VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Wat Xieng Thong, Luang Prabang

Wat Xieng Thong, ວັດຊຽງທອງ, Chùa Xiêng Thong, Chùa Thành phố Cây Vàng, Temple of the Golden City

Ngôi chùa hoàng gia cổ kính bậc nhất của cố đô Luang Prabang nằm ngay mũi bán đảo nơi dòng Nam Khan hòa vào sông Mê Kông, do vua Setthathirath dựng năm 1560 với mái chính điện uốn cong ba tầng sà sát mặt đất.

Khởi dựng
1559 tới 1560
dưới triều vua Setthathirath của vương quốc Lan Xang
Nét kiến trúc
Mái Sim ba tầng
kèm bức ghép kính Cây Nhân Sinh và linh xa hoàng gia cao 12 mét
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
thuộc quần thể cố đô Luang Prabang ghi danh năm 1995

Đi tới tận cùng mũi phía bắc của bán đảo Luang Prabang, nơi dòng nước trong xanh của sông Nam Khan gặp dòng nước phù sa đỏ nặng của sông Mê Kông, quý vị sẽ bước lên những bậc đá rêu phong dẫn từ bến thuyền hoàng gia vào một khuôn viên rợp bóng hoa đại và cọ dừa. Giữa sân gạch nung yên ả, tòa chính điện hiện ra với bộ mái ngói ba tầng cong vút như đôi cánh chim thần đang sà thấp xuống sát mặt đất, trên đỉnh nóc điểm xuyết hàng tháp vàng Dok So Fa vươn thẳng lên nền trời xanh thẫm. Bước vòng ra bức tường phía sau chính điện, ánh nắng chiều chiếu vào hàng vạn mảnh kính màu ghép thành một thân cây đại thụ khổng lồ lấp lánh sắc hồng, sắc lục và sắc vàng trên nền vữa đỏ thẫm.

Đó là Chùa Wat Xieng Thong (ວັດຊຽງທອງ, nghĩa là Chùa Thành phố Cây Vàng), ngôi quốc tự thiêng liêng nhất của cố đô Luang Prabang được vua Setthathirath khởi dựng vào năm 1559 tới 1560 ngay trước khi dời đô về Viêng Chăn. Suốt bốn thế kỷ, đây là nơi cử hành đại lễ đăng cơ của các vị quốc vương Lào, đồng thời là ngôi chùa lớn duy nhất tại Luang Prabang giữ nguyên vẹn cấu trúc gỗ thế kỷ 16 mà không bị thiêu hủy trong biến cố năm 1887.

Chùa Wat Xieng Thong, Luang Prabang
Chùa Wat Xieng Thong, Luang Prabang. Ảnh: Basile Morin, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHuyền Thoại Cây Vàng Bên Bến Sông Và Ngôi Chùa Đăng Cơ Quốc Vương

Tên gọi Wat Xieng Thong trong tiếng Lào ghép từ ba chữ: Wat là chùa, Xieng là kinh thành hoặc vùng đất linh thiêng, và Thong là cây vông đồng (loài cây thân gỗ lớn nở hoa đỏ rực ven sông, đồng âm với chữ vàng trong tiếng Lào). Theo sử biên niên cổ của Luang Prabang (xưa mang tên là Muang Sua rồi Xieng Dong Xieng Thong), vào thuở khai thiên lập địa có hai vị ẩn sĩ đã chọn vùng đất hợp lưu giữa sông Mê Kông và sông Nam Khan để cắm mốc xây dựng kinh thành bên cạnh một cây Thong khổng lồ mọc sừng sững trên bờ đất bồi. Về sau, truyền thuyết dân gian kể lại rằng dưới gốc cây đại thụ ấy là nơi vợ chồng ông lão nghèo Chanthaphanit từng sinh sống trước khi được tôn lên làm vị vua đầu tiên của xứ sở, và hai vị thần hộ mệnh đất nước (Pu No và Na No) cũng hóa thân tại mũi đất này.

Mang trọn tầng lớp huyền thoại khai quốc ấy, khi vua Setthathirath (trị vì 1548 tới 1571), vị minh quân lừng lẫy nhất của vương quốc Lan Xang (Triệu Voi), quyết định chuyển kinh đô từ Luang Prabang xuống vùng đồng bằng Viêng Chăn vào năm 1560 để thuận bề phòng thủ và mở mang bờ cõi, nhà vua đã cho xuất kho ngân khố dựng ngôi đại tự Wat Xieng Thong ngay trên nền cây Thong cổ thụ để làm món quà tạ ơn đất tổ và giữ mạch tâm linh cho cố đô. Sau khi vua Setthathirath về Viêng Chăn và dựng thêm Tháp Thạt Luổng (Pha That Luang) cùng Chùa Ho Phra Keo, Wat Xieng Thong vẫn tiếp tục giữ vị thế là ngôi chùa bảo trợ tối cao của hoàng gia tại cố đô phía bắc.

Theo giáo nghĩa

Trong truyền thống Phật giáo Nam tông (Theravada) của vương quốc Lan Xang và vương quốc Luang Prabang sau này, quyền lực của nhà vua gắn liền với danh hiệu Dhammaraja (Pháp Vương, vị vua trị vì bằng Chánh pháp và hộ trì Tam Bảo). Vì thế, Wat Xieng Thong đóng vai trò là Hoàng gia Thụ phong Tự: mỗi khi một vị vua mới lên ngôi hoặc vào dịp đầu năm mới, đoàn thuyền rồng của hoàng gia đều xuất phát từ bến sông trước Hoàng cung, chèo dọc sông Mê Kông tới cập bến thuyền đá của chùa Wat Xieng Thong. Nhà vua bước lên những bậc đá dẫn thẳng vào chính điện Sim để đảnh lễ tượng Phật Chủ (Phra Ong Luang), lắng nghe chư tăng tụng kinh chúc phúc và chính thức nhận ấn kiếm vương quyền trước sự chứng giám của Đức Phật cùng chư thiên.

Theo sử liệu

Theo hồ sơ Di sản Thế giới của UNESCO (mã số 479) và khảo cứu của Oriental Architecture, lý do giúp chùa Wat Xieng Thong trở thành ngôi chùa cổ thế kỷ 16 duy nhất ở Luang Prabang thoát khỏi nạn đốt phá vào tháng 6 năm 1887 gắn liền với một chi tiết lịch sử đặc biệt. Năm ấy, khi lực lượng quân Cờ Đen từ vùng biên giới tràn vào cướp phá và đốt cháy hầu hết các cung điện, chùa chiền bằng gỗ ở Luang Prabang, thủ lĩnh của đội quân này là Đèo Văn Trị (Cầm Oum, 1848 tới 1908, chúa đất người Thái Trắng ở Mường Lay) đã ra lệnh cho thuộc hạ tuyệt đối không được động tới chùa Wat Xieng Thong. Nguyên nhân là vào thời niên thiếu, Đèo Văn Trị từng được cha gửi sang xuất gia làm sa di và tu học kinh điển nhiều năm ngay tại chính ngôi chùa Wat Xieng Thong này, nên ông đã lấy chùa làm đại bản doanh và bảo vệ nghiêm ngặt chốn tổ sư của mình.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách khi chiêm ngưỡng bức tranh ghép kính màu Cây Nhân Sinh (Tree of Life, Ton Phikhu) lộng lẫy ở mặt tường phía tây sau lưng chính điện thường tưởng đây là tác phẩm cổ từ năm 1560. Trên thực tế, kỹ thuật khảm mảnh gương và kính màu lên tường vữa tại Wat Xieng Thong được thực hiện trong đợt trùng tu lớn từ năm 1957 tới 1960 dưới sự tài trợ của nhà vua Sisavang Vong và vua Sisavang Vatthana để kỷ niệm 2.500 năm Phật lịch (1956 tới 1957). Dù chất liệu kính màu có niên đại giữa thế kỷ 20, các nghệ nhân bậc thầy của Luang Prabang đã tái hiện nguyên vẹn bố cục bích họa và tích truyện dân gian truyền thống vốn được vẽ trên tường chùa từ thời Lan Xang.

IIHơn Bốn Thế Kỷ Từ Triều Vua Setthathirath Tới Di Sản Thế Giới

Kể từ ngày vua Setthathirath đặt viên đá khởi công năm 1559 bên bờ sông Mê Kông, chùa Wat Xieng Thong đã trải qua hơn bốn trăm sáu mươi năm tồn tại liên tục. Dưới đây là những cột mốc định hình diện mạo của quần thể tự viện này.

  • 1559 tới 1560Vua Setthathirath khởi dựng chùa Wat Xieng Thong
    Trước khi dời kinh đô vương quốc Lan Xang về Viêng Chăn, vua Setthathirath cho xây dựng chính điện (Sim) cùng các tháp phụ tại mũi hợp lưu sông Mê Kông và sông Nam Khan trên nền cây Thong cổ thụ.
  • 1569Đúc pho tượng Phật Nhập Niết Bàn bằng đồng
    Các nghệ nhân hoàng gia đúc pho tượng Phật nằm (Phra Sai-nyat) dài hơn hai mét bằng đồng với dáng vẻ thanh thoát độc nhất vô nhị của mỹ thuật Lan Xang thế kỷ 16, tôn trí trong Nhà Đỏ (Ho Tai Phra Sai-nyat).
  • 1887Thoát khỏi biến cố binh hỏa tại Luang Prabang
    Trong khi phần lớn các chùa cổ ở Luang Prabang bị đốt cháy, Wat Xieng Thong được giữ nguyên vẹn nhờ thủ lĩnh Đèo Văn Trị từng là sa di tu học tại chùa thời trẻ.
  • 1928 tới 1929Đợt trùng tu đầu thế kỷ 20
    Triều đình vua Sisavang Vong phối hợp với chính quyền bảo hộ Pháp tiến hành gia cố hệ khung gỗ, lợp lại ngói mái chính điện Sim và phục hồi các lớp sơn son thếp vàng.
  • 1931 tới 1964Hành trình của pho tượng Phật nằm sang Paris rồi trở về
    Năm 1931, pho tượng Phật nằm bằng đồng năm 1569 được đưa sang Pháp trưng bày tại Triển lãm Thuộc địa Paris, sau đó đưa về giữ tại chùa Ho Phra Keo ở Viêng Chăn suốt hơn ba thập niên trước khi được rước trả về lại Nhà Đỏ của Wat Xieng Thong vào năm 1964.
  • 1957 tới 1960Khảm bức tranh kính màu Cây Nhân Sinh
    Nhân dịp Phật lịch 2500, các nghệ nhân Luang Prabang khảm bức tranh ghép kính màu Cây Nhân Sinh lên mặt tường hậu của chính điện và trang trí lại Nhà Đỏ bằng các mảng kính ghép kể chuyện tiền thân Đức Phật.
  • 1962Xây dựng Nhà Tang lễ Hoàng gia (Rong Mien Kot)
    Sau lễ trà tỳ (hỏa táng) của quốc vương Sisavang Vong (qua đời năm 1959, cử hành quốc tang năm 1960), tòa nhà gỗ chạm khắc mạ vàng được dựng ở phía đông khuôn viên để lưu giữ cỗ linh xa Naga cao 12 mét cùng các bình cốt hoàng tộc.
  • 1995Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    Chùa Wat Xieng Thong trở thành hạt nhân kiến trúc quan trọng nhất trong Hồ sơ Di sản Thế giới Thị trấn Luang Prabang (mã số 479) do UNESCO công nhận.
Theo sử liệu

Về hành trình lưu lạc 33 năm của pho tượng Phật nằm (1931 tới 1964). Trong các bảo vật của chùa Wat Xieng Thong, pho tượng đồng Phra Sai-nyat (Đức Phật Nhập Niết Bàn, đúc năm 1569) mang một lịch sử rất kỳ lạ. Vào năm 1931, người Pháp đã chọn pho tượng này làm đại diện tiêu biểu nhất cho điêu khắc cổ Lào để đưa sang trưng bày tại Triển lãm Quốc tế Thuộc địa ở Paris. Khi triển lãm kết thúc năm 1932, thay vì đưa thẳng về Luang Prabang, người ta lại giữ pho tượng tại Viêng Chăn để đặt trong Chùa Ho Phra Keo lúc bấy giờ đang được phục dựng làm bảo tàng. Mãi tới năm 1964, theo nguyện vọng tha thiết của người dân cố đô và hoàng gia, pho tượng mới được rước ngược dòng Mê Kông trở về an vị trong am thờ Đỏ (Ho Tai) của chùa Wat Xieng Thong.

IIIMái Chùa Ba Tầng Sà Sát Đất, Tranh Kính Cây Nhân Sinh Và Linh Xa Rắn Thần

Quần thể chùa Wat Xieng Thong gồm hơn hai mươi công trình lớn nhỏ quy tụ quanh sân trung tâm, được giới nghiên cứu kiến trúc Đông Nam Á coi là chuẩn mực kinh điển của phong cách kiến trúc Luang Prabang (còn gọi là phong cách Bắc Lào, chịu ảnh hưởng giao thoa với nghệ thuật Lanna vùng Chiang Mai). Trung tâm của toàn tự viện là tòa Chính điện (Sim, tức giới đường và Phật điện), xây trên một bệ gạch giật cấp thấp. Điểm nhận diện độc đáo nhất của tòa Sim là bộ mái ngói ba tầng chồng diềm (gồm chín mảng mái hợp thành) uốn cong mềm mại từ đỉnh nóc dốc đứng rồi vươn rộng ra hai bên, buông thấp xuống tới mức mép mái ngoài cùng chỉ cách mặt đất hơn một mét rưỡi. Hình dáng mái buông thấp ấy được người Lào ví như mái ấm của con gà mẹ đang xòe đôi cánh rộng che chở cho đàn con dưới mưa nắng nhiệt đới.

Chạy dọc chính giữa sống nóc mái Sim là bộ Dok So Fa (Đóa Hoa Trời) bằng kim loại thếp vàng gồm mười bảy ngọn tháp nhỏ kết lại (con số lẻ cao nhất, chỉ dành riêng cho chùa do đích thân nhà vua sáng lập), tượng trưng cho núi vũ trụ Tu Di (Meru) và các tầng trời Đao Lợi nơi chư thiên ngự xuống nghe pháp. Bên trong lòng Sim, hai hàng cột gỗ tếch (gỗ giá tỵ) tròn khổng lồ sơn đen bóng được vẽ kín họa tiết vàng lá theo kỹ thuật lai kham (tức vẽ khuôn vàng trên nền sơn mài đen), mô tả các bảo tháp, bánh xe Pháp luân, hoa sen và cảnh núi rừng thần thoại Himavanta.

Bức tranh ghép kính màu Cây Nhân Sinh (Tree of Life)

Nằm trên toàn bộ mảng tường hậu phía tây của tòa Sim. Trên nền vữa màu đỏ sẫm, hàng vạn mảnh kính màu cắt nhỏ được ghép thành cây đại thụ Thong vươn cành lá rực rỡ từ mặt đất lên tới đỉnh mái. Quanh gốc và tán cây là hình ảnh hai vị ẩn sĩ khai sáng kinh thành, chim công, hươu nai, hổ báo và cảnh con người chung sống hòa bình với muôn loài, nhắc nhở giáo lý duyên khởi và lòng từ bi không sát sinh của đạo Phật.

Nhà Đỏ (Ho Tai Phra Sai-nyat) và tượng Phật nằm năm 1569

Một am thờ nhỏ nằm phía sau bên phải chính điện, dựng năm 1569. Toàn bộ tường ngoài sơn đỏ và khảm kính màu vào năm 1957 kể lại những câu chuyện dân gian sinh động của người Lào (từ cảnh cày ruộng, giã gạo, săn bắn tới các tích truyện Jataka). Bên trong lưu giữ pho tượng đồng Đức Phật Nhập Niết Bàn dài hơn 2 mét đúc năm 1569, nổi bật với bàn chân phẳng đều, các ngón chân dài bằng nhau và dải y uốn lượn mềm mại ở phần hông.

Nhà Tang lễ Hoàng gia (Rong Mien Kot) và Linh xa 12 mét

Tòa nhà lớn nằm ở phía đông khuôn viên, xây dựng năm 1962. Mặt tiền tòa nhà được chạm khắc gỗ nguyên khối và thếp vàng rực rỡ các cảnh trong sử thi Phra Lak Phra Lam (biến thể Lào của sử thi Ramayana). Bên trong đặt cỗ linh xa hoàng gia (Rajakaranyaphon) cao tới 12 mét, dài khoảng 12 tới 15 mét, tạo hình bảy đầu rắn thần Naga uốn lượn phun lửa vàng nâng đỡ ba bình đựng di cốt mạ vàng của vua Sisavang Vong, hoàng hậu và hoàng thái hậu.

Tháp Đen (That Dam) và các tháp mộ phụ trợ

Quanh sân chính điện có nhiều bảo tháp (That) hình búp sen bốn cạnh tiêu biểu cho kiến trúc tháp Lan Xang thế kỷ 16, cùng lầu trống (Ho Kong) và thư viện tạng kinh (Ho Trai) dựng trên bệ cao nơi lưu giữ các bộ kinh lá buông cổ.

Nghệ thuật chạm khắc và vẽ vàng lá (Lai Kham)

Toàn bộ hệ cửa gỗ mặt tiền, đầu hồi (dok hang), các con sơn đỡ mái hình rồng thần Naga (khan thuay) và trần nhà của tòa Sim đều được phủ sơn mài đen rồi dán vàng lá thủ công tạo nên những bức tranh lấp lánh trong ánh nến.

Bảng tổng hợp các công trình và bảo vật tiêu biểu trong quần thể chùa Wat Xieng Thong. Nguồn: Hồ sơ UNESCO số 479, Oriental Architecture và Sở Du lịch Luang Prabang..
Hạng mục kiến trúcNiên đại và đặc điểmGiá trị nổi bật
Chính điện (Sim)Khởi dựng 1559 tới 1560, mái ngói 3 tầng sà sát đất, đỉnh nóc có 17 ngọn Dok So FaKiệt tác nguyên bản duy nhất còn lại của kiến trúc gỗ Lan Xang thế kỷ 16 tại Luang Prabang
Tranh kính Cây Nhân SinhHoàn thiện khoảng năm 1957 tới 1960 trên tường hậu phía tây của SimBiểu tượng mỹ thuật nổi tiếng nhất của cố đô Luang Prabang
Nhà Đỏ (Ho Tai Phra Sai-nyat)Dựng năm 1569, khảm kính ngoại thất năm 1957Lưu giữ pho tượng Phật Nhập Niết Bàn bằng đồng đúc năm 1569 từng sang Paris năm 1931
Nhà Tang lễ Hoàng gia (Rong Mien Kot)Xây dựng năm 1962, mặt tiền chạm gỗ thếp vàng sử thi Phra Lak Phra LamLưu giữ linh xa 7 đầu Naga cao 12 mét của quốc vương Sisavang Vong và các tượng Phật cổ

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Nam tông (Theravada) của người Lào không giảng dạy phong thủy lý khí kiểu Đông Á, mà quy hoạch tự viện theo vũ trụ quan Phật giáo Ấn Độ (lấy núi Tu Di làm tâm, các lớp mái và tháp vươn lên các tầng trời) kết hợp với tín ngưỡng thờ thủy thần rắn Naga (Phaya Nak) bảo hộ dòng sông của cư dân lưu vực Mê Kông. Dù vậy, vị trí mũi bán đảo nơi đặt chùa Wat Xieng Thong lại trùng khớp một cách kỳ lạ với những nguyên tắc chọn huyệt điểm đắc địa nhất của phép xem hình thế cổ truyền. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu của thư viện để bạn đọc quen lối cổ truyền có chỗ tham khảo.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn thủy tại tọa độ 19,8975 độ vĩ bắc, 102,1431 độ kinh đông, cố đô Luang Prabang nằm trên một mũi bán đảo hẹp và dài vươn ra theo hướng đông bắc, được kẹp giữa hai dòng sông: phía tây và phía bắc là dòng sông Mê Kông (Nam Khong) hùng vĩ chảy từ bắc xuống nam, còn phía đông là dòng sông Nam Khan chảy uốn lượn từ vùng núi phía đông tới hợp lưu vào sông Mê Kông ngay tại mũi bán đảo. Trong phép xem đất cổ truyền, nơi hai dòng sông lớn giao hội (nhị thủy giao nha hay thủy khẩu giao hội) là nơi toàn bộ mạch đất của bán đảo dừng lại và kết tụ sinh khí mạnh nhất trước khi hòa vào dòng nước lớn. Dọc theo sống lưng bán đảo có ngọn núi thiêng Phou Si (cao 100 mét) nổi lên ở chính giữa như chiếc xương sống rồng (long cốt), rồi mạch đất hạ thấp dần, thoải đều về phía đông bắc để kết thành một thềm đất cao ráo, bằng phẳng ngay tại mũi hợp lưu. Đặt chùa Wat Xieng Thong tại điểm kết của mũi đất ấy chính là nắm giữ vị trí đầu rồng uống nước của toàn bộ kinh thành cổ.

Xét về hướng công trình và sự giao hòa với sông núi bao quanh, tòa chính điện Sim của chùa Wat Xieng Thong không quay mặt thẳng ra mũi ngã ba sông ở phía đông bắc, mà được xoay trục theo hướng tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (song song với dòng chảy của sông Mê Kông và nhìn dọc về phía trung tâm bán đảo cùng ngọn núi Phou Si). Đồng thời, chùa mở một cổng phụ và hệ bậc thang đá lớn ở sườn phía tây bắc dẫn thẳng xuống bến thuyền sông Mê Kông, đối diện bên kia bờ sông là dãy núi Phou Thao và Phou Nang nằm vắt ngang làm tiền án và bình phong che chắn. Với người Lào cổ, hai dòng sông hợp lưu dưới chân chùa chính là thủy cung của mười lăm vị thần rắn Naga hộ trì Phật pháp, còn đọc theo lối hình thế Á Đông, thế đất lưng tựa ngã ba sông tụ thủy, hai bên có nước ôm vòng (tả hữu thủy bao) và xa xa bốn bề đều có núi xanh chầu phục như cánh hoa sen đã giúp ngôi chùa giữ vững vị thế tâm linh bất khả xâm phạm suốt hơn bốn thế kỷ rưỡi.

VTết Cổ Truyền Boun Pi Mai, Lễ Khất Thực Sáng Sớm Và Hội Đua Thuyền

Đời sống nghi lễ tại chùa Wat Xieng Thong vận hành theo lịch Phật giáo Nam tông của Lào (kết hợp giữa âm lịch và lịch mặt trời khu vực Đông Nam Á). Mỗi buổi sáng sớm khi sương mù từ mặt sông Mê Kông còn giăng mắc qua các mái chùa, từ cổng Wat Xieng Thong, đoàn chư tăng và sa di khoác y vàng trầm mặc bước đi chân trần dọc theo đường Sakkaline để cử hành nghi thức Tak Bat (khất thực sáng sớm), đón nhận từng nắm xôi nếp nóng từ tay người dân quỳ hai bên đường. Trong năm, ngôi chùa là tâm điểm của những đại lễ lớn nhất cố đô, được tổng hợp trong bảng dưới đây.

Lịch các đại lễ Phật giáo Nam tông tiêu biểu diễn ra hàng năm tại chùa Wat Xieng Thong, Luang Prabang. Nguồn: Sở Du lịch Luang Prabang (tourismluangprabang.org) và Hồ sơ UNESCO..
Thời gianTheo lịch nàoTên đại lễNghi thức tại chùa Wat Xieng Thong
Từ ngày 13 tới 16 tháng 4 hàng nămLịch mặt trời truyền thống Đông Nam Á (tháng Năm lịch Lào)Tết cổ truyền Lào (Boun Pi Mai)Đại lễ lớn nhất trong năm. Các pho tượng Phật cổ (đặc biệt là tượng Phật nằm trong Nhà Đỏ và các tượng Phật bằng đồng) được rước ra sân để chư tăng và tín đồ dùng nước thơm ướp hoa đại, hoa muồng vàng rưới tắm Phật qua máng gỗ chạm hình rồng Naga (Hang Song Nam) nhằm gột rửa điều cũ và cầu năm mới an lành.
Rằm tháng 8 âm lịch Lào (khoảng tháng 7 dương lịch)Âm lịch Phật giáo Nam tôngLễ Nhập hạ (Boun Khao Phansa)Mở đầu ba tháng mùa mưa an cư kiết hạ. Chư tăng tại chùa Wat Xieng Thong cấm túc tu học trong khuôn viên, người dân dâng nến sáp lớn và y tắm mưa.
Cuối tháng 9 âm lịch Lào (khoảng cuối tháng 8 hoặc tháng 9 dương lịch)Âm lịch LàoLễ hội Đua thuyền truyền thống trên sông Nam Khan (Boun Khao Padap Din và Boun Souang Heua)Sau lễ cúng dường cơm gói lá chuối tưởng nhớ tổ tiên tại chùa, các đội thuyền đua truyền thống làm lễ cầu thần Naga tại bến sông gần chùa Wat Xieng Thong trước khi tranh tài trên dòng sông Nam Khan.
Rằm tháng 11 âm lịch Lào (khoảng tháng 10 dương lịch)Âm lịch Phật giáo Nam tôngLễ Mãn hạ và Hội thuyền hoa đăng (Boun Ok Phansa và Boun Lai Heua Fai)Đêm rằm mãn hạ, khuôn viên chùa Wat Xieng Thong rực sáng hàng trăm chiếc đèn lồng giấy và mô hình thuyền hoa đăng bằng thân chuối kết hoa nến, trước khi đoàn người rước thuyền xuống bậc đá bờ sông thả trôi trên dòng Mê Kông để cúng dường thần nước Naga.

Vào dịp Tết cổ truyền Boun Pi Mai giữa tháng 4, chùa Wat Xieng Thong là điểm kết thúc của đoàn rước cổ truyền Nang Sangkhan (nữ thần mùa xuân) đi dọc suốt trục phố cổ Luang Prabang. Bên bờ sông Mê Kông ngay dưới chân bậc đá của chùa, người dân còn đắp những ngọn tháp cát nhỏ (That Say) cắm cờ giấy ngũ sắc và hoa tươi để cầu phúc, tạo nên một khung cảnh lễ hội vừa thiêng liêng vừa gắn bó mật thiết với dòng sông mẹ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khem Khong Road (ngã ba hợp lưu sông Mê Kông và sông Nam Khan), Ban Xieng Thong, thành phố Luang Prabang
Đường tới
Chùa nằm ở mũi phía bắc của bán đảo phố cổ Luang Prabang, tại điểm giao giữa đường Khem Khong (ven sông Mê Kông) và đường Sakkaline. Từ Bảo tàng Cung điện Hoàng gia hoặc chân núi Phou Si ở trung tâm phố cổ, quý vị có thể đi bộ dọc theo con phố rợp bóng cây Sakkaline khoảng 10 tới 15 phút (khoảng 1 km) là tới cổng chùa.
Toạ độ
19.8975, 102.1431
Khi tới nơi

Chùa Wat Xieng Thong là ngôi đại tự đang có chư tăng và sa di tu học mỗi ngày. Khi vào khuôn viên chùa, quý vị bắt buộc phải mặc trang phục kín đáo (áo có tay che kín vai, quần hoặc váy dài qua đầu gối, nếu mặc ngắn phải quấn khăn xà rông truyền thống tại cổng), cởi giày dép và bỏ mũ nón trước khi bước lên thềm chính điện Sim hay Nhà Tang lễ Hoàng gia. Phụ nữ tuyệt đối không được chạm vào người hoặc y áo của các nhà sư, và khi ngồi trong chính điện xin quý vị xếp chân gọn về phía sau, không duỗi bàn chân hướng về phía bàn thờ Phật.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Wat Xieng Thong, Luang Prabang

Contribute photos, information or video for Wat Xieng Thong

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Wat Xieng Thong được xây dựng năm nào và do vị vua nào sáng lập?

Chùa Wat Xieng Thong được khởi dựng từ năm 1559 và hoàn thành năm 1560 dưới triều vua Setthathirath, vị minh quân nổi tiếng của vương quốc Lan Xang (Triệu Voi), ngay trước khi nhà vua dời kinh đô từ Luang Prabang xuống Viêng Chăn. Trong suốt nhiều thế kỷ, đây là ngôi chùa hoàng gia nơi cử hành lễ đăng cơ của các quốc vương Lào.

Vì sao chùa Wat Xieng Thong là ngôi chùa cổ duy nhất ở Luang Prabang không bị phá hủy năm 1887?

Vào tháng 6 năm 1887, khi quân Cờ Đen tràn vào cướp phá và đốt cháy hầu hết các cung điện cùng chùa chiền bằng gỗ ở Luang Prabang, thủ lĩnh của đội quân này là Đèo Văn Trị (chúa đất người Thái Trắng ở Mường Lay) đã hạ lệnh bảo vệ tuyệt đối chùa Wat Xieng Thong. Lý do là thuở niên thiếu, Đèo Văn Trị từng xuất gia làm sa di và tu học nhiều năm tại chính ngôi chùa này.

Bức tranh Cây Nhân Sinh (Tree of Life) ở chùa Wat Xieng Thong nằm ở đâu và có từ bao giờ?

Bức tranh Cây Nhân Sinh nằm trên toàn bộ mặt tường phía ngoài ở phía sau (phía tây) của tòa chính điện Sim. Bức tranh được ghép từ hàng vạn mảnh kính màu lấp lánh trên nền vữa đỏ sẫm trong đợt trùng tu từ năm 1957 tới 1960 nhân dịp kỷ niệm 2.500 năm Phật lịch, tái hiện cây đại thụ Thong huyền thoại cùng muôn thú và con người chung sống hòa bình theo tinh thần từ bi của Phật giáo.

Cỗ xe vàng khổng lồ trong Nhà Tang lễ Hoàng gia của chùa là của ai?

Bên trong tòa Nhà Tang lễ Hoàng gia (Rong Mien Kot, xây dựng năm 1962 ở phía đông khuôn viên) lưu giữ cỗ linh xa hoàng gia cao 12 mét chạm khắc bảy đầu rắn thần Naga thếp vàng rực rỡ. Cỗ linh xa này được chế tác để rước di hài và bình cốt của quốc vương Sisavang Vong (vị vua trị vì từ năm 1904 tới khi băng hà năm 1959) trong đại lễ quốc tang năm 1960.

Pho tượng Phật nằm trong Nhà Đỏ (Chapelle Rouge) có điểm gì đặc biệt?

Pho tượng Phật Nhập Niết Bàn bằng đồng dài hơn 2 mét được đúc vào năm 1569 (dưới thời vua Setthathirath), mang phong cách điêu khắc Lan Xang cổ điển với đường nét thanh mảnh khác hẳn tượng Phật thời sau. Năm 1931, pho tượng từng được người Pháp đưa sang trưng bày tại Triển lãm Thuộc địa Paris, sau đó lưu lại ở Viêng Chăn suốt hơn 30 năm trước khi được rước trở về Luang Prabang vào năm 1964.

›Đọc Tiếp