Bước qua cổng khu di tích Cụm phía Tây tại thị trấn nhỏ Khajuraho (thuộc vùng đất cổ Bundelkhand, bang Madhya Pradesh) khi nắng sớm vừa chạm vào những khối đá sa thạch màu hồng phấn và vàng mật ong, quý vị sẽ thấy trước mắt mình một rừng tháp đá vươn cao lên nền trời xanh thẳm. Khác với những ngôi đền chỉ có một ngọn tháp đơn độc, mỗi ngôi đại đền ở đây được cấu tạo từ hàng chục ngọn tháp nhỏ mọc nối tiếp nhau từ thấp lên cao như những dãy núi tiền tiêu quần tụ quanh đỉnh núi mẹ, và trên khắp các dải tường đá bên ngoài là hàng ngàn pho tượng chư thần, tiên nữ, nhạc công và linh thú được chạm nổi gần như tách rời khỏi mặt tường, sống động tới mức dường như đang hít thở và chuyển động dưới ánh mặt trời.
Được kiến tạo tập trung chỉ trong vòng một trăm năm từ khoảng năm 950 đến năm 1050 SCN dưới sự bảo trợ của các vị quốc vương vương triều Chandela, Quần thể đền đài Khajuraho (tiếng Hindi: खजुराहो के स्मारक समूह, tên Phạn cổ là Kharjuravahaka) là một trong những đỉnh cao chói lọi nhất của kiến trúc đền đài phong cách Nagara Bắc Ấn. Cùng quy tụ cả hai truyền thống tâm linh là Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo, hai mươi lăm ngôi đền còn đứng vững hôm nay (trong tổng số 85 ngôi đền nguyên thủy) là một bản trường ca bằng đá ca ngợi sự hòa hợp giữa cái đẹp phồn vinh của thế gian và khát vọng giải thoát tối thượng của tâm linh.

IBách Thần Điện Hindu, Các Bậc Đạo Sư Kỳ Na Giáo Và Triết Lý Bốn Mục Tiêu Nhân Sinh
Là kinh đô nghi lễ của vương triều Chandela, Khajuraho không dành riêng cho một giáo phái độc tôn nào mà phản ánh tinh thần bao dung tôn giáo rộng mở của Ấn Độ thời trung đại. Trong khoảng 25 ngôi đền còn bảo tồn được chia thành ba cụm (Cụm phía Tây, Cụm phía Đông và Cụm phía Nam), đa số các đền thuộc về bốn nhánh chính của Ấn Độ giáo: nhánh thờ Thần Shiva (Shaivism) tại các ngôi đền lớn nhất như Kandariya Mahadeva, Vishvanatha, Matangeshvara và Duladeo, nhánh thờ Thần Vishnu (Vaishnavism) tại các đền Lakshmana (thờ Vishnu dưới hình tướng Vaikuntha ba đầu), Varaha (thờ hóa thân Lợn rừng khổng lồ), Vamana (thờ hóa thân Người lùn), Javari và Chaturbhuja, nhánh thờ Nữ thần Mẫu (Shaktism) tại đền Chausath Yogini (thờ 64 nữ thần Mật giáo Yogini) và đền Devi Jagadambi, cùng nhánh thờ Thần Mặt Trời Surya (Saurism) tại đền Chitragupta.
Song hành hoàn toàn bình đẳng với các đền thờ Hindu là cụm đền của Kỳ Na giáo thuộc hệ phái Không Y phái (Digambara) nằm ở Cụm phía Đông, được xây dựng bởi các gia tộc thương nhân và quan đại thần Kỳ Na giáo giàu có dưới triều vua Dhangadeva. Tại đây, các ngôi đền tuyệt mỹ như Đền Parshvanatha, Đền Adinatha, Đền Shantinatha và Đền Ghantai tôn thờ các bậc Tirthankara (những bậc Đạo sư giác ngộ mở đường vượt qua dòng sông sinh tử), tiêu biểu là Đức Rishabhanatha (Adinatha, vị Tirthankara đầu tiên), Đức Shantinatha (vị Tirthankara thứ 16 với pho tượng đá nguyên khối đứng cao 4,5 mét) và Đức Parshvanatha (vị Tirthankara thứ 23).
Câu hỏi lớn nhất mà mọi du khách trên thế giới đều đặt ra khi đứng trước các bức tường đá của Khajuraho là: vì sao trên mặt ngoài của những ngôi đền linh thiêng lại xuất hiện những bức phù điêu đôi lứa ôm ấp ân ái (gọi là Mithuna) bên cạnh những pho tượng thần linh trang nghiêm? Câu trả lời nằm ở triết lý nhân sinh toàn diện của Ấn Độ giáo về Bốn mục tiêu của đời người (Purusharthas) kết hợp với vũ trụ quan Mật giáo (Tantra) thế kỷ 10. Kinh điển Ấn Độ giáo dạy rằng một kiếp người trọn vẹn phải đi qua bốn bậc thang: Dharma (bổn phận đạo đức và trật tự chính pháp), Artha (lao động tạo dựng của cải và sự thịnh vượng), Kama (tình yêu, ái dục chân chính và sự thưởng ngoạn cái đẹp để duy trì nòi giống), và cuối cùng mới đạt tới Moksha (sự giải thoát tâm linh khỏi luân hồi).
