôm sau, sau khi tắm gột rửa tại sông Bagmati, dòng người đi bộ thành vòng tròn lớn qua khu rừng Mrigasthali và 518 ngôi đền, vừa đi vừa rải bảy loại hạt ngũ cốc thiêng (Satbeej: lúa, đại mạch, vừng đen, đậu đen, hạt cải, ngô và lúa mì) dọc đường đi để tích lũy công đức cho linh hồn tổ tiên.
Các ngày thứ Hai của tháng Shrawan (Âm lịch Hindu, khoảng tháng 7 đến tháng 8 dương lịch)Tháng hành hương Bol Bam và ngày thứ Hai dâng nước sông (Shrawan Somvar)Suốt tháng mưa mùa Shrawan dành riêng cho thần Shiva, hàng vạn tín đồ mặc y phục màu cam nghệ đi chân đất tới suối nguồn Sundarijal trên núi Shivapuri múc nước tinh khiết gánh bộ 15 km về Đền Pashupatinath, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu Bol Bam để dâng nước tưới lên bệ thờ thần Shiva.
Mỗi buổi tối lúc hoàng hôn (Quanh năm theo Dương lịch và Âm lịch)Nghi lễ Dâng đèn lửa bên sông (Bagmati Sandhya Aarti)Được tổ chức hằng đêm trên bến đá bờ Đông sông Bagmati ngay đối diện chính điện và bến hỏa táng Arya Ghat. Ba vị tư tế mặc lễ phục truyền thống đứng dưới các lọng đồng, tay nâng những cây đèn đồng nhiều tầng cháy rực lửa bơ (Aarti) xoay tròn theo nhịp chuông đồng, trống Damaru và tiếng hát thánh ca Bhajan vang vọng khắp hẻm sông.
Chỗ hay hiểu lầm

Nghi lễ Bagmati Sandhya Aarti mỗi buổi tối bên bờ sông là khoảnh khắc hội tụ xúc động bậc nhất tại Kathmandu. Khi màn đêm buông xuống, một bên bờ sông là ánh lửa vàng rực của ba cây đèn đồng Aarti ca ngợi quyền năng sáng tạo của thần Shiva cùng hàng ngàn người dân vỗ tay hòa ca, còn ngay bên kia bờ sông chỉ cách vài chục mét là ánh lửa bập bùng của các giàn hỏa táng trên bến Arya Ghat đang trả thân xác con người về với cát bụi. Sự song hành ấy thể hiện triết lý Vệ-đà sâu sắc rằng sự sống và cái chết đều là những nhịp điệu thiêng liêng trong vũ điệu vũ trụ (Tandava) của Đấng Pashupati.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Pashupati Nath Road, Deopatan, Gaushala, Kathmandu 44621, Bagmati Province, Nepal (पशुपतिनाथ मार्ग, देवपाटन, काठमाडौँ)
Đường tới
Quần thể Đền Pashupatinath nằm tại khu Gaushala trên đường vành đai Ring Road ở phía Đông thủ đô Kathmandu, chỉ cách Sân bay Quốc tế Tribhuvan khoảng 1,5 đến 2 km về phía Tây Bắc (khoảng 10 phút đi taxi) và cách khu phố cổ Kathmandu Durbar Square hoặc khu Thamel khoảng 5 km về phía Đông.
Toạ độ
27.7097, 85.3486
Khi tới nơi

Khi tới thăm Đền Pashupatinath, quý vị cần lưu ý quy định nghiêm ngặt: chỉ tín đồ Ấn Độ giáo (và Phật tử gốc Nam Á theo truyền thống địa phương) mới được phép bước qua cổng Tây để vào sân nội viện của ngôi đền chính hai tầng mái, đồng thời tuyệt đối không được mang bất kỳ vật dụng nào làm bằng da động vật (như thắt lưng da, giày da, túi da) vào trong nội viện. Quý vị là du khách quốc tế có thể tự do đi lại tham quan toàn bộ 246 héc-ta khuôn viên bên ngoài, đi qua cầu đá sang bờ Đông sông Bagmati để ngắm nhìn cận cảnh mái vàng của chính điện, tham dự lễ dâng đèn Bagmati Aarti vào buổi tối và leo lên khu đồi rừng Mrigasthali. Khi đứng quan sát các lễ hỏa táng tại bến Arya Ghat, xin quý vị giữ thái độ trang nghiêm, yên lặng và tôn trọng nỗi đau của gia quyến người quá cố.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Pashupatinath, Kathmandu

Contribute photos, information or video for Pashupatinath Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Pashupatinath thờ vị thần nào và tượng thờ bên trong có hình dáng ra sao?

Đền thờ thần Shiva dưới danh hiệu Pashupati (Đấng Chúa Tể và Bảo Hộ muôn loài sinh linh). Bên trong nội điện tôn trí một trụ đá đen Chaturmukha Mukhalinga cao khoảng 1 mét đặt trên bệ bạc có rắn thần quấn quanh, bốn mặt trụ đá chạm khắc bốn diện mạo của thần Shiva nhìn ra bốn hướng chính (Sadyojata hướng Tây, Vamadeva hướng Bắc, Aghora hướng Nam, Tatpurusha hướng Đông) cùng phần đỉnh tròn vô hình Ishana hướng lên bầu trời.

Ngôi đền chính của Pashupatinath được xây dựng từ bao giờ?

Lịch sử thờ tự tại Pashupatinath đã được biên niên sử và văn bia ghi nhận từ thế kỷ 5 SCN (khoảng năm 400 SCN) dưới vương triều Licchavi gắn với tên tuổi vua Prachanda Deva và vua Supuspa Deva. Sau nhiều lần trùng tu thời trung cổ (như dưới triều vua Shivadeva III thế kỷ 12) và bị mối mọt ăn hại khung gỗ, ngôi đền chính hai tầng mái đồng mạ vàng cao 23,7 mét hiện nay đã được quốc vương Bhupalendra Malla dựng lại vào năm 1692.

Vì sao bến hỏa táng Arya Ghat bên sông Bagmati tại Pashupatinath lại có ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt?

Theo tín ngưỡng Ấn Độ giáo tại Nepal, dòng sông Bagmati chảy qua chân đền Pashupatinath là dòng sông thiêng nối liền với hệ thống sông Hằng. Tín đồ tin rằng người qua đời được đặt chân chạm vào nước sông trên phiến đá Brahmanal và được hỏa táng tại bến Arya Ghat ngay dưới sự chứng giám của thần Shiva Pashupati sẽ được gột rửa mọi nghiệp chướng trần gian và đạt tới sự giải thoát tối hậu (Moksha) khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Ai là người được phép thực hiện nghi lễ chạm tay vào trụ Mukhalinga trong nội điện?

Theo quy chế cổ truyền kéo dài hàng trăm năm của đền Pashupatinath, chỉ có đúng 4 vị đại tư tế Bhatta (đứng đầu là Mool Bhatta), vốn là các học giả Bà-la-môn thông thuộc kinh điển Vệ-đà được tuyển chọn nghiêm ngặt từ vùng Nam Ấn Độ, mới được phép chạm tay trực tiếp vào trụ đá Mukhalinga để tắm rửa và hành lễ hằng ngày, với sự hỗ trợ vòng ngoài của 108 vị phụ tế dòng tộc Rajbhandari người Newar bản địa.

Du khách không theo Ấn Độ giáo khi tới Pashupatinath có thể chiêm ngưỡng ngôi đền từ đâu?

Mặc dù du khách không theo Ấn Độ giáo không được bước qua cổng vào sân trong của riêng ngôi đền chính, quý vị vẫn được tự do tham quan toàn bộ quần thể 246 héc-ta xung quanh. Vị trí đẹp và rõ nhất để ngắm nhìn trọn vẹn hai tầng mái đồng mạ vàng của chính điện, bến hỏa táng Arya Ghat và lễ dâng đèn lửa Bagmati Sandhya Aarti mỗi tối là khu bậc thềm đá bên bờ Đông sông Bagmati và lối lên đồi Pandra Shivalaya.

›Đọc Tiếp