Bước lên những bậc đá sa thạch dẫn lên đỉnh ngọn đồi Sanchi cao 91 mét nhìn xuống vùng đồng bằng trù phú nơi hai dòng sông Betwa và sông Bes giao nhau tại bang Madhya Pradesh, quý vị sẽ thấy hiện ra giữa bầu trời một vòm đá bán cầu khổng lồ mang dáng dấp của cả vũ trụ thu nhỏ. Bao quanh khối vòm đá đường kính hơn ba mươi sáu mét ấy là một vòng lan can đá đẽo gọt vuông vức như hàng rào gỗ và bốn cánh cổng đá ba tầng xà ngang cao mười mét đứng sừng sững ở bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc, trên mặt đá khắc kín hàng trăm cảnh tượng sinh động về cuộc đời Đức Phật, các đoàn voi ngựa và những nàng tiên nữ đang mỉm cười vịn tay vào cành xoài trĩu quả.
Mặc dù trong suốt bốn mươi lăm năm hoằng pháp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chưa từng trực tiếp đặt chân tới vùng đất cổ Vidisha và đồi Sanchi (cổ danh là Kakanava, Kakanadabota hay Chetiyagiri), nơi đây lại bảo tồn được quần thể kiến trúc Phật giáo cổ xưa và nguyên vẹn nhất trên toàn lãnh thổ Ấn Độ. Được Đại đế Ashoka (A Dục Vương) khởi dựng từ thế kỷ 3 TCN để tôn trí xá lợi chân thân của Đức Phật cùng cột đá bốn sư tử uy nghiêm, Đại Bảo Tháp Sanchi chính là khuôn mẫu gốc cho mọi ngôi bảo tháp Phật giáo khắp châu Á suốt hơn hai thiên niên kỷ qua, và hình ảnh của ngôi tháp này hiện được in trang trọng trên mặt sau tờ tiền giấy 200 Rupee của Cộng hòa Ấn Độ.

IXá Lợi Phật Đà, Xá Lợi Hai Đại Đệ Tử Và Nghệ Thuật Vô Tượng (Aniconic)
Trong truyền thống Phật giáo nguyên thủy, ngôi Bảo tháp (tiếng Phạn: Stupa, tiếng Pali: Thupa) vừa là một công trình kiến trúc kỷ niệm, mà là hiện thân sống động của Pháp thân Đức Phật và là mô hình thu nhỏ của toàn bộ vũ trụ (Axis Mundi). Tại Sanchi, ba ngôi bảo tháp chính trên đỉnh đồi phân định rõ ba cấp bậc tôn thờ thiêng liêng trong Phật giáo sơ kỳ (Saririka và Uddesika):
Trung tâm tối thượng là Đại Bảo Tháp số 1 (Mahastupa), được Đại đế Ashoka kiến lập vào thế kỷ 3 TCN để tôn trí phần xá lợi kim thân của chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (được vua Ashoka thỉnh ra từ bảy ngôi tháp cổ thời phân chia xá lợi ban đầu để phân bố vào 84.000 bảo tháp khắp đế chế Maurya). Cách Đại Bảo Tháp số 1 chỉ khoảng 50 mét về phía đông bắc là Bảo tháp số 3: nơi lưu giữ xá lợi xương thật của hai vị đại đệ tử kiệt xuất đứng đầu Tăng đoàn của Đức Phật là Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta, Đệ nhất Trí tuệ) và Tôn giả Mục Kiền Liên (Mahamoggallana, Đệ nhất Thần thông). Còn nằm ở lưng chừng sườn đồi phía tây là Bảo tháp số 2: nơi tôn trí xá lợi của mười vị đại A-la-hán và pháp sư thuộc phái Hemavata qua ba thế hệ, những bậc cao tăng đã chủ trì Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba dưới thời vua Ashoka và đi truyền giáo khắp vùng Himalaya.