Trong tư tưởng của các giáo phái Mật tông đương thời như Kaula-Kapalika (nhánh Shaiva) và Pancharatra (nhánh Vaishnava), toàn bộ vũ trụ được khai sinh từ sự hợp nhất bất nhị giữa hai nguyên lý: Purusha / Shiva (Tâm thức thuần khiết, nguyên lý Nam) và Prakriti / Shakti (Năng lượng sáng tạo của tự nhiên, nguyên lý Nữ). Hình ảnh đôi nam nữ hòa hợp thành một thể trên bức tường giao hội (Sandhi-kshetra, tức bức tường nối giữa đại sảnh hội tụ của con người Maha Mandapa với hậu cung của thần linh Garbhagriha) chính là biểu tượng thị giác của trạng thái hợp nhất linh hồn cá thể (Atman) vào Đại linh hồn vũ trụ (Brahman), nơi mọi phân biệt nhị nguyên tan biến trong đại hỷ lạc (Ananda). Đồng thời, một quy luật kiến trúc bất di bất dịch tại Khajuraho là: tất cả các hình ảnh trần thế và gợi cảm chỉ được chạm khắc ở mặt tường bên ngoài, ngay khi người hành hương bước qua bậc cửa vào tới lòng hậu cung thờ thần ở trung tâm ngọn núi đá, mọi hình ảnh dục giới đều biến mất, nhường chỗ cho sự tĩnh lặng tuyệt đối của giải thoát (Moksha).
Ngoài các vị thần tối cao và các cặp đôi Mithuna, phần lớn diện tích các dải tường đá tại Khajuraho thuộc về hàng trăm pho tượng Surasundari (hay Apsara, những nàng tiên nữ thiên giới biểu trưng cho vẻ đẹp thanh tân và phúc lành) cùng các linh thú thần thoại Vyala (hay Sardula, linh thú mình sư tử đầu voi, đầu vẹt hoặc đầu dê biểu trưng cho sức mạnh tự nhiên). Các nhà điêu khắc vương triều Chandela đã thổi hồn vào đá sa thạch khiến mỗi nàng tiên nữ Surasundari trong tư thế uốn lượn ba khúc (Tribhanga) đều đang thực hiện một cử chỉ đời thường vô cùng duyên dáng: nàng Putravallabha đang âu yếm bế con nhỏ, nàng Darpana đang cầm gương soi điểm trang, nàng Kanduka-krida đang tung hứng quả bóng, nàng Sadyah-snata đang vắt mái tóc ướt sau khi tắm khiến giọt nước rơi xuống cho con chim thiên nga bên dưới ngửa mỏ đón uống, nàng Patralekha đang trầm tư viết thư tình, và nổi tiếng nhất là nàng Shatrunjaya / Kanduka đang co một chân lên để nhổ chiếc gai nhọn dưới lòng bàn chân hoặc gỡ con bọ cạp đang bò trên đùi.
Sự hiểu lầm lớn nhất do truyền thông du lịch phương Tây tạo ra suốt nhiều thập niên qua là gọi Khajuraho bằng cái tên giật gân là những ngôi đền Kama Sutra và khiến nhiều người tưởng rằng toàn bộ các ngôi đền ở đây đều phủ kín tranh tượng khiêu dâm. Số liệu thống kê khảo cổ học thực tế tại hiện trường bác bỏ hoàn toàn định kiến ấy: các bức phù điêu gợi cảm (Mithuna) chỉ chiếm chưa đầy 10 phần trăm (khoảng 8 đến 10%) tổng số tác phẩm điêu khắc tại Khajuraho! Hơn 90 phần trăm số pho tượng còn lại là hình ảnh của chư thần, các vị hộ pháp tám phương (Ashtadikpala), các bậc đạo sĩ, nhạc công, vũ nữ, nông dân cày ruộng, thợ gốm, binh lính và muôn thú. Việc đặt 10 phần trăm hình ảnh Kama nằm xen kẽ tự nhiên giữa 90 phần trăm đời sống tâm linh và xã hội cho thấy người Ấn Độ cổ đại không coi tình yêu thể xác là điều tội lỗi phải che giấu, nhưng cũng không biến nó thành mục đích duy nhất của cuộc đời.
IIHuyền Thoại Thần Mặt Trăng Chandra, Vương Triều Chandela Và Lần Tìm Thấy Trong Rừng Năm 1838
Tên gọi Khajuraho bắt nguồn từ địa danh tiếng Phạn cổ Kharjuravahaka (nghĩa là Nơi mang cây chà là, ghép từ Kharjura là cây chà là hoang dã vốn mọc rất nhiều quanh vùng và hai cây chà là bằng vàng từng được đúc gắn trên cổng kinh thành). Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 12 SCN, vùng đất Bundelkhand (cổ danh là Jejakabhukti) nằm dưới sự trị vì của vương triều Chandela, một dòng dõi chiến binh Rajput kiệt xuất: trong khi các nhà vua đặt pháo đài quân sự tại núi Kalinjar và kinh đô hành chính tại Mahoba, họ đã chọn thung lũng có nhiều hồ nước tại Khajuraho làm kinh đô tôn giáo và văn hóa của vương quốc.
- Cuối thế kỷ 9 SCN (khoảng 885 SCN)Khởi dựng các ngôi đền đá hoa cương đầu tiên (Đền Chausath Yogini)Những vị thủ lĩnh đầu tiên của vương triều Chandela (khởi đầu từ Nannuka năm 831 SCN) cho xây dựng các ngôi đền cổ nhất bằng đá hoa cương (granite) và sa thạch thô như Đền Chausath Yogini (thờ 64 nữ thần Mật giáo trên gò đá nhìn ra hồ Sagar), Đền Lalguan Mahadeva và Đền Brahma.
- Khoảng 930 đến 954 SCNVua Yashovarman xây dựng Đền Lakshmana tôn trí tượng Vaikuntha VishnuQuốc vương Yashovarman (Lakshavarman, trị vì khoảng 925 đến 950 SCN) sau khi giành quyền tự chủ hoàn toàn đã khởi dựng ngôi đại đền sa thạch đầu tiên là Đền Lakshmana (hoàn thành và khắc bia năm 954 SCN dưới triều vua con Dhanga) để tôn thờ pho tượng quý Vaikuntha Vishnu ba đầu.
- Khoảng 950 đến 999 SCNThời đại Vua Dhangadeva: Đền Parshvanatha, Đền Matangeshvara và Đền VishvanathaDưới triều đại thịnh trị gần nửa thế kỷ của vua Dhangadeva (Dhanga), thương nhân Kỳ Na giáo Pahila dựng Đền Parshvanatha (khoảng 950 đến 970 SCN), còn nhà vua cho dựng Đền Matangeshvara và khánh thành Đền Vishvanatha năm 999 SCN (nơi đặt hai Shiva Linga, một bằng đá và một bằng ngọc lục bảo).
- Khoảng 1000 đến 1002 SCNVua Ganda xây dựng Đền Mặt Trời Chitragupta và Đền Devi JagadambiCon trai của Dhanga là Quốc vương Ganda tiếp tục mở rộng Cụm phía Tây với ngôi đền duy nhất thờ Thần Mặt Trời Surya tại Khajuraho (Đền Chitragupta) và ngôi đền thờ Vishnu sau chuyển sang thờ Mẫu thần Parvati / Kali (Đền Devi Jagadambi).
- Khoảng 1025 đến 1050 SCNHoàng đế Vidyadhara kiến tạo tuyệt tác Đền Kandariya MahadevaVị hoàng đế hùng mạnh nhất của vương triều Chandela là Vidyadhara (trị vì khoảng 1003 đến 1035 SCN), sau khi giữ vững bờ cõi trước hai cuộc viễn chinh của Mahmud xứ Ghazni năm 1019 và 1022, đã khởi dựng ngôi đền lớn nhất và hoàn mỹ nhất của toàn quần thể là Đền Kandariya Mahadeva để tạ ơn Thần Shiva.
- 1022 và 1335 SCNHọc giả Ba Tư Al-Biruni và nhà du hành Maroc Ibn Battuta ghi chép về KhajurahoNăm 1022, học giả Al-Biruni nhắc tới Khajuraho (Kajuraha) như kinh đô của xứ Jajahuti. Năm 1335, đại lữ khách Ibn Battuta trực tiếp tới thăm Khajuraho (Kajurra), mô tả những ngôi đền chạm khắc tuyệt đẹp quanh hồ nước dài một dặm và các đạo sĩ Yogi tóc dài có thuật chữa bệnh kỳ diệu.
- Tháng 2 năm 1838Đại úy kỹ sư người Anh T. S. Burt phát hiện lại Khajuraho giữa rừng rậmSau khi trung tâm quyền lực rời về pháo đài Kalinjar và Mahoba từ thế kỷ 13, Khajuraho dần chìm vào quên lãng dưới tán rừng keo và chà là suốt năm trăm năm (nhưng chính sự biệt lập ấy đã giúp các ngôi đền tránh được sự tàn phá của chiến tranh), cho tới khi kỹ sư người Anh T. S. Burt nghe lời kể của những người khiêng kiệu bản địa tìm đến và công bố phát hiện trên tạp chí của Hội Á châu Bengal.
- 1906 đến 1986Công cuộc trùng tu bảo tồn và ghi danh Di sản Thế giới UNESCODưới sự bảo trợ của Maharaja xứ Chhatarpur cùng nhà khảo cổ Alexander Cunningham, W. E. Jardine và Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI), năm 1986 Quần thể đền đài Khajuraho chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới (mã số 240) theo hai tiêu chí (i) và (iii).
Về huyền thoại khai sinh vương triều Chandela và con số 85 ngôi đền nguyên thủy, bộ sử thi dân gian vùng Bundelkhand là Mahoba Khand (thuộc Prithviraj Raso) kể rằng thuở ấy tại kinh thành Kashi có nàng Hemavati, con gái của vị tư tế hoàng gia Maniyagarh, nổi tiếng có nhan sắc tuyệt trần nhưng sớm góa bụa từ lúc tuổi trăng tròn. Một đêm mùa hạ trăng sáng vằng vặc, khi Hemavati xuống tắm một mình giữa hồ sen Rati Sarovar, Thần Mặt Trăng Chandra nhìn xuống say đắm vẻ đẹp của nàng đã hóa thành một chàng hoàng tử bước xuống trần gian kết duyên cùng nàng. Khi ánh trăng tàn, Hemavati khóc thương vì sợ miệng lưỡi thế gian chê cười một góa phụ mang thai. Thần Mặt Trăng Chandra liền an ủi và tiên tri rằng đứa con trai nàng sắp sinh ra tại làng Khajuraho sẽ mang tên là Chandravarman, người sẽ sáng lập nên một vương triều lừng lẫy mang họ của Mặt Trăng (Chandratreya / Chandela). Để xóa sạch mọi điều tiếng trần gian và chuộc lỗi cho mẹ, Thần Mặt Trăng truyền dạy rằng khi lên ngôi vua, Chandravarman hãy cử hành đại lễ tế Bhandya Yajna và xây dựng 85 ngôi đền đá tráng lệ bao quanh các hồ nước tại Khajuraho.
Trên phương diện bằng chứng văn bia khảo cổ thực tế, tấm bia đá chữ Phạn khắc năm 954 SCN tại hiên Đền Lakshmana kể lại câu chuyện lịch sử xác thực về nguồn gốc pho tượng thờ chính của đền: pho tượng Vaikuntha Vishnu (hình tướng thần Vishnu có ba đầu gồm đầu người ở giữa, đầu sư tử Narasimha và đầu lợn rừng Varaha hai bên) vốn là bảo vật thiêng liêng của chúa tể vùng Kailash (Tây Tạng), được truyền qua tay vua xứ Kangra (Himachal Pradesh), rồi về tay hoàng đế Devapala của đế chế Gurjara-Pratihara tại Kannauj, cuối cùng Quốc vương Yashovarman của triều Chandela đã dùng uy thế quân sự buộc vua Devapala phải trao lại pho tượng thiêng ấy và dựng nên ngôi đền Lakshmana nguy nga để tôn trí như biểu tượng độc lập của vương triều Chandela.
IIIĐỉnh Cao Kiến Trúc Nagara: Đền Kandariya Mahadeva 84 Tháp Phụ, Đền Lakshmana Và Đền Parshvanatha
Toàn bộ các ngôi đền thời kỳ hoàng kim tại Khajuraho (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 11) đều được xây dựng bằng đá sa thạch hạt mịn (sandstone) khai thác từ các mỏ đá bên bờ sông Ken ở sườn núi Panna cách đó khoảng 25 đến 30 km về phía đông, mang sắc màu ấm áp biến chuyển từ vàng kem, hồng nhạt tới nâu cam tùy theo góc nắng. Các khối đá nặng hàng tấn được đẽo gọt dưới mặt đất rồi nâng lên lắp ghép khít khao vào nhau bằng hệ thống mộng và chốt đá (mortise and tenon joints) hoàn toàn không sử dụng một giọt vữa vôi nào, giữ vững qua một nghìn năm chỉ bằng trọng lực và sự cân bằng hình học.
Xét về cấu trúc không gian của trường phái Nagara Bắc Ấn tại Khajuraho, mỗi ngôi đại đền hoàn chỉnh (thuộc loại Sandhara có hành lang đi nhiễu bên trong tường đền) đều đứng kiêu hãnh trên một nền đài đá cao thoáng đãng (Jagati) mà không có tường rào vây kín xung quanh. Mặt bằng đền phát triển dọc theo một trục thẳng từ Đông sang Tây giống hình cây thánh giá chữ La-tinh có hai cánh ngang, gồm năm không gian nối liền nhau dưới một khối mái duy nhất: (1) Hiên đón khách (Ardha Mandapa), (2) Sảnh ngoài (Mandapa), (3) Đại sảnh cột trụ có cửa sổ ban công nhô ra hai bên để đón gió và ánh sáng (Maha Mandapa), (4) Tiền phòng hẹp (Antarala), và (5) Hậu cung linh thiêng (Garbhagriha) có hành lang đi nhiễu (Pradakshinapatha) bao quanh. Nhìn từ bên ngoài, mái của các sảnh phía đông nhấp nhô tăng dần độ cao như những ngọn đồi dẫn dắt thị giác vút lên đỉnh tháp chính hình đường cong parabol (Shikhara), trên đỉnh đội đĩa đá khía múi Amalaka và bình nước bất tử Kalasha.
Ngôi đền lớn nhất, cao nhất và hoàn mỹ nhất tại Khajuraho (Cụm phía Tây), do Hoàng đế Vidyadhara xây dựng khoảng năm 1025 đến 1050 SCN để thờ Thần Shiva (tên gọi Kandariya Mahadeva nghĩa là Vị Đại Thần của Hang Động, ví hậu cung dưới chân tháp như hang động thiêng trên núi Kailash). Đền dài 30,5 mét, rộng 20 mét, ngọn tháp chính Shikhara vươn cao 31 mét (hơn 102 bộ, nếu tính cả nền đài Jagati là khoảng 35 mét). Điểm kỳ diệu nhất của kiến trúc hình học phân dạng (fractal) tại đây là xung quanh thân tháp chính Mulamanjari có đúng 84 ngọn tháp phụ thu nhỏ đồng dạng (Urushringas) mọc xếp lớp ôm sát nhau vươn lên trời như 84 đỉnh núi tuyết của dãy Himalaya (đồng thời tượng trưng cho việc vượt qua 84 vạn kiếp luân hồi để về với Shiva). Chỉ riêng trên ba dải tường ngoài và bên trong ngôi đền này, các nhà khảo cổ đã đếm được tổng cộng 872 pho tượng lớn nhỏ (646 pho tượng bên ngoài và 226 pho tượng bên trong), mỗi tượng cao từ 0,75 đến gần 1 mét.
Nằm ở Cụm phía Tây, do vua Yashovarman xây dựng và khánh thành năm 954 SCN để thờ Thần Vishnu. Đây là ngôi đền duy nhất tại Khajuraho giữ được trọn vẹn cả 4 ngôi đền phụ ở bốn góc của nền đài đá Jagati cùng với đền chính ở giữa, tạo thành bố cục Ngũ đài (Panchayatana) cổ điển. Dọc theo chân đế nền đài là một dải phù điêu dài tuyệt đẹp khắc họa đoàn quân voi chiến, kỵ binh, lạc đà, nhạc công và sinh hoạt xã hội của vương quốc Chandela thế kỷ 10. Trong hậu cung vẫn giữ nguyên pho tượng đá thờ Thần Vishnu Ba Đầu bốn tay (Vaikuntha Vishnu: đầu người ở giữa, đầu sư tử Narasimha và đầu lợn rừng Varaha hai bên).
Nằm ngay sát bên ngoài hàng rào phía nam của Cụm phía Tây (xây dựng đầu thế kỷ 10 dưới thời vua Harsha hoặc Dhanga, gắn liền với hiền giả Matanga). Khác với các đền khác nay là di tích bảo tàng, Đền Matangeshvara là ngôi đền Ấn Độ giáo duy nhất tại Cụm phía Tây chưa từng bị gián đoạn việc dâng hương tế lễ hàng ngày suốt hơn một thiên niên kỷ qua. Bên trong lòng điện vuông vức không chạm khắc cầu kỳ là một trong những trụ đá Shiva Linga bằng đá sa thạch mài bóng lớn nhất Bắc Ấn: trụ Linga cao tới 2,5 mét (8,5 bộ) và đường kính hơn 1,1 mét, đặt trên một bệ đá Yoni khổng lồ cao 1,4 mét và rộng tới 6 mét (20 bộ), trên thân Linga có khắc các bài minh văn chữ Ba Tư và chữ Nagari.
Cùng thuộc Cụm phía Tây: Đền Vishvanatha (do vua Dhangadeva hoàn thành năm 999 SCN thờ Shiva) có bố cục tiền thân trực tiếp của đền Kandariya Mahadeva và có một tòa đình riêng đối diện cổng đông tôn trí pho tượng bò thần Nandi nguyên khối dài 2,2 mét. Đền Chitragupta (đầu thế kỷ 11) là ngôi đền duy nhất tại Khajuraho thờ Thần Mặt Trời Surya, trong hậu cung có pho tượng Surya cao 2,1 mét đi ủng cao đứng trên cỗ xe 7 ngựa kéo. Còn tại Đình Varaha (đối diện đền Lakshmana) là pho tượng đá sa thạch nguyên khối mài bóng dài 2,6 mét, cao 1,7 mét tạc hình Lợn thần Varaha (hóa thân thứ ba của Vishnu), trên toàn bộ thân mình, đầu, chân và tai của chú lợn đá được chạm khắc kín 674 pho tượng nhỏ của toàn bộ chư thần trong vũ trụ Ấn Độ giáo.
Nằm ở Cụm phía Đông thuộc hệ phái Digambara. Đền Parshvanatha (xây dựng khoảng năm 950 đến 970 SCN dưới thời vua Dhanga bởi thương nhân Pahila) là ngôi đền Kỳ Na giáo lớn nhất và có kỹ thuật điêu khắc tinh xảo bậc nhất Khajuraho (nổi tiếng với tượng thần Agni, tượng vợ chồng thần Kama - Rati và bức tượng tiên nữ tháo gai ở bàn chân). Ngay bên phải cửa vào của Đền Parshvanatha có khắc một bảng ma phương toán học 4x4 hoàn hảo từ thế kỷ 10 gọi là Chautisa Yantra (gồm các số từ 1 đến 16 xếp sao cho tổng 4 số theo bất kỳ hàng ngang, cột dọc, đường chéo hay ô vuông con 2x2 nào cũng đều bằng đúng 34!). Cạnh đó là Đền Adinatha và Đền Shantinatha (nơi tôn trí pho tượng đá nguyên khối của Đức Tirthankara đứng cao 4,5 mét).
Đền Chausath Yogini (khoảng năm 885 SCN) nằm ở tây nam hồ Sagar là ngôi đền cổ nhất Khajuraho và là ngôi đền Chausath Yogini duy nhất ở Ấn Độ có mặt bằng hình chữ nhật (dài 31 mét, rộng 18 mét) thay vì hình tròn, gồm một sân lộ thiên bao quanh bởi 64 phòng đá hoa cương nhỏ thờ 64 nữ thần Yogini và một phòng lớn ở giữa thờ Đại Mẫu Kali / Mahadevi. Ở Cụm phía Đông còn có Đền Vamana (thờ hóa thân Người lùn của Vishnu) và Đền Javari, còn ở Cụm phía Nam cách đó khoảng 2 đến 3 km là Đền Duladeo (thế kỷ 12, thờ Shiva Linga có chạm 999 Linga nhỏ trên bề mặt) và Đền Chaturbhuja (ngôi đền duy nhất ở Khajuraho quay mặt về hướng Tây và hoàn toàn không có phù điêu gợi cảm).
| Ngôi đền tiêu biểu & Cụm vị trí | Tôn giáo & Niên đại | Chiều cao & Bảo vật kiến trúc điêu khắc |
|---|---|---|
| Đền Kandariya Mahadeva (Cụm phía Tây) | Ấn Độ giáo - Thần Shiva (khoảng 1025 đến 1050 SCN, vua Vidyadhara) | Cao 31 m (dài 30,5 m), ngọn tháp chính bao bọc bởi 84 tháp phụ Urushringa, lưu giữ 872 pho tượng lớn nhỏ |
| Đền Lakshmana & Đình Varaha (Cụm phía Tây) | Ấn Độ giáo - Thần Vishnu (khánh thành năm 954 SCN, vua Yashovarman) | Bố cục Ngũ đài Panchayatana nguyên vẹn, tượng Vaikuntha Vishnu 3 đầu, Đình Varaha có tượng Lợn thần khắc 674 vị thần |
| Đền Vishvanatha & Đền Matangeshvara (Cụm phía Tây) | Ấn Độ giáo - Thần Shiva (thế kỷ 10, năm 999 SCN, vua Dhangadeva) | Vishvanatha có đình thờ bò Nandi dài 2,2 m, Matangeshvara là đền đang hoạt động có trụ Shiva Linga cao 2,5 m |
| Đền Mặt Trời Chitragupta & Đền Devi Jagadambi (Cụm phía Tây) | Ấn Độ giáo - Thần Surya & Mẫu thần (khoảng 1000 đến 1025 SCN, vua Ganda) | Chitragupta thờ tượng Thần Mặt Trời Surya cao 2,1 m trên xe 7 ngựa, Jagadambi nổi tiếng với ba dải tượng tiên nữ sắc sảo |
| Đền Parshvanatha, Adinatha & Shantinatha (Cụm phía Đông) | Kỳ Na giáo Digambara (khoảng 950 đến 1027 SCN) | Parshvanatha khắc bảng ma phương toán học 4x4 tổng bằng 34 (Chautisa Yantra), Shantinatha có tượng Tirthankara cao 4,5 m |
| Đền Duladeo & Đền Chaturbhuja (Cụm phía Nam) | Ấn Độ giáo - Shiva & Vishnu (khoảng 1100 đến 1130 SCN) | Duladeo thờ Sahasra Linga (chạm 999 Linga nhỏ), Chaturbhuja quay hướng Tây thờ tượng Vishnu bốn tay cao 2,7 m |
IVThế Đất Và Hướng
Khi khảo sát địa thế và quy hoạch không gian của Quần thể đền đài Khajuraho, cần khẳng định rõ nguyên tắc: Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo không sử dụng thuật phong thủy la bàn Á Đông. Các vị quốc vương vương triều Chandela và các bậc kiến trúc sư (Sutradhara) thế kỷ 10 đã quy hoạch toàn bộ kinh đô tôn giáo này theo hệ thống kinh điển kiến trúc Bắc Ấn Vastu Shastra (đặc biệt là các bộ cổ thư như Samarangana Sutradhara, Aparajitapriccha và Mayamata). Theo quy tắc Vastu Purusha Mandala, đại đa số các ngôi đền tại Khajuraho đều mở cổng chính thẳng về hướng Đông để đón ánh sáng mặt trời mọc chiếu thẳng từ hiên Ardha Mandapa vào hậu cung Garbhagriha (chỉ có một vài ngoại lệ như đền Chaturbhuja, đền Lalguan Mahadeva và đền Varaha mở về hướng Tây), đồng thời mọi ngôi đền đều phải đặt kề bên các hồ nước thiêng (Tirtha / Sarovar). Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc sơn thủy vùng Bundelkhand tại tọa độ 24,8544 độ vĩ bắc, 79,9214 độ kinh đông, thung lũng Khajuraho nằm trên một bình nguyên cao ráo phẳng lặng được bao bọc ở phía đông nam và phía nam bởi sườn bắc của dãy núi Vindhya (nhánh đồi Panna và dãy Dantla) và được ôm vòng ở phía đông bởi dòng sông Ken (cổ danh là sông Karnavati, một phụ lưu lớn chảy về phương bắc đổ vào sông Yamuna) cùng nhánh sông nhỏ Khudar Nala chảy sát phía nam thị trấn. Trong phép xem hình thế cổ truyền, dãy núi Vindhya ở phía nam và đông nam đóng vai trò là tổ sơn và bình phong che chắn, còn bình nguyên Khajuraho nằm giữa sông Ken và sông Khudar chính là một vùng thủy nhiễu bình dương (đồng bằng có sông nước ôm quanh).
Vì địa hình trực tiếp tại Khajuraho là vùng đồng bằng bán khô hạn không có núi cao sát kề từng ngôi đền, các vị vua vương triều Chandela đã áp dụng một giải pháp quy hoạch cảnh quan cực kỳ đắt giá mà phép phong thủy cổ truyền gọi là đào hồ tụ thủy, đắp nền kết huyệt. Vào thời cực thịnh thế kỷ 10 và 11, các nhà vua đã cho đào một hệ thống 64 hồ nước lớn nhỏ nối thông nhau khắp diện tích 20 km² để giữ nước mưa mùa gió mùa và làm mát vi khí hậu (ngày nay vẫn còn ba hồ nước lớn hiện hữu là hồ Shiv Sagar ngay sát Cụm đền phía Tây, hồ Khajur Sagar / Ninora Tal ở giữa làng cổ và hồ Prem Sagar ở phía bắc). Cụm đền phía Tây (nơi hội tụ các đại đền Kandariya Mahadeva, Lakshmana, Vishvanatha và Matangeshvara) được đặt ngay trên bờ phía tây và phía bắc của hồ nước thiêng Shiv Sagar: mặt hồ rộng lớn đóng vai trò là nội minh đường thủy giúp thu giữ sinh khí và phản chiếu bóng dáng các ngọn tháp đá lung linh dưới nước.
Hơn thế nữa, để bù đắp cho địa hình đồng bằng phẳng và tránh mạch nước ngầm mùa mưa làm ẩm chân tường, mỗi ngôi đền đều được nâng cao hẳn lên trên một đài đá lớn (Jagati) cao từ 3 đến 5 mét làm chân móng nhân tạo, và bản thân ngọn tháp chính Shikhara cao hơn 30 mét với 84 tháp phụ Urushringa vây quanh chính là một ngọn núi nhân tạo bằng đá (Nhân tạo sơn phong): tự thân ngôi đền đã biến thành ngọn núi thiêng Kailash hay núi vũ trụ Meru vươn cao giữa đồng bằng để trấn giữ long mạch cho cả kinh đô.
VĐại Lễ Maha Shivaratri Tại Đền Matangeshvara Và Lễ Hội Vũ Kịch Khajuraho
Khajuraho ngày nay vừa là một quần thể bảo tàng ngoài trời được UNESCO bảo hộ, vừa là một thánh địa hành hương sống động nơi tiếng chuông đền và lời kinh Vệ-đà vẫn vang lên mỗi sáng sớm tại Đền Matangeshvara (Cụm phía Tây) và tại khu đền Kỳ Na giáo Digambara (Cụm phía Đông). Hai sự kiện lớn nhất trong năm tại đây là kỳ đại lễ tôn giáo Maha Shivaratri tính theo lịch âm dương Hindu và Lễ hội Vũ kịch Khajuraho tính theo dương lịch.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ / Sự kiện | Nghi thức và hoạt động tại Khajuraho |
|---|---|---|---|
| Ngày 14 nửa tối tháng Phalguna hoặc Magha (tháng 2 hoặc tháng 3) | Lịch âm dương Hindu | Đại lễ Maha Shivaratri (Lễ cưới của Thần Shiva tại Đền Matangeshvara) | Sự kiện tôn giáo lớn nhất vùng Bundelkhand kéo dài nhiều ngày: người dân địa phương tôn kính trụ Shiva Linga cao 2,5 mét tại Đền Matangeshvara như chú rể Thần Shiva (Matangeshwar Mahadev). Hàng chục nghìn tín đồ từ khắp các làng mạc đổ về tắm ở hồ Shiv Sagar, trèo lên bậc thang dâng nước sông Hằng, sữa, lá Bilva và tổ chức đám rước lễ cưới truyền thống của Thần Shiva và Nữ thần Parvati. |
| Tuần cuối tháng 2 hàng năm (kéo dài 7 ngày, thường từ 20 đến 26 tháng 2) | Dương lịch | Lễ hội Vũ kịch Cổ điển Khajuraho (Khajuraho Dance Festival) | Được Sở Văn hóa bang Madhya Pradesh (Kala Parishad) tổ chức thường niên từ năm 1975 ngay trên sân khấu ngoài trời giữa Cụm đền phía Tây, với phông nền là hai ngôi đại đền Chitragupta và Vishvanatha (cùng Kandariya Mahadeva) được chiếu sáng rực rỡ trong đêm. Các bậc thầy múa cổ điển Ấn Độ (Kathak, Bharatanatyam, Odissi, Kuchipudi, Manipuri, Mohiniyattam) trình diễn trực tiếp dưới chân những bức phù điêu vũ nữ Surasundari nghìn năm tuổi. |
| Tháng Bhadrapada (tháng 8 hoặc tháng 9) và tháng Chaitra (tháng 3 hoặc tháng 4) | Lịch âm dương Ấn Độ | Đại lễ Paryushana (Dasama Lakshana) và Mahavira Jayanti của Kỳ Na giáo | Cộng đồng tín đồ Kỳ Na giáo hệ phái Digambara hành hương về Cụm đền phía Đông (Đền Parshvanatha, Adinatha và Shantinatha) để cử hành mười ngày tu tập thanh tịnh Dasama Lakshana, lễ tắm tượng thần Abhisheka và kỷ niệm ngày đản sinh của các vị Tirthankara. |
Vào mỗi buổi tối tại khuôn viên thảm cỏ rộng lớn của Cụm đền phía Tây, du khách còn có dịp thưởng thức chương trình Trình chiếu Ánh sáng và Âm thanh (Sound and Light Show) với giọng đọc truyền cảm (phiên bản gốc do nam diễn viên huyền thoại của điện ảnh Ấn Độ là Amitabh Bachchan thuyết minh bằng tiếng Hindi và tiếng Anh), đưa người xem ngược dòng thời gian trở về thế kỷ 10 để gặp gỡ các vị vua vương triều Chandela và những người thợ đá đã tạc nên 85 ngôi đền bên hồ sen.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Khajuraho là một trong số ít các di sản cổ đại ở Ấn Độ có cả sân bay dân dụng lẫn nhà ga đường sắt riêng ngay tại thị trấn: Sân bay Khajuraho (mã HJR, có các chuyến bay thẳng từ thủ đô New Delhi và thành phố Varanasi) chỉ cách Cụm đền phía Tây khoảng 5 km về phía nam, còn Ga đường sắt Khajuraho (nối tàu tốc hành trực tiếp với Delhi, Agra, Varanasi và Jhansi) nằm cách khu đền khoảng 8 km.
- Toạ độ
- 24.8544, 79.9214
Quần thể đền đài Khajuraho trải rộng trên ba khu vực: Cụm phía Tây nằm ngay trung tâm thị trấn là khu vực có bán vé tham quan của ASI (mở cửa hàng ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn), trong khi Cụm phía Đông (cách khoảng 1,5 km, gồm khu đền Kỳ Na giáo và các đền Vamana, Javari) và Cụm phía Nam (cách khoảng 3 km, gồm đền Duladeo và Chaturbhuja) hoàn toàn mở cửa tự do cho du khách, phương tiện lý tưởng và thú vị nhất để di chuyển giữa ba cụm đền là thuê xe đạp đi dọc theo những con đường rợp bóng cây quanh hồ nước. Quý vị lưu ý phải cởi bỏ giày dép trước khi bước lên bậc thang vào bên trong các ngôi đền (và ngay từ dưới chân đài đá đối với Đền Matangeshvara và khu đền Kỳ Na giáo đang hoạt động), ăn mặc lịch sự, không chạm tay lên các bức tượng đá sa thạch và nhớ ghé thăm Bảo tàng Khảo cổ học ASI Khajuraho nằm ngay đối diện hồ Shiv Sagar.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể đền đài Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo Khajuraho
Contribute photos, information or video for Khajuraho Group of MonumentsThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Quần thể đền đài Khajuraho được xây dựng vào thời gian nào và thuộc những tôn giáo nào?
Quần thể đền đài Khajuraho được xây dựng bởi các vị vua của vương triều Chandela (cai trị vùng Jejakabhukti, tức Bundelkhand ngày nay) từ cuối thế kỷ 9 đến đầu thế kỷ 12, trong đó giai đoạn hoàng kim rực rỡ nhất kéo dài đúng một thế kỷ từ khoảng năm 950 đến năm 1050 SCN. Trong tổng số 85 ngôi đền nguyên thủy, khoảng 25 ngôi đền còn bảo tồn đến ngày nay thuộc về hai tôn giáo của Ấn Độ là Ấn Độ giáo (thờ Shiva, Vishnu, Surya và Nữ thần Mẫu) và Kỳ Na giáo (nhánh Không Y phái Digambara thờ các vị đạo sư Tirthankara).
Các bức tượng điêu khắc gợi cảm (Mithuna) chiếm bao nhiêu phần trăm tại Khajuraho và mang ý nghĩa gì?
Trái với định kiến thường gọi Khajuraho là đền Kama Sutra, các bức phù điêu đôi lứa gợi cảm (Mithuna) thực chất chỉ chiếm chưa đầy 10 phần trăm tổng số tác phẩm điêu khắc trên tường ngoài của các ngôi đền, hơn 90 phần trăm còn lại là tượng chư thần, tiên nữ Surasundari, nhạc công và sinh hoạt đời sống. Theo triết lý Ấn Độ giáo, các bức điêu khắc này thể hiện trọn vẹn bốn mục tiêu nhân sinh (Purusharthas: Dharma, Artha, Kama, Moksha) và biểu trưng cho sự hợp nhất vũ trụ giữa Tâm thức (Shiva / Purusha) và Năng lượng (Shakti / Prakriti) ở mặt ngoài đền trước khi con người bước vào sự tĩnh lặng giải thoát trong hậu cung.
Ngôi đền nào là lớn nhất và nổi tiếng nhất trong quần thể Khajuraho?
Ngôi đền lớn nhất và là kiệt tác đỉnh cao của phong cách kiến trúc Nagara tại Khajuraho là Đền Kandariya Mahadeva (nằm ở Cụm phía Tây), được Hoàng đế Vidyadhara xây dựng vào khoảng năm 1025 đến 1050 SCN để thờ Thần Shiva. Ngôi đền dài 30,5 mét, cao 31 mét, có ngọn tháp chính Shikhara được bao bọc bởi 84 ngọn tháp phụ đồng dạng (Urushringa) vươn lên như dãy núi thiêng Kailash và được trang trí bởi 872 pho tượng đá sa thạch chạm trổ sống động.
Hiện nay còn ngôi đền nào tại Khajuraho vẫn duy trì việc thờ cúng hàng ngày không?
Có hai khu vực vẫn duy trì việc thờ phụng liên tục suốt một nghìn năm qua: tại Cụm phía Tây, Đền Matangeshvara (xây dựng từ thế kỷ 10, nơi tôn trí trụ đá Shiva Linga khổng lồ cao 2,5 mét trên bệ Yoni rộng 6 mét) là ngôi đền Ấn Độ giáo duy nhất vẫn cử hành lễ cúng hàng ngày và là trung tâm của đại lễ Maha Shivaratri, còn tại Cụm phía Đông, khu đền Kỳ Na giáo (gồm Đền Parshvanatha, Adinatha và Shantinatha) vẫn là nơi hành lễ thường xuyên của cộng đồng tín đồ Kỳ Na giáo.
Bảng ma phương toán học kỳ diệu ở Đền Parshvanatha có đặc điểm gì?
Ngay bên phải lối vào của Đền Parshvanatha (ngôi đền Kỳ Na giáo lớn nhất ở Cụm phía Đông, xây dựng khoảng năm 950 đến 970 SCN) có khắc một bảng ma phương toán học 4 nhân 4 bằng chữ số cổ thế kỷ 10 gọi là Chautisa Yantra (Ma phương 34). Bảng gồm 16 ô chứa các số từ 1 đến 16 được sắp xếp kỳ diệu tới mức tổng của 4 con số theo bất kỳ hàng ngang, cột dọc, hai đường chéo chính, hay bất kỳ ô vuông con 2 nhân 2 nào bên trong cũng đều bằng đúng 34.