VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Muktinath (Chumig Gyatsa), Mustang

Muktinath Temple, मुक्तिनाथ मन्दिर, Mukti Kshetra, ཆུ་མིག་བརྒྱ་རྩ། (Chumig Gyatsa), Tiru Saligramam (திருச்சாளக்கிராமம்)

Thánh địa giải thoát tối cao ở độ cao 3.710 mét dưới chân đèo tuyết Thorong La thuộc huyện Mustang, nơi hội tụ niềm tin của cả Ấn Độ giáo và Phật giáo Kim Cương thừa bên 108 mạch nước băng hà và ngọn lửa cháy vĩnh cửu trên mặt nước.

Độ cao
3.710 - 3.800 m
Dưới chân đèo Thorong La, thung lũng Muktinath, Mustang
Đền chính
Xây lại năm 1815
Kiến trúc 3 tầng mái thời Vương hậu Subarna Prabha
Thánh tích
108 vòi Muktidhara
Thánh địa 108 Divya Desam và Trăm Mạch Nước Chumig Gyatsa

Nằm ở độ cao khoảng 3.710 mét (một số tài liệu đo đạc vùng sườn trên ghi nhận tới 3.800 mét) giữa vùng khuất mưa khắc nghiệt phía Bắc dãy đại sơn Annapurna, Đền Muktinath (tiếng Nepal: मुक्तिनाथ मन्दिर, tiếng Tây Tạng: ཆུ་མིག་བརྒྱ་རྩ། Chumig Gyatsa) hiện ra dưới chân đèo tuyết Thorong La (cao 5.416 mét) như một ốc đảo rừng dương cổ thụ xanh mát giữa sườn núi đá khô cằn của huyện Mustang. Bước qua cổng chào rợp bóng cờ cầu nguyện Lungta năm sắc và những dãy tường đá khắc thần chú Mani, quý vị sẽ thấy một ngôi đền cổ ba tầng mái xây theo phong cách chùa tháp Newar thanh thoát với chóp đỉnh đồng mạ vàng lấp lánh dưới ánh nắng vùng cao nguyên Himalaya. Ngay phía sau lưng ngôi đền nhỏ nhắn ấy là bức tường đá hình bán nguyệt gắn 108 vòi nước đúc bằng đồng mang hình đầu bò (Muktidhara), nơi dòng nước băng tuyết lạnh buốt từ đỉnh núi chảy xuống xối xả suốt bốn mùa.

Hiếm có thánh địa nào trên thế giới mà ranh giới giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Kim Cương thừa lại hòa làm một tự nhiên như tại Muktinath. Đối với tín đồ Ấn Độ giáo vượt hàng ngàn cây số từ đồng bằng Ấn Độ và Nepal lên đây, nơi này là Mukti Kshetra (Thánh địa Giải thoát) và là ngôi đền thứ 106 trong 108 Divya Desam linh thiêng nhất của thần Vishnu, gắn liền với những viên đá hóa thạch cúc đá đen Shaligram dưới lòng hẻm sông Kali Gandaki sâu nhất thế giới. Trong khi đó, đối với người Tây Tạng và cư dân vùng Mustang, nơi đây là Chumig Gyatsa (Trăm Mạch Nước Thiêng), cung điện của Bồ Tát Quán Thế Âm (Chenrezig) và 24 vị Không Hành Mẫu (Dakini) nơi Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche) từng dừng chân thiền định trên đường vào Tây Tạng, nơi việc phụng sự đèn hương trong chính điện được trao cho chính các vị ni sư Phật giáo Tây Tạng bản địa đảm trách suốt nhiều thế kỷ.

Đền Muktinath (Chumig Gyatsa), Mustang
Đền Muktinath (Chumig Gyatsa), Mustang. Ảnh: Ironicfreak, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThánh Địa Giải Thoát Mukti Kshetra, Hóa Thạch Shaligram Và Trăm Mạch Nước Chumig Gyatsa

Tên gọi Muktinath trong tiếng Phạn và tiếng Nepal ghép từ chữ Mukti (मुक्ति, tức Moksha, nghĩa là Sự Giải Thoát tối hậu khỏi vòng sinh tử luân hồi) và Natha (नाथ, nghĩa là Đức Chúa Tối Cao), mang nghĩa là Đấng Chúa Tể Của Sự Giải Thoát. Toàn bộ thung lũng bao quanh đền được tôn xưng là Mukti Kshetra (Cánh đồng Giải thoát), một trong bốn đại thánh địa tối cao của vương quốc Nepal (Char Dham của Nepal, cùng với Pashupatinath, Ruru Kshetra và Baraha Kshetra).

Theo sử liệu

Trong kinh điển cổ đại của Ấn Độ giáo, thung lũng Muktinath và dòng sông Kali Gandaki (Krishnagandaki) chảy dưới chân núi đã được ca ngợi từ hàng ngàn năm trước trong phần Gandaki Mahatmya của bộ Vishnu Purana, Varaha Purana và Padma Purana. Truyền thuyết Puranas kể rằng nữ thần trinh bạch Vrinda (Tulsi) vì bị thần Vishnu hóa thân đánh lừa để giúp chư thiên chiến thắng chồng nàng là chúa quỷ Jalandhara nên đã buông lời nguyền biến thần Vishnu thành đá đen. Cảm động trước lòng chung thủy của Vrinda, thần Vishnu đã chấp nhận lời nguyền và hóa thân thành những viên đá cuội hóa thạch màu đen chứa vỏ ốc xoắn trôn ốc có niên đại địa chất kỷ Jura (khoảng 140 đến 165 triệu năm trước) nằm dọc lòng sông Kali Gandaki dưới chân vùng Muktinath. Những viên đá hóa thạch tự nhiên ấy được gọi là Shaligram Shila, được mọi tín đồ Ấn Độ giáo tôn thờ như hiện thân tự sinh không do bàn tay con người tạc nên (Svayambhu) của chính thần Vishnu với dấu ấn bánh xe thần Sudarshana Chakra.

Theo giáo nghĩa

Đặc biệt, trong truyền thống Sri Vaishnavism (hệ phái thờ thần Vishnu lớn nhất miền Nam Ấn Độ), Muktinath được tôn vinh dưới tên tiếng Tamil cổ là Tiru Saligramam (திருச்சாளக்கிராமம்) và được xếp là ngôi đền thứ 106 trong tổng số 108 Divya Desam (108 cõi thánh của thần Vishnu được 12 vị thánh thi nhân Alvar ca tụng trong bộ thánh điển Nalayira Divya Prabandham từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 9 SCN, với 10 bài thánh thi của thánh Thirumangai Alvar và 2 bài của thánh Periyalvar). Hơn thế nữa, Sri Vaishnavism còn xếp Muktinath vào nhóm 8 đại thánh địa Tự Biểu Hiện tối linh (Ashta Svayam Vyakta Kshetra) cùng với Srirangam, Tirupati và Badrinath. Đồng thời, hệ phái Shaktism (thờ Thánh Mẫu) lại tôn kính Muktinath là một trong 51 Shakti Pitha, nơi phần thái dương (Gandaki Chandi) của nữ thần Sati rơi xuống trần gian, với thần Shiva hộ trì dưới danh hiệu Chakrapani.

Chumig Gyatsa: Thánh địa của Không Hành Mẫu Dakini và Tổ sư Liên Hoa Sinh

Song hành cùng đức tin Ấn Độ giáo, đối với toàn thể tín đồ Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng (Vajrayana) và cư dân nói tiếng Tây Tạng vùng Thượng - Hạ Mustang, thánh địa này mang tên thiêng là Chumig Gyatsa (ཆུ་མིག་བརྒྱ་རྩ།, nghĩa là Trăm Mạch Nước Thiêng). Trong mật điển Kim Cương thừa, Chumig Gyatsa được xếp vào một trong 24 Đại Thánh Địa Mật Tông (24 Tantric Places) của cõi Diêm Phù Đề và là nơi ngự trị của các vị Không Hành Mẫu (Dakini / Khandroma, những nữ thần trí tuệ nhảy múa trên bầu trời).

Theo sử liệu Tây Tạng, vào thế kỷ 8 SCN, trên hành trình từ vùng Uddiyana và Ấn Độ vượt dãy Himalaya để tiến vào Tây Tạng theo lời thỉnh mời của vua Trisong Detsen, Đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava / Guru Rinpoche) cùng phối ngẫu Yeshe Tsogyal đã dừng chân nhập thất thiền định tại hang đá và rừng cây Chumig Gyatsa, hàng phục các thủy thần Naga và gia trì cho 108 mạch nước suối cùng ngọn lửa khí đốt tự nhiên nơi đây trở thành nguồn nước cam lồ tịnh hóa nghiệp chướng. Ngoài ra, truyền thuyết Phật giáo còn kể rằng 84 vị Đại Thành Tựu Giả (84 Mahasiddhas) của Ấn Độ cổ đại khi vân du qua đây đã cắm những cây gậy chống bằng gỗ của mình xuống đất bên các mạch nước, và những cây gậy ấy đã đâm chồi nảy lộc thành khu rừng cây dương cổ thụ (Populus ciliata) xanh tốt bao bọc lấy quần thể đền Muktinath giữa vùng núi trọc Mustang ngày nay.

Chỗ hay hiểu lầm

Sự dung hợp tôn giáo tại Muktinath đạt tới mức độ kỳ diệu ngay trước bàn thờ chính điện: pho tượng đồng mạ vàng cao bằng kích thước người thật ngự ở trung tâm hậu cung được các tư tế Ấn Độ giáo lễ bái là Sri Muktinarayana (Đức Vishnu Giải Thoát, đi kèm tượng nữ thần Lakshmi / Sridevi và Bhudevi), trong khi các Lạt-ma, ni sư và tín đồ Phật giáo Tây Tạng lại chiêm bái chính pho tượng ấy là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara / Chenrezig / Lokesvara). Điều đặc biệt hơn cả là công việc dâng đèn bơ, chăm sóc bàn thờ và cử hành nghi lễ hằng ngày bên trong ngôi đền chính lại được thực hiện song song bởi một vị tư tế Bà-la-môn Ấn Độ giáo và các vị ni sư Phật giáo Tây Tạng (Jhuma) thuộc dòng họ bản địa làng Purang - Ranipauwa.

IILịch Sử Từ Các Bộ Kinh Cổ, Vương Quốc Jumla Đến Đợt Kiến Thiết Năm 1815 Của Vương Hậu Subarna Prabha

Do nằm ngay trên nhánh thương lộ muối - ngũ cốc cổ đại dọc theo hẻm sông Kali Gandaki nối liền bình nguyên sông Hằng của Ấn Độ với cao nguyên Tây Tạng qua vùng Mustang (vương quốc cổ Lo), Muktinath đã là điểm hội tụ của các đoàn đạo sĩ, tăng sĩ và thương nhân suốt hơn hai thiên niên kỷ.

Theo sử liệu

Về mặt văn bản học, sự tồn tại của thánh địa Saligramam / Muktinath đã được xác lập chắc chắn từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 9 SCN thông qua các bài thánh ca tiếng Tamil của hai vị thánh Thirumangai Alvar và Periyalvar trong bộ Nalayira Divya Prabandham tại Nam Ấn Độ, cũng như trong các bản Terma và tiểu sử các đạo sư Tây Tạng từ thời kỳ truyền bá Phật giáo lần thứ nhất (thế kỷ 8) và lần thứ hai (thế kỷ 11, thời dịch giả Marpa, Milarepa và Atisha). Trước thế kỷ 19, ngôi đền trung tâm tại Muktinath vốn là một điện thờ xây bằng đá và đất sét theo truyền thống của các vị vua vương quốc Khasa Malla / Jumla và các quý tộc địa phương vùng Baragaon (Hạ Mustang). Đến năm 1815 (một số nguồn ghi năm 1814 - 1815), sau khi vương triều Gorkha / Shah thống nhất Nepal, Vương hậu Subarna Prabha Devi (chính cung hoàng hậu của Quốc vương Rana Bahadur Shah và là nhiếp chính của Nepal giai đoạn 1800 - 1802, người từng thực hiện chuyến hành hương lớn lên Muktinath khoảng năm 1806 - 1807) đã ban chiếu chỉ và cấp ngân khố cho tháo dỡ ngôi miếu đất cũ để xây dựng nên ngôi đền đá và gỗ ba tầng mái theo kiến trúc chùa tháp Newar như diện mạo ngày nay.

  • Thiên niên kỷ 1 TCN - Thế kỷ 5 SCNThánh địa hóa thạch Shaligram và lửa thiêng trong kinh Puranas
    Thung lũng Muktinath và sông Kali Gandaki được ghi nhận trong Vishnu Purana và Mahabharata như là nguồn gốc độc nhất của các viên đá hóa thạch cúc đá Shaligram Shila và nơi ngọn lửa tự nhiên cháy trên mặt nước suối băng hà.
  • Thế kỷ 7 - 9 SCNThánh điển Tamil ca ngợi Tiru Saligramam và Tổ sư Liên Hoa Sinh hành đạo
    Tại Nam Ấn Độ, các vị thánh Alvar (Thirumangai Alvar và Periyalvar) sáng tác 12 bài thánh thi ca ngợi thần Vishnu tại Tiru Saligramam (Muktinath), xếp nơi đây vào 108 Divya Desam. Cùng thời kỳ thế kỷ 8, Đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) dừng chân thiền định tại Chumig Gyatsa trên đường từ Ấn Độ vào Tây Tạng, xác lập vị thế thánh địa của 24 xứ Mật tông và 84 vị Đại Thành Tựu Giả.
  • Thế kỷ 15 - 18Sự bảo trợ của vương quốc Mustang (Lo), Jumla và dòng phái Sakya - Nyingma
    Các vị vua vùng Jumla và các lãnh chúa vùng Baragaon (Hạ Mustang) dựng ngôi đền thờ bằng đá và đất sét bên các mạch nước suối, trong khi các đạo sư Phật giáo Tây Tạng dòng Sakya, Nyingma và Kagyu xây dựng các tu viện (Gompa) bao quanh khu rừng dương thiêng và giao quyền trông coi đèn hương cho dòng tộc ni sư Jhuma.
  • 1806 - 1815Vương hậu Subarna Prabha Devi kiến thiết ngôi đền 3 tầng mái hiện nay
    Sau chuyến hành hương lên Muktinath vào khoảng năm 1806 - 1807 và lập trạm nghỉ chân hoàng hậu tại thị trấn Ranipauwa (nghĩa là Nhà nghỉ của Hoàng hậu), vào năm 1814 - 1815 Vương hậu Subarna Prabha Devi của vương triều Shah đã cho xây dựng lại hoàn toàn ngôi đền chính Muktinath theo kiến trúc chùa tháp 3 tầng mái Newar trên nền ngôi đền đất cũ và hoàn thiện hệ thống 108 vòi nước đồng hình đầu bò.
  • 1905 - Đầu thế kỷ 20Trùng tu điện lửa Jwala Mai và các tu viện Phật giáo Mebar Lhakhang
    Các dòng phái Phật giáo Tây Tạng và chính quyền Nepal tiến hành tu bổ ngôi điện Jwala Mai (Mebar Lhakhang, Chùa Lửa Diệu Kỳ) bảo vệ các mạch khí đốt tự nhiên cháy trên mặt nước, cùng tu viện Sarwa Gompa và Marme Lhakhang (Chùa Ngàn Đèn) trong khuôn viên.
  • Cuối thế kỷ 20 - Thế kỷ 21Dựng Đại tượng Đức Liên Hoa Sinh và Phật Thích Ca trên sườn đồi
    Cộng đồng Phật giáo và Ấn Độ giáo cùng Ủy ban Phát triển Khu vực Muktinath đã tôn tạo hai hồ nước thiêng Mukti Kunda trước đền và dựng hai pho tượng đá khổng lồ cao hơn 10 mét của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche) nhìn ra toàn cảnh đỉnh núi tuyết Dhaulagiri và Nilgiri.

IIIKiến Trúc Đền Tháp 3 Tầng Mái, 108 Vòi Nước Đầu Bò Muktidhara Và Điện Lửa Vĩnh Cửu Jwala Mai

Toàn bộ quần thể Đền Muktinath nằm ẩn mình dưới tán một khu rừng cây dương cổ thụ (Populus ciliata) xanh mướt trên sườn núi đá vôi ở độ cao 3.710 mét. Khác với vẻ đồ sộ của các đền đài ở thung lũng Kathmandu, ngôi đền chính của Muktinath mang kích thước khiêm nhường, gọn gàng để thích ứng với khí hậu gió tuyết khắc nghiệt của vùng núi cao Himalaya, nhưng bên trong khuôn viên lại hội tụ đầy đủ cả Năm nguyên tố tự nhiên của vũ trụ (Ngũ đại: Đất, Nước, Lửa, Gió và Không gian) hiện hữu một cách tự nhiên.

Chính điện chùa tháp 3 tầng mái năm 1815 và hệ thống tượng thờ lưỡng giáo

Ngôi đền chính Muktinath do Vương hậu Subarna Prabha xây dựng năm 1815 là một công trình kiến trúc chùa tháp Newar ba tầng mái (Three-tiered Pagoda) đặt trên nền đá vuông cao ráo, vươn cao khoảng 12 đến 15 mét với đỉnh tháp đồng mạ vàng (Gajur) và các thanh chống mái gỗ chạm khắc. Tường tầng trệt xây bằng đá đẽo kiên cố quét vôi trắng viền đỏ sẫm nhằm giữ ấm và chống chịu bão tuyết từ đèo Thorong La.

Bên trong nội điện nhỏ hẹp và ấm áp ánh đèn bơ là hệ thống tượng thờ bằng đồng và đồng thau được cả hai tôn giáo cùng tôn kính: ở chính giữa là pho tượng đồng mạ vàng cao khoảng 1 mét (tương đương kích thước người ngồi hoặc đứng nhỏ) được người Ấn Độ giáo thờ là Sri Muktinarayana (Thần Vishnu) và người Phật giáo thờ là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara / Lokesvara), hai bên là tượng đồng của nữ thần Lakshmi (Sridevi), nữ thần Bhudevi (Saraswati), thần Garuda (hoặc các vị Bồ Tát Văn Thù, Kim Cương Thủ theo cách đọc Phật giáo) cùng những viên đá hóa thạch Shaligram Shila quý giá bậc nhất lấy từ sông Kali Gandaki.

108 vòi nước đồng hình đầu bò (Muktidhara / Chumig Gyatsa)

Chạy vòng quanh bức tường đá hình bán nguyệt ôm lấy phía sau và hai bên ngôi đền chính là 108 vòi nước chảy liên tục ngày đêm ở độ cao ngang đầu người, mỗi vòi được đúc bằng đồng hoặc đồng thau tạo tác thành hình chiếc đầu bò thần Nandi (Gaumukh) cách nhau khoảng nửa mét. Nước dẫn vào 108 vòi này bắt nguồn từ dòng suối băng tuyết tan trên đỉnh núi phía Đông chảy qua rãnh đá. Trong tín ngưỡng Vaishnava, 108 vòi nước đại diện cho 108 hồ nước thiêng (Pushkarini) của 108 thánh địa Divya Desam, còn trong Phật giáo Tây Tạng, đây chính là Trăm Mạch Nước Thiêng (Chumig Gyatsa) do các Không Hành Mẫu Dakini và Tổ sư Liên Hoa Sinh gia trì. Tín đồ hành hương dù giữa mùa đông băng giá vẫn cởi áo chạy một vòng dưới 108 vòi nước lạnh buốt như băng này để từng tia nước xối lên đỉnh đầu, tin rằng nghi thức tắm gội ấy sẽ xóa sạch mọi tội lỗi của cả đời người.

Hai hồ nước giải thoát phía trước đền: Laxmi Kunda và Saraswati Kunda (Mukti Kunda)

Ngay phía trước mặt tiền của ngôi đền chính có hai hồ nước vuông xây bằng đá chứa nước băng hà dẫn ra từ hệ thống suối thiêng, được gọi là Mukti Kunda (gồm hồ Laxmi Kunda và hồ Saraswati Kunda, hay còn gọi là Paap Kunda và Punya Kunda). Sau khi chạy qua 108 vòi nước đầu bò phía sau đền, người hành hương Ấn Độ giáo thường ngâm mình xuống hai hồ nước này để hoàn tất nghi thức tắm thanh tẩy (Snana) trước khi bước vào lễ bái thần Muktinarayana.

Điện Lửa Vĩnh Cửu Jwala Mai (Mebar Lhakhang - Ngọn lửa cháy trên mặt nước)

Nằm cách ngôi đền chính khoảng 100 mét về phía Nam ngay trong khuôn viên rừng dương là ngôi tu viện Phật giáo Tây Tạng cổ mang tên Mebar Lhakhang (Chùa Lửa Diệu Kỳ), mà tín đồ Ấn Độ giáo gọi là Đền Nữ thần Lửa Jwala Mai. Bên trong một hốc đá tối dưới gầm bàn thờ phía sau tấm rèm vải và song sắt của ngôi đền này có một hiện tượng địa chất - tâm linh kỳ diệu: những ngọn lửa màu xanh lam nhạt do khí đốt tự nhiên rò rỉ từ lòng đất cháy bập bùng liên tục suốt hàng ngàn năm ngay trên mặt dòng nước suối ngầm chảy róc rách và từ khe đá đất. Theo truyền thuyết Ấn Độ giáo, chính thần Brahma đã thắp lên ngọn lửa này để cúng dường thần Vishnu và sự kết hợp giữa Nước (suối ngầm), Lửa (khí đốt), Đất (đá núi), Gió (không khí) và Không gian tại đây là biểu hiện trọn vẹn của Ngũ đại vũ trụ.

Tu viện Narsingh Gompa (Marme Lhakhang - Chùa Ngàn Ngọn Đèn) và Sarwa Gompa

Ở phía Bắc chính điện là ngôi tu viện Phật giáo Tây Tạng Narsingh Gompa (tên tiếng Tây Tạng là Marme Lhakhang, nghĩa là Chùa Ngàn Ngọn Đèn Bơ). Bên trong tu viện tôn trí pho tượng Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche) rất linh thiêng với đôi mắt mở lớn uy nghiêm (tương truyền do chính Ngài gia trì khi đến Tây Tạng) cùng các pho tượng Sư tử Hống Quán Âm (Simhanada Lokesvara) mà người Ấn Độ giáo nhìn nhận là hóa thân người-sư tử Narasimha của thần Vishnu.

Đại tượng Đức Phật Thích Ca và Tổ sư Liên Hoa Sinh trên sườn đồi Muktinath

Dọc theo bậc thang đá dẫn lên khu vực đền từ thị trấn Ranipauwa, trên hai sườn đồi thoáng đãng nhìn thẳng ra dãy núi tuyết trắng xóa Dhaulagiri (cao 8.167 m) và đỉnh Nilgiri là hai pho tượng đá khổng lồ cao hơn 10 mét sơn màu rực rỡ: một bên là pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định trên đài sen, một bên là pho tượng Đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) tay cầm chày kim cương và bình trường thọ, bao quanh bởi hàng trăm ống kinh luân và tháp Chorten trắng.

IVThế Đất Và Hướng

Cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo Kim Cương thừa tại vùng Mustang đều không sử dụng thuật phong thủy la bàn Trung Hoa, mà định vị thánh địa Muktinath dựa trên Thánh địa học Năm nguyên tố tự nhiên (Pancha Mahabhuta) và Địa lý Mật tông Himalaya. Tại đây, vị trí ngôi đền được ấn định bởi sự hội tụ thiên nhiên kỳ vĩ: mạch nước băng tuyết 108 nguồn tuôn ra từ lòng núi đá vôi cùng mạch khí đốt tự nhiên cháy trên mặt nước ngay tại chân đèo Thorong La và thượng nguồn thung lũng sông Jhong Khola / Kali Gandaki. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế thực địa của Muktinath theo phép hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình dãy đại sơn Himalaya tại tọa độ 28,8171 độ vĩ Bắc và 83,8717 độ kinh Đông (ở độ cao 3.710 mét tại cổng đền và vươn lên 3.800 mét ở sườn trên), Đền Muktinath tọa lạc tại một huyệt sườn núi cao nguyên (Cao sơn bán phúc âm dương giao hội huyệt) có địa thế hùng vĩ bậc nhất Nam Á. Về mặt đại long mạch: công trình nằm trên sườn phía Tây của dãy núi tuyết Thorong Peak (cao 6.144 m) và Khatung Kang (cao 6.484 m) thuộc khối núi Damodar Himal / Annapurna. Ngay phía trên lưng đền ở hướng Đông là con đèo huyền thoại Thorong La (cao 5.416 m), còn phía dưới chân thung lũng ở hướng Tây là dòng sông Jhong Khola chảy từ Đông sang Tây qua các làng cổ Jharkot, Kagbeni để đổ vào dòng sông Kali Gandaki. Chính dòng sông Kali Gandaki này chảy xuyên qua khe núi giữa hai đỉnh núi cao trên 8.000 mét của thế giới là Annapurna I (cao 8.091 m) ở phía Đông và Dhaulagiri I (cao 8.167 m) ở phía Tây, tạo nên hẻm núi sâu nhất địa cầu (Kali Gandaki Gorge). Trong phép xem hình thế cổ truyền, nơi hai dãy đại sơn trên 8.000 mét đứng kẹp hai bên dòng sông cổ đại chứa đá hóa thạch Shaligram chính là một Thiên môn địa hộ (Cổng trời cửa đất) khổng lồ của long mạch Himalaya.

Về bố cục sơn hướng và khí mạch: ngôi đền chính Muktinath được xây dựng theo thế Tọa Đông hướng Tây (lưng tựa sườn núi đèo Thorong La ở hướng Đông, mặt tiền nhìn thẳng ra thung lũng sông Jhong Khola và rặng núi tuyết Dhaulagiri ở hướng Tây và Tây Nam). Khi đứng từ sân trước đền nhìn ra hướng Tây: phía sau lưng ở hướng Đông là vách núi cao Thorong La sừng sững làm Hậu chẩm và Thái tổ sơn che chắn gió tuyết từ đỉnh đèo, đồng thời cung cấp mạch nước ngầm vĩnh cửu chảy vào 108 vòi Muktidhara ôm vòng quanh sau lưng đền như vòng đai ngọc Huyền Vũ thổ thủy, phía trước mặt ở hướng Tây là thung lũng Muktinath - Jharkot mở rộng thoáng đãng làm Minh đường, và bên kia thung lũng Kali Gandaki là đỉnh núi tuyết trắng xóa Dhaulagiri (8.167 m) cùng đỉnh Nilgiri (7.061 m) và Tukuche Peak (6.920 m) đứng chầu trực diện trong tầm mắt làm Đại triều sơn và Tiền án vĩ đại, bên trái ở phương Nam (Tả Thanh Long) là rặng núi băng Thorong - Nilgiri, bên phải ở phương Bắc (Hữu Bạch Hổ) là dãy đồi đá bảo vệ vùng Thượng Mustang (Lo Manthang). Đặc biệt nhất, sự hiện diện đồng thời của 108 mạch nước băng lạnh (Thủy âm) và mạch lửa khí đốt tự nhiên cháy vĩnh cửu dưới lòng đất tại Jwala Mai (Hỏa dương) ngay trong cùng một khuôn viên rừng cây dương xanh tốt ở độ cao gần 4.000 mét chính là hiện tượng Thủy Hỏa ký tế, Âm Dương giao cấu (Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế trong Kinh Dịch: Nước ở trên, Lửa ở dưới giao hòa sinh hóa), giải thích trọn vẹn vì sao cả các bậc đại thành tựu giả Phật giáo lẫn các thánh nhân Vệ-đà đều nhận ra đây là đại huyệt giải thoát tối linh của dãy Himalaya.

VLễ Hội Trăng Tròn Janai Purnima, Lễ Đua Ngựa Yartung Và Kỳ Hành Hương Tắm 108 Mạch Nước

Do nằm ở độ cao 3.710 mét với mùa đông băng tuyết khắc nghiệt, nhịp sống lễ hội tại Đền Muktinath sôi động nhất vào mùa xuân (tháng 3 đến tháng 5) và mùa thu (tháng 8 đến tháng 11), vận hành theo cả Âm lịch Ấn Độ giáo Nepal (Vikram Samvat) lẫn Lịch Tây Tạng cổ truyền của cư dân vùng Mustang (Loba và Baragaon).

Bảng tổng hợp các kỳ lễ hội và nghi thức hành hương tại Đền Muktinath (Chumig Gyatsa) theo lịch Ấn Độ giáo Nepal và lịch Tây Tạng Mustang. Nguồn: Tổng hợp từ Ủy ban Phát triển Khu vực Muktinath, Nepal Tourism Board và công trình nghiên cứu dân tộc học vùng Mustang của Charles Ramble..
Thời điểm (Lịch áp dụng)Tên lễ hội / Nghi thứcNội dung và hoạt động nghi lễ tại Đền Muktinath (Chumig Gyatsa)
Rằm tháng Shrawan (Âm lịch Hindu / Nepal, khoảng tháng 8 dương lịch)Đại lễ Trăng tròn Thay dây thiêng (Janai Purnima / Rishi Tarpani)Kỳ hành hương lớn nhất mùa hè thu hút hàng vạn tín đồ Ấn Độ giáo và Phật giáo lên Muktinath. Sau khi tắm dưới 108 vòi nước đầu bò Muktidhara và ngâm mình trong hai hồ Mukti Kunda, các tín đồ nam giới Ấn Độ giáo thực hiện nghi thức thay sợi dây thiêng khoác chéo ngực (Janai) mới và buộc sợi chỉ đỏ hộ mệnh (Raksha Bandhan) quanh cổ tay để cầu sự bảo hộ của thần Vishnu.
Ngay dịp trăng tròn tháng 8 dương lịch (Lịch Tây Tạng vùng Mustang, kéo dài 3 đến 4 ngày)Lễ hội Đua ngựa truyền thống Mãn hạ vùng Mustang (Yartung Mela)Lễ hội văn hóa và tâm linh đặc sắc nhất của cư dân gốc Tây Tạng tại thung lũng Muktinath, Ranipauwa và Jharkot nhằm tiễn mùa hè trước khi mùa đông lạnh giá kéo về. Sau khi làm lễ dâng đèn bơ và khói bách xù (Sang) tại đền Chumig Gyatsa, hàng trăm kỵ sĩ nam nữ mặc trang phục truyền thống rực rỡ cưỡi ngựa phi nước đại qua các sườn đồi núi đá, thi tài nhặt khăn trắng Khata trên mặt đất khi ngựa đang phóng nhanh, kết hợp với múa hát dân gian và uống rượu lúa mạch Chang.
Mồng 8 đến Rằm tháng Chaitra và tháng Ashwin (Âm lịch Nepal, tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10 dương lịch)Hai mùa Đại lễ Hành hương Chaite Dashain và Bada DashainHai thời điểm thời tiết quang đãng nhất trên dãy Annapurna, thu hút hàng vạn khách hành hương từ Ấn Độ (đặc biệt là tín đồ Sri Vaishnava từ Nam Ấn Độ) và khắp đất nước Nepal vượt hẻm sông Kali Gandaki lên Muktinath để tắm 108 vòi nước thiêng, thỉnh đá hóa thạch Shaligram tại Kagbeni để làm lễ cầu siêu cho tổ tiên (Pitri Tarpan).
Mồng 10 tháng 6 Âm lịch Tây Tạng (Khoảng tháng 7 hoặc tháng 8 dương lịch)Đại lễ Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche Tsechu)Các vị ni sư dòng Jhuma và chư tăng tại các tu viện Mebar Lhakhang, Sarwa Gompa và Narsingh Gompa trong khuôn viên Chumig Gyatsa cử hành đại pháp hội trì tụng Kim Cương Thượng Sư Chú, cúng dường tiệc hội Ganachakra (Tsog) và thắp sáng hàng ngàn ngọn đèn bơ quanh tượng Đức Liên Hoa Sinh.
Hằng ngày từ bình minh (Quanh năm theo truyền thống lưỡng giáo)Nghi thức tắm 108 vòi nước băng Muktidhara và lễ Puja - Đèn bơTừ sáng sớm khi nhiệt độ thường xuống dưới 0 độ C vào mùa đông, các tín đồ hành hương chạy nối đuôi nhau dưới 108 vòi nước đầu bò lạnh buốt, nhúng mình vào hai hồ Laxmi - Saraswati Kunda, sau đó bước vào chính điện nhận dấu chấm đỏ Tika từ vị tư tế Bà-la-môn và nhận sợi dây gia trì cùng nước thánh từ các vị ni sư Phật giáo Tây Tạng.
Chỗ hay hiểu lầm

Hình ảnh đặc trưng nhất tại Đền Muktinath là cảnh những người hành hương lớn tuổi từ vùng nhiệt đới miền Nam Ấn Độ và đồng bằng sông Hằng, bất chấp cái lạnh cắt da ở độ cao 3.710 mét, vẫn thành kính chạy chân trần dưới làn nước băng giá tuôn chảy từ 108 chiếc đầu bò bằng đồng, miệng hô vang danh hiệu Om Namo Narayanaya, ngay bên cạnh những cụ già người Tây Tạng tay xoay kinh luân rầm rập niệm chú Om Mani Padme Hum. Hai âm thanh ấy hòa quyện dưới bóng những cây dương cổ thụ tạo nên biểu tượng sống động nhất của tinh thần bao dung tôn giáo vùng Himalaya.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Muktinath Valley, Ranipauwa, Baragung Muktichhetra Rural Municipality, Mustang District 33100, Gandaki Province, Nepal (मुक्तिनाथ, मुस्ताङ)
Đường tới
Từ thành phố Pokhara, quý vị có thể đi máy bay cánh bằng nhỏ (khoảng 20 phút) tới sân bay Jomsom (thủ phủ huyện Mustang), sau đó đi xe jeep hoặc xe buýt địa phương dọc theo thung lũng sông Kali Gandaki qua làng cổ Kagbeni thêm khoảng 20 km đường nhựa lên tới thị trấn Ranipauwa (chân đền Muktinath), hoặc quý vị có thể đi đường bộ thẳng từ Pokhara qua Beni - Tatopani - Jomsom tới Muktinath cũng như đi bộ leo núi theo tuyến Annapurna Circuit vượt đèo Thorong La (5.416 m) đi xuống thẳng thung lũng Muktinath.
Toạ độ
28.8171, 83.8717
Khi tới nơi

Khi hành hương tới Đền Muktinath ở độ cao 3.710 mét, điều quan trọng đầu tiên mà quý vị cần lưu ý là phòng ngừa chứng say độ cao cấp tính (AMS): quý vị nên di chuyển chậm rãi khi leo hơn 300 bậc thang đá từ cổng thị trấn Ranipauwa lên đền, giữ ấm cơ thể và uống đủ nước ấm. Nếu quý vị muốn thực hiện nghi thức tắm dưới 108 vòi nước đầu bò Muktidhara, xin chuẩn bị sẵn khăn bông khô và quần áo ấm để thay ngay tại phòng thay đồ cạnh hồ nước nhằm tránh bị hạ thân nhiệt do nước suối băng rất lạnh. Khi bước vào bên trong ngôi đền chính 3 tầng mái và điện lửa Jwala Mai, quý vị cần cởi bỏ giày dép, đồ da và tuyệt đối không chụp ảnh bên trong nội điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Muktinath (Chumig Gyatsa), Mustang

Contribute photos, information or video for Muktinath

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Đền Muktinath lại được cả tín đồ Ấn Độ giáo và Phật giáo Tây Tạng cùng tôn thờ?

Đối với Ấn Độ giáo, đây là Mukti Kshetra (Thánh địa Giải thoát) và là một trong 108 Divya Desam linh thiêng nhất của thần Vishnu, gắn với đá hóa thạch Shaligram trên sông Kali Gandaki và nơi thái dương nữ thần Sati rơi xuống. Đối với Phật giáo Tây Tạng, nơi đây có tên là Chumig Gyatsa (Trăm Mạch Nước Thiêng), thánh địa của các Không Hành Mẫu Dakini và Đức Quán Thế Âm, nơi Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche) từng thiền định trên đường vào Tây Tạng. Trong chính điện, cả tư tế Bà-la-môn lẫn các ni sư Phật giáo Tây Tạng cùng nhau phụng sự hằng ngày.

108 vòi nước hình đầu bò phía sau Đền Muktinath có nguồn gốc và ý nghĩa gì?

Phía sau ngôi đền chính có bức tường đá hình bán nguyệt gắn 108 vòi nước bằng đồng đúc hình đầu bò (Muktidhara), dẫn nước trực tiếp từ dòng suối băng tuyết tan trên dãy núi Damodar Himal / Thorong La. Con số 108 tượng trưng cho 108 thánh địa Divya Desam trong Ấn Độ giáo Vaishnava và 108 pháp môn tịnh hóa phiền não trong Phật giáo. Tín đồ tin rằng việc chạy dưới cả 108 vòi nước lạnh giá này sẽ gột rửa sạch mọi nghiệp chướng để đạt tới sự giải thoát.

Ngọn lửa cháy vĩnh cửu trên mặt nước tại điện Jwala Mai là hiện tượng gì?

Bên trong ngôi điện Jwala Mai (tiếng Tây Tạng gọi là Mebar Lhakhang, tức Chùa Lửa Diệu Kỳ) nằm cách đền chính khoảng 100 mét về phía Nam có những mạch khí đốt tự nhiên (khí metan địa chất) rò rỉ từ các khe đá ngầm ngay bên dưới dòng nước suối, tạo thành ngọn lửa màu xanh lam cháy liên tục không tắt ngay trên mặt nước và khe đá suốt hàng ngàn năm. Tín đồ hai đạo tôn kính đây là ngọn lửa thiêng do thần Brahma thắp lên và là nơi hội tụ kỳ diệu của đủ Năm nguyên tố vũ trụ (Đất, Nước, Lửa, Gió, Không gian).

Đá hóa thạch Shaligram tại vùng Muktinath là gì và vì sao lại linh thiêng?

Shaligram (hay Salagrama Shila) là những viên đá cuội màu đen chứa hóa thạch cúc đá (Ammonite, loài động vật thân mềm biển cổ đại từ kỷ Jura cách nay khoảng 140 đến 165 triệu năm khi dãy Himalaya còn nằm dưới đáy biển Tethys), chỉ tìm thấy tự nhiên dọc lòng sông Kali Gandaki dưới chân thung lũng Muktinath. Do bên trong viên đá có các đường vân xoắn ốc tự nhiên giống hệt bánh xe thần Sudarshana Chakra của thần Vishnu, Ấn Độ giáo tôn thờ đá Shaligram là hiện thân tự sinh (Svayambhu) của chính thần Vishnu.

Ngôi đền chính 3 tầng mái của Muktinath hiện nay được xây dựng vào năm nào?

Mặc dù thánh địa Muktinath đã được nhắc tới trong kinh Puranas và thánh ca Tamil từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 9 SCN, cấu trúc ngôi đền chính 3 tầng mái theo phong cách chùa tháp Newar có đỉnh đồng mạ vàng hiện nay được xây dựng lại vào năm 1815 (trên nền một ngôi đền đất sét cũ của các vua vùng Jumla) dưới sự bảo trợ của Vương hậu Subarna Prabha Devi, hoàng hậu của vua Rana Bahadur Shah triều đại Gorkha / Shah.

›Đọc Tiếp