Khi đứng dưới bốn cổng đá Torana của Đại Bảo Tháp Sanchi để chiêm ngưỡng hàng trăm bức phù điêu tự sự khắc họa chi tiết từ lúc Thái tử Tất-đạt-đa rời hoàng cung xuất gia, thành đạo dưới cội Bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), thuyết pháp lần đầu tại Vườn Lộc Uyển Sarnath cho tới khi nhập Niết-bàn, người xem sẽ nhận ra một nguyên tắc thần học đặc biệt của mỹ thuật Phật giáo thế kỷ 1 TCN: tuyệt nhiên không có bất kỳ một bức chạm khắc nào vẽ Đức Phật mang hình hài con người. Đó chính là đỉnh cao của thời kỳ nghệ thuật Vô tượng (Aniconic) trước khi tượng Phật mang hình người ra đời tại Gandhara và Mathura vào thế kỷ 1 SCN.
Theo giáo nghĩa của các bộ phái Phật giáo đương thời, Đức Phật sau khi chứng đạt Vô dư y Niết-bàn đã vượt thoát hoàn toàn khỏi sự trói buộc của ngũ uẩn và luân hồi sinh tử, nên không một hình tướng vật chất hữu hạn nào có thể đóng khung được Ngài. Do đó, các nghệ nhân tại Sanchi đã dùng một hệ thống biểu tượng thiêng liêng để gợi lên sự hiện diện vô biên của Đức Thế Tôn: một cội cây hoa sen và đàn voi tưới nước lên nữ thần Maya biểu thị cho sự Đản sinh, một con ngựa Kanthaka yên cương đầy đủ cùng chiếc lọng che phía trên nhưng trên lưng ngựa hoàn toàn trống không đi qua cổng thành Ca-tỳ-la-vệ biểu thị cho cuộc Xuất gia vĩ đại, một cội cây Bồ đề rợp bóng bên trên chiếc tòa Kim Cương trống không (Vajrasana) biểu thị cho sự Đại Giác Ngộ, một Bánh xe Pháp luân (Dharmachakra) đặt trên trụ đá giữa đàn hươu biểu thị cho bài Pháp đầu tiên, một con đường kinh hành bằng đá trên không (Chankama) hoặc đôi dấu chân Phật (Buddhapada) có khắc bánh xe Pháp luân biểu thị cho phép thần thông tại thành Xá-vệ, và hình ảnh một ngôi Bảo tháp (Stupa) được chư thiên cùng nhạc công vây quanh biểu thị cho sự Nhập Đại Bát Niết Bàn của Ngài.
Một chi tiết khảo cổ học vô cùng xúc động từng làm chấn động giới Phật học thế giới là cuộc khai quật tại Bảo tháp số 3 vào tháng 2 năm 1851 do Thiếu tá kỹ sư Alexander Cunningham (người sau này trở thành Tổng giám đốc đầu tiên của Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ ASI) và Đại úy F. C. Maisey thực hiện. Khi mở nắp căn hầm đá nằm ngang tầm mắt của vòm Bảo tháp số 3, hai nhà khảo cổ đã tìm thấy hai chiếc hòm bằng đá sa thạch lớn nguyên vẹn. Bên trong mỗi hòm đá đặt một chiếc bình tròn tiện bằng đá ngọc thạch trắng (steatite) chứa những mảnh xương xá lợi nhỏ cùng các hạt ngọc trai, thạch anh và vàng lá. Trên mặt trong nắp bình phía nam có khắc bằng mực chữ Brahmi cổ thời Maurya - Shunga chữ cái Sa, và trên mặt trong nắp bình phía bắc khắc chữ cái Ma (đối chiếu với hai chiếc bình đá khác tìm thấy tại tháp số 2 ở vùng Satdhara lân cận có khắc đầy đủ dòng chữ Sariputasa và Maha-Mogalanasa, xác nhận 100 phần trăm đây chính là xá lợi chân thật của Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên).
Sau khi bị đưa về trưng bày tại Bảo tàng Victoria và Albert ở London suốt gần một thế kỷ, theo thỉnh cầu của Hội Maha Bodhi và Chính phủ Ấn Độ cùng Sri Lanka, toàn bộ xá lợi thiêng liêng của hai vị đại đệ tử đã được Chính phủ Anh trang trọng trao trả lại vào năm 1947. Sau hành trình rước đi chiêm bái khắp các nước Phật giáo châu Á, vào tháng 11 năm 1952, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru cùng các nhà lãnh đạo Phật giáo thế giới đã cử hành đại lễ rước xá lợi của hai ngài về tôn trí vĩnh viễn tại ngôi chùa đá mới Chetiyagiri Vihara ngay trên đỉnh đồi Sanchi.
Nhiều du khách khi nhìn thấy ở cuối hai thanh đà ngang dưới cùng của các cổng đá Torana có tạc tượng những người phụ nữ trẻ trung thân hình đẫy đà, trang sức lộng lẫy đang uốn mình bước chân lên thân cây và vươn tay vít cành cây xoài hay cây vô ưu (Ashoka) liền thắc mắc vì sao hình ảnh thiếu nữ gợi cảm lại đứng ngay trên cổng chùa bảo tháp. Trong văn hóa cổ truyền Ấn Độ và kinh điển Phật giáo, đó là hình tượng Shalabhanjika (một dạng nữ thần mộc tinh Yakshini): người xưa tin rằng một thiếu nữ đức hạnh và tràn đầy sinh lực chỉ cần dùng gót chân chạm nhẹ vào gốc cây và dùng bàn tay nắm lấy cành cây thì ngay lập tức cả cái cây khô cằn cũng sẽ đơm hoa kết trái sum suê. Khi được đưa vào cổng bảo tháp Sanchi (do chính phường thợ chạm ngà voi thành Vidisha điêu khắc), nàng Shalabhanjika trở thành biểu tượng của sự sinh sôi, lòng hiếu khách của thiên nhiên và điềm lành chúc phúc cho giáo pháp của Đức Phật luôn nở hoa kết trái trường tồn.
IITừ Mối Lương Duyên Của Đại Đế Ashoka Tại Vidisha Đến Một Nghìn Năm trăm Năm Hưng Thịnh
Câu trả lời cho việc vì sao Sanchi lại được Đại đế Ashoka chọn làm nơi dựng Đại Bảo Tháp nằm ở thành phố cổ Vidisha (cổ danh là Besnagar, kinh đô vùng Đông Malwa) chỉ cách đồi Sanchi 10 km về phía đông bắc. Theo hai bộ biên niên sử Phật giáo cổ nhất của Sri Lanka bằng tiếng Pali là Dipavamsa và Mahavamsa, khi chàng hoàng tử trẻ Ashoka được vua cha Bindusara cử đi làm Phó vương cai trị xứ Avanti (đóng đô tại Ujjain), trên đường hành quân qua thành Vidisha, hoàng tử đã đem lòng yêu mến và kết hôn với nàng Devi (Vedisamahadevi Shakya Kumari), người con gái xinh đẹp và sùng đạo Phật của một đại thương gia tại Vidisha. Chính tại thành Vidisha này, Hoàng hậu Devi đã sinh hạ cho Ashoka hai người con lịch sử: Thái tử Mahinda (Mahendra) và Công chúa Sanghamitta (Sanghamitra).
Sau cuộc chiến Kalinga đẫm máu (khoảng năm 261 TCN) khiến Đại đế Ashoka thức tỉnh và quy y Tam Bảo, Hoàng hậu Devi (người vẫn sống tại quê hương Vidisha chứ không về kinh đô Pataliputra) đã xây dựng một đại tịnh xá trên ngọn đồi Sanchi (khi ấy gọi là Chetiyagiri) và được chính Đại đế Ashoka bảo trợ dựng nên Đại Bảo Tháp cùng trụ đá sư tử. Trước khi Thái tử Mahinda lên đường sang đảo quốc Sri Lanka hoằng dương chánh pháp dưới triều vua Devanampiya Tissa (theo sau là Công chúa Sanghamitta chiết một nhánh cây Bồ đề từ Bodh Gaya mang sang trồng tại Anuradhapura), vị hoàng tử tu sĩ đã về lưu lại suốt một tháng tại ngôi chùa trên đồi Sanchi này để thăm từ biệt người mẹ hiền của mình.
- Thế kỷ 3 TCN (khoảng 268 đến 232 TCN)Đại đế Ashoka khởi dựng lõi gạch Đại Bảo Tháp số 1 và dựng Trụ đá Sư tửDưới triều đại của Đại đế Ashoka (A Dục Vương), lõi nguyên thủy của Bảo tháp số 1 được xây bằng gạch nung lớn tôn trí xá lợi Đức Phật, trên đỉnh đặt lọng đá Chunar mài bóng và ngay phía nam dựng Trụ đá Ashoka nguyên khối (Trụ số 10) có đầu cột bốn sư tử đá khắc Sắc lệnh chống chia rẽ Tăng đoàn.
- Thế kