VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Sắc tứ Bác Ái

Sắc tứ Bác Ái Tự, Tổ đình Bác Ái, Chùa Bác Ái Kon Tum, Linh Sơn Tự, Âm Linh Miếu

Ngôi cổ tự đầu tiên mở nền Phật giáo trên vùng cao nguyên Bắc Tây Nguyên và là ngôi chùa duy nhất tại Kon Tum được ban biển Sắc tứ của triều Nguyễn.

Khởi dựng
1932
Hòa thượng Hoằng Thông, cụ Võ Chuẩn, Phan Thanh Kỷ
Sắc tứ
1933
vua Bảo Đại ban biển Sắc tứ Bác Ái Tự
Cổ vật
Chuông 1826
đại hồng chung đúc năm Minh Mạng thứ 7

Giữa lòng phố núi Kon Tum bên bờ bắc dòng sông Đăk Bla chảy ngược về hướng tây, nơi một khu đất vuông vức được bao bọc bởi bốn con đường Phan Chu Trinh, Mạc Đĩnh Chi, Trần Phú và Bà Triệu, quý vị sẽ bắt gặp đôi trụ biểu cổng tam quan khảm sành sứ rực rỡ vươn cao dưới bóng thông và đại cổ thụ. Bước qua cổng tam quan ấy là một nếp chùa cổ mang dáng dấp nhà rường cố đô Huế trầm mặc, mái ngói liệt phủ rêu xanh, chính giữa treo tấm biển sơn son thếp vàng khắc bốn chữ Hán Sắc tứ Bác Ái Tự.

Đó là Chùa Sắc tứ Bác Ái (còn gọi là Tổ đình Bác Ái), tọa lạc tại đường Phan Chu Trinh và số 10 đường Mạc Đĩnh Chi, phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi (trước đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 là phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum). Khởi dựng vào năm Nhâm Thân 1932 và hoàn thành đầu năm Quý Dậu 1933, Bác Ái không chỉ là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên đặt nền móng trên vùng cao nguyên Bắc Tây Nguyên mà còn là chứng nhân lịch sử của cuộc di dân mở đất đầy bi tráng đầu thế kỷ 20.

IHòa Thượng Hoằng Thông, Cụ Võ Chuẩn Và Tâm Nguyện Bác Ái Giữa Đại Ngàn

Sự ra đời của Chùa Sắc tứ Bác Ái bắt nguồn từ một biến cố nhân sinh lớn lao của cư dân miền Trung vào đầu thập niên 1930. Vào các năm 1931 và 1932, các tỉnh duyên hải từ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định liên tiếp chịu cảnh hạn hán, mất mùa và đói kém. Hàng vạn lưu dân nghèo khổ đã rời quê hương ngược đèo Măng Đen, đèo An Khê lên vùng đất cao nguyên Kon Tum để khai hoang lập ấp và làm phu mở đường. Giữa chốn rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí, lại thêm bệnh sốt rét ác tính và thú dữ hoành hành, biết bao lưu dân đã bỏ mạng dọc đường hoặc nơi lán trại mà không có lấy một nén hương cầu siêu.

Đứng trước nỗi đau thương ấy của đồng bào, cụ Võ Chuẩn (quan Quản đạo kiêm Huấn đạo tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ, quê ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế) cùng các vị nhân sĩ, hương chức tâm huyết tại địa phương tiêu biểu là cụ Phan Thanh Kỷ đã đứng ra vận động lập một ngôi miếu thờ âm linh và dựng chùa thờ Phật. Cụ Võ Chuẩn và ban vận động đã xuống tận Quy Nhơn cung thỉnh Hòa thượng Thích Hoằng Thông (bậc cao tăng giữ ngôi Thủ tọa chùa Bạch Sa tại Bình Định) cùng chư tăng vượt đèo lên Kon Tum thiết lập đại đàn giải oan bạt độ, tụng kinh cầu siêu suốt ba ngày ba đêm cho các vong linh lưu dân tử nạn, đồng thời đặt đá khởi công xây dựng chùa vào năm Nhâm Thân (1932).

Theo giáo nghĩa

Trong dòng chảy của Phật giáo Việt Nam trên vùng đất Tây Nguyên, danh hiệu Bác Ái (博愛, nghĩa là lòng thương yêu rộng lớn bao trùm muôn loài) gói trọn tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật trong buổi đầu đến với đại ngàn. Buổi đầu lập tự, công trình kết hợp cả ngôi Linh Sơn Tự thờ Phật và ngôi Âm Linh Miếu thờ các cô hồn lưu dân cùng đồng bào các dân tộc tử nạn. Khi vua Bảo Đại ban biển Sắc tứ Bác Ái Tự vào năm 1933, hai chữ Bác Ái được chọn để khẳng định rằng dưới mái chùa này không có sự phân biệt giữa người Kinh miền xuôi và người Thượng bản địa, không chia rẽ lương hay giáo, người còn sống được nương bóng từ bi để an cư lập nghiệp và người khuất mặt được siêu sinh Tịnh độ.

Theo sử liệu

Khi đối chiếu các nguồn sử liệu viết về quá trình hình thành và ban biển Sắc tứ của chùa Bác Ái năm 1932 tới 1933, thư viện ghi nhận hai điểm chênh lệch giữa các tư liệu mà người đọc cần lưu ý. Thứ nhất, về chức vụ hành chính của cụ Võ Chuẩn tại Kon Tum thời điểm năm 1932, một số tài liệu lịch sử địa phương và bia ký ghi cụ giữ chức Quản đạo Kon Tum (vị quan đứng đầu bộ máy Nam triều tại đạo Kon Tum), trong khi Báo Giác Ngộ và một số bài khảo cứu khác ghi chức danh của cụ là Huấn đạo tỉnh Kon Tum (quan trông coi việc giáo học, sau thăng Quản đạo và là tác giả cuốn địa chí nổi tiếng Kontum tỉnh chí công bố năm 1933 trên tạp chí Nam Phong). Thứ hai, về ngày tháng năm Quý Dậu (1933, niên hiệu Bảo Đại thứ 8) khi vua Bảo Đại ban tấm biển ngạch sơn son thếp vàng Sắc tứ Bác Ái Tự, truyền thống địa phương và một số tư liệu Phật giáo ghi nhà vua ban sắc tứ vào ngày mùng 7 tháng Giêng năm Quý Dậu (1933) ngay dịp khánh thành đầu xuân, trong khi một số bài báo và cổng thông tin dẫn theo lạc khoản ghi ngày 13 tháng 10 năm Quý Dậu (1933). Thư viện ghi rõ cả hai mốc ngày tháng để người đọc tiện đối chiếu.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe tên gọi Chùa Sắc tứ Bác Ái và thấy trong chùa treo quả đại hồng chung đúc từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) thường lầm tưởng ngôi chùa được xây dựng tại Kon Tum từ đầu thế kỷ 19. Thực tế, vùng đất Kon Tum đầu thế kỷ 19 chưa có tự viện Phật giáo, quả chuông đồng năm 1826 vốn được đúc dưới thời vua Minh Mạng ở miền xuôi, sau đó được triều đình và chư tôn đức thỉnh lên cúng dường cho chùa Bác Ái vào năm 1933 khi chùa vừa hoàn thành để tiếng chuông cổ trấn an vùng đất mới.

IIHơn Chín Thập Niên Mở Nền Phật Giáo Cao Nguyên

Kể từ ngày cụ Võ Chuẩn trực tiếp vẽ bản thiết kế kiến trúc theo mẫu đình chùa cố đô Huế, cùng cụ Phan Thanh Kỷ vận động nhân dân đóng góp công sức và Hòa thượng Thích Hoằng Thông chứng minh khởi công vào tháng 6 năm Nhâm Thân (1932), công trình đã được thi công khẩn trương bằng các loại gỗ quý của rừng đại ngàn Kon Tum dưới bàn tay tài hoa của các hiệp thợ mộc, thợ nề rước từ Huế và Bình Định lên. Đầu năm Quý Dậu (1933), ngôi chùa hoàn thành khang trang, trở thành cơ sở Phật giáo đầu tiên hiện diện trên toàn vùng Bắc Tây Nguyên.

Sau lễ lạc thành và đón nhận biển Sắc tứ của vua Bảo Đại năm 1933, Hòa thượng Thích Từ Vân được cung thỉnh làm vị trụ trì đầu tiên chăm lo việc hoằng pháp tại chùa. Trải qua hơn chín thập niên với nhiều thế hệ cao tăng kế thế trụ trì (như Hòa thượng Thích Bửu Không, Hòa thượng Thích Chánh Quang), chùa Bác Ái luôn là tổ đình gốc sản sinh và che chở cho mạng mạch Phật giáo tỉnh Kon Tum cũ (nay là khu vực phía tây tỉnh Quảng Ngãi), nơi đặt trụ sở Hội Phật học và đào tạo tăng ni cho khắp vùng cao nguyên.

  • 1931 tới 1932Làn sóng lưu dân miền Trung lên khai hoang Kon Tum
    Do hạn hán và mất mùa ở duyên hải miền Trung, hàng vạn lưu dân từ Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định di cư lên Kon Tum mở đường, lập ấp, nhiều người tử nạn vì sốt rét và rừng thiêng nước độc.
  • 1932Thiết đàn cầu siêu và khởi công xây dựng chùa
    Cụ Võ Chuẩn và cụ Phan Thanh Kỷ vận động nhân dân, được sự đồng thuận của Công sứ Quénin, cung thỉnh Hòa thượng Thích Hoằng Thông từ chùa Bạch Sa (Quy Nhơn) lên lập đàn cầu siêu 3 ngày đêm và khởi dựng Linh Sơn Tự cùng Âm Linh Miếu.
  • 1933Hoàn thành chùa và đón biển Sắc tứ Bác Ái Tự của vua Bảo Đại
    Ngôi chùa hoàn thành đầu năm Quý Dậu (1933, Bảo Đại thứ 8). Vua Bảo Đại ban tặng biển vàng Sắc tứ Bác Ái Tự (các nguồn ghi ngày mùng 7 tháng Giêng hoặc ngày 13 tháng 10 năm Quý Dậu) và cung thỉnh Hòa thượng Thích Từ Vân trụ trì.
  • 1933Cung thỉnh Đại hồng chung thời Minh Mạng lên cao nguyên
    Triều đình nhà Nguyễn và chư sơn thiền đức trao tặng chùa quả chuông U Minh đúc từ tháng 8 năm Minh Mạng thứ 7 (Bính Tuất 1826) cùng bộ kinh văn, pháp khí cổ.
  • 1950 tới 1968Trung tâm Phật giáo tỉnh Kon Tum và mở rộng khuôn viên
    Dưới thời Hòa thượng Thích Bửu Không trụ trì, chùa mở rộng Đông lang, Tây lang, xây dựng giảng đường và trở thành trụ sở Giáo hội Phật giáo tỉnh Kon Tum.
  • 2003 tới 2015Trùng tu bảo tồn kiến trúc gỗ cổ và xếp hạng Di tích cấp tỉnh
    Chùa được tu bổ bảo tồn nguyên trạng hệ khung gỗ nhà rường Huế tại Chính điện, nhà Tổ và được Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cũ công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
  • 2025Thuộc phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi mới
    Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 từ tháng 7 năm 2025, phường Quyết Thắng hợp nhất thành phường Kon Tum trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Theo sử liệu

Trong cuốn chuyên khảo địa phương Kontum tỉnh chí xuất bản năm 1933, chính cụ Võ Chuẩn đã ghi chép tỉ mỉ về địa lý, dân cư, phong tục và quá trình lập phố, dựng chùa tại thị xã Kon Tum bên dòng Đăk Bla. Nhờ những ghi chép đương thời ấy kết hợp với hệ thống câu đối chữ Hán khắc trên cột gỗ trong chánh điện chùa Bác Ái, hậu thế biết rõ rằng ngôi chùa được dựng lên từ sự chung tay của cả quan lại Nam triều, thương nhân, phu lục lộ và đồng bào địa phương, làm điểm tựa tinh thần cho những người con xa xứ lập nghiệp nơi đại ngàn.

IIIKiến Trúc Nhà Rường Huế Trên Cao Nguyên Và Quả Chuông Năm Minh Mạng

Do chính cụ Võ Chuẩn, một vị quan xuất thân từ dòng dõi khoa bảng xứ Huế, trực tiếp phác thảo bản vẽ và mời thợ mộc từ kinh đô Huế cùng Bình Định lên thi công, Chùa Sắc tứ Bác Ái mang đậm phong cách kiến trúc đình chùa truyền thống Huế giữa lòng Tây Nguyên. Tổng thể mặt bằng chùa được quy hoạch theo bố cục hình chữ Môn (門) (hoặc chữ Khẩu khép kín), mở đầu là cổng Tam quan với cặp trụ biểu cao vút, tiếp đến là sân bái rộng có đài Quán Thế Âm và bức bình phong cổ, ở giữa là tòa Chính điện nối liền với nhà Hậu Tổ, hai bên tả hữu là hai dãy Đông lang và Tây lang đối xứng.

Tòa Chính điện được kiến tạo theo thức nhà rường truyền thống 3 gian 2 chái, mái lợp ngói âm dương (ngói liệt), trên bờ nóc đắp nổi đồ án lưỡng long chầu nhật bằng mảnh sành sứ ghép màu tinh xảo, bốn góc mái uốn cong hình đuôi phượng. Toàn bộ hệ thống cột cái, cột quân, kèo, xuyên, trến, rường cụt trong chính điện đều được làm từ các loại gỗ quý bậc nhất của rừng già Tây Nguyên thập niên 1930 như gỗ trắc, gỗ tía, gỗ cà chít và gỗ hương, trải qua gần một thế kỷ vẫn bóng lên sắc nâu đỏ trầm mặc và không hề bị mối mọt xâm hại.

Cổng Tam quan và cặp trụ biểu khảm sành sứ

Quay mặt ra trục đường chính về hướng sông Đăk Bla, cổng Tam quan nổi bật với bốn trụ biểu vuông vươn cao, đỉnh trụ đắp búp sen và nghê chầu, thân trụ khảm sành sứ câu đối chữ Hán theo lối mỹ thuật cung đình Huế.

Bức biển vàng Sắc tứ Bác Ái Tự (1933)

Treo trang trọng ngay gian giữa Tiền đường và Chính điện là tấm hoành phi sơn son thếp vàng do vua Bảo Đại ngự ban năm Quý Dậu (1933), chạm nổi rồng mây chầu quanh bốn chữ Hán Sắc tứ Bác Ái Tự.

Tòa Chính điện nhà rường gỗ trắc, gỗ cà chít

Không gian thờ tự tôn nghiêm theo hệ phái Bắc tông với hệ khung vì kèo chồng rường giả thủ chạm khắc tứ linh, tứ quý. Trên bảo điện tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Tam Thế Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng các bức bửu tán, câu đối cổ.

Đại hồng chung đúc năm Minh Mạng thứ 7 (1826)

Quả chuông đồng cổ (chuông U Minh) cao khoảng 1,2 mét, nặng hơn 100 kg, thân chuông khắc bài minh chữ Hán ghi rõ niên đại đúc vào tháng 8 năm Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), có tuổi đời gần hai trăm năm.

Nhà Hậu Tổ, Âm Linh Miếu và khu vườn tháp

Phía sau Chính điện là nhà Tổ thờ Tổ sư Đạt Ma, Hòa thượng khai sơn Thích Hoằng Thông, chư vị lịch đại trụ trì cùng bài vị tiền hiền Võ Chuẩn, Phan Thanh Kỷ. Trong khuôn viên còn giữ miếu thờ Âm linh lưu dân và các bảo tháp cổ.

Trong số các cổ vật lưu giữ tại Tổ đình Bác Ái, quý giá bậc nhất là chiếc Đại hồng chung (chuông U Minh) đúc từ tháng 8 năm Bính Tuất (1826), tức năm Minh Mạng thứ 7, lớn tuổi hơn chính ngôi chùa hơn một thế kỷ. Quai chuông đúc hình đôi rồng đấu lưng (bồ lao) uyển chuyển, thân chuông chia làm bốn ô khắc minh văn chữ Hán cầu cho phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, âm siêu dương thái. Bên cạnh quả chuông cổ, chùa còn bảo lưu bộ mộc bản kinh Phật khắc gỗ, các bản sắc tứ và nhiều hoành phi câu đối do các bậc danh nho miền Trung đề tặng từ năm 1933.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý hình thế.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cục địa hình vùng trũng bồn địa Kon Tum giữa cao nguyên Bắc Tây Nguyên, Chùa Sắc tứ Bác Ái tọa lạc ở tọa độ 14,3492 độ vĩ Bắc và 108,0028 độ kinh Đông, nằm trên thềm đất bằng phẳng cao ráo ở bờ bắc dòng sông Đăk Bla. Trong địa lý phong thủy Tây Nguyên, sông Đăk Bla là một dòng sông kỳ đặc vì đa số sông ngòi Việt Nam đều chảy từ tây sang đông đổ ra biển Đông, riêng sông Đăk Bla (nhánh hợp lưu chính của sông Sê San) lại bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Linh hùng vĩ ở phía đông bắc rồi chảy ngược về hướng tây nam. Theo phép thủy pháp cổ truyền, dòng sông chảy ngược hướng địa hình chung tạo thành thế nghịch thủy triều đường (nước chảy ngược về chầu trước minh đường), là cách cục tụ khí cực mạnh, giúp giữ lại nguyên khí của núi rừng đại ngàn không bị thất tán.

Về tọa hướng và tứ tượng, ngôi chùa tọa bắc hướng nam (mặt chính mở ra đường Phan Chu Trinh nhìn về phía dòng sông Đăk Bla ở phía nam). Phía sau lưng chùa ở phương bắc là dải đồi cao nguyên vươn lên làm hậu chẩm vững chãi, phía trước mặt ở phương nam, dòng sông Đăk Bla uốn khúc êm đềm đóng vai trò ngoại minh đường tụ thủy, còn dãy núi Chư Hreng sừng sững ở bờ nam sông Đăk Bla đứng chắn ngay trước tầm mắt làm tiền án (án sơn) chuẩn mực. Khuôn viên chùa được bao bọc vuông vức bởi bốn con đường bàn cờ (Phan Chu Trinh ở phía nam, Bà Triệu ở phía bắc, Trần Phú ở phía đông làm tả Thanh Long, Mạc Đĩnh Chi ở phía tây làm hữu Bạch Hổ), tạo nên một chỉnh thể phong thủy hài hòa, tĩnh tại giữa lòng phố núi.

VLễ Cầu Siêu Tiền Nhân Mở Đất Và Các Kỳ Lễ Lớn Trên Phố Núi

Khởi nguồn từ một ngôi chùa lập nên để cứu độ các vong linh lưu dân tử nạn trong buổi đầu khai hoang năm 1932, truyền thống lễ tiết của Chùa Sắc tứ Bác Ái mang đậm tinh thần tri ân và báo ân. Hằng năm, bên cạnh các đại lễ trọng của Phật giáo Bắc tông, nhà chùa luôn duy trì các khóa lễ tưởng niệm Tổ sư khai sơn Thích Hoằng Thông, chư vị lịch đại trụ trì cùng hai vị tiền hiền sáng lập là cụ Võ Chuẩn, cụ Phan Thanh Kỷ và hàng vạn đồng bào đã nằm xuống khi mở đất cao nguyên.

Các kỳ lễ tiết và pháp hội chính trong năm tại Chùa Sắc tứ Bác Ái. Nguồn: Tổng hợp từ Báo Giác Ngộ, Báo Tiền Phong và tư liệu Tổ đình Bác Ái..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễ hội và pháp hộiNội dung nghi lễ truyền thống
Mùng 1 tới rằm tháng GiêngĐại lễ cầu an đầu xuân và kỷ niệm ngày nhận biển Sắc tứNhân dân các dân tộc vùng Kon Tum về chùa lễ Phật đầu năm, khai kinh Dược Sư cầu quốc thái dân an và tưởng niệm sự kiện chùa đón biển Sắc tứ Bác Ái Tự mùa xuân năm Quý Dậu 1933.
Mùng 8 đến rằm tháng 4Đại lễ Phật Đản vùng Bắc Tây NguyênLễ tắm Phật (Mộc dục), rước Phật và thuyết pháp tại chốn tổ đầu tiên của vùng cao nguyên, thu hút đông đảo Phật tử người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số.
Rằm tháng 7 (14 đến 16 tháng 7)Đại lễ Vu Lan báo hiếu và Trai đàn chẩn tế âm linh lưu dânTái hiện truyền thống trai đàn cầu siêu từ năm 1932: tụng kinh Vu Lan, cúng dường trai tăng, tế Tiền hiền khai khẩn (Võ Chuẩn, Phan Thanh Kỷ) và lập đàn chẩn tế cô hồn các lưu dân tử nạn thuở mở cõi.
Các ngày húy kỵ trong nămLễ Giỗ Tổ khai sơn và chư vị Hòa thượng trụ trìMôn đồ pháp quyến và Phật tử vân tập nhiễu tháp, dâng hương tưởng niệm Hòa thượng khai sơn Thích Hoằng Thông, Hòa thượng Thích Từ Vân, Hòa thượng Thích Bửu Không và Hòa thượng Thích Chánh Quang.

Mỗi dịp rằm tháng Bảy âm lịch, khi tiếng chuông U Minh đúc từ năm Minh Mạng 1826 ngân vang giữa đêm sương phố núi, lễ cúng Âm linh và chẩn tế cô hồn tại chùa Bác Ái lại nhắc nhở các thế hệ cư dân Kon Tum hôm nay về cội nguồn của ông cha từ Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đã vượt núi băng rừng lên gây dựng quê hương mới bên dòng Đăk Bla hơn chín mươi năm trước.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Phan Chu Trinh và số 10 đường Mạc Đĩnh Chi, phường Kon Tum (phường Quyết Thắng cũ, thành phố Kon Tum cũ, tỉnh Kon Tum cũ), tỉnh Quảng Ngãi
Đường tới
Chùa nằm ngay trung tâm đô thị bên bờ bắc sông Đăk Bla, giới hạn bởi bốn mặt đường Phan Chu Trinh, số 10 đường Mạc Đĩnh Chi, đường Trần Phú và đường Bà Triệu, thuộc phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum cũ). Từ cầu Đăk Bla trên Quốc lộ 14 đi vào trung tâm phường Kon Tum khoảng 1,5 km theo đường Trần Phú hoặc Phan Chu Trinh là tới chùa.
Toạ độ
14.3492, 108.0028
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Chùa Sắc tứ Bác Ái, quý vị lưu ý mặc trang phục lịch sự, kín đáo, bước qua cổng Tam quan theo lối cửa bên và giữ sự tĩnh lặng nơi chốn tổ. Hệ thống cột gỗ trắc, gỗ cà chít trong Chính điện, tấm biển vàng Sắc tứ Bác Ái Tự năm 1933 và quả Đại hồng chung đúc năm Minh Mạng thứ 7 (1826) đều là những cổ vật vô giá của vùng Tây Nguyên, xin quý vị tuyệt đối không tự ý gõ chuông hay chạm tay lên hiện vật. Ngoài việc lễ Phật ở Chính điện, quý vị nên dành chút thời gian sang nhà Hậu Tổ và miếu Âm linh để thắp nén hương tưởng niệm các bậc tiền hiền đã khai mở vùng đất Kon Tum.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Sắc tứ Bác Ái

Contribute photos, information or video for Sắc tứ Bác Ái Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Sắc tứ Bác Ái được xây dựng vào năm nào và do ai khởi xướng?

Chùa Sắc tứ Bác Ái được khởi công xây dựng vào năm Nhâm Thân 1932 và hoàn thành đầu năm Quý Dậu 1933. Công trình do cụ Võ Chuẩn (Quản đạo kiêm Huấn đạo tỉnh Kon Tum) trực tiếp thiết kế và cùng cụ Phan Thanh Kỷ vận động nhân dân đóng góp, cung thỉnh Hòa thượng Thích Hoằng Thông (Thủ tọa chùa Bạch Sa, Quy Nhơn) lên chứng minh, lập đàn cầu siêu cho các lưu dân miền Trung tử nạn khi lên khai hoang cao nguyên.

Vì sao chùa có tên là Sắc tứ Bác Ái Tự?

Ban đầu khi mới khởi lập năm 1932, chùa gắn với tên gọi Linh Sơn Tự và Âm Linh Miếu. Đến năm Quý Dậu 1933 (năm Bảo Đại thứ 8), cảm kích trước ý nghĩa nhân đạo cứu khổ của ngôi chùa đầu tiên trên đất Tây Nguyên, vua Bảo Đại đã ban tặng tấm biển sơn son thếp vàng khắc bốn chữ Sắc tứ Bác Ái Tự, thể hiện lòng thương yêu rộng lớn không phân biệt tôn giáo hay dân tộc Kinh, Thượng.

Sau đợt sáp nhập tỉnh thành năm 2025, Chùa Sắc tứ Bác Ái thuộc địa phương nào?

Trước tháng 7 năm 2025, chùa tọa lạc tại phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 về hợp nhất tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Quảng Ngãi mới, cùng Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 hợp nhất năm phường trung tâm (Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Trường Chinh, Thống Nhất), chùa hiện thuộc phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi.

Quả chuông đồng cổ trong Chùa Sắc tứ Bác Ái có niên đại từ bao giờ?

Chùa Bác Ái hiện lưu giữ quả Đại hồng chung (chuông U Minh) bằng đồng nặng hơn 100 kg, trên thân khắc minh văn chữ Hán ghi rõ niên đại đúc vào tháng 8 năm Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826). Quả chuông có tuổi đời gần hai trăm năm này được triều đình Huế và chư sơn thiền đức ban tặng cho chùa khi khánh thành năm 1933.

Kiến trúc của Chùa Sắc tứ Bác Ái mang phong cách gì?

Chùa mang đậm phong cách kiến trúc nhà rường truyền thống cố đô Huế kết hợp quy hoạch hình chữ Môn khép kín. Toàn bộ hệ khung cột, vì kèo chồng rường trong Chính điện được chế tác từ các loại gỗ quý của Tây Nguyên như gỗ trắc, gỗ tía, gỗ cà chít bởi bàn tay các nghệ nhân Huế và Bình Định, kết hợp cổng Tam quan và bờ nóc khảm sành sứ tinh xảo.

›Đọc Tiếp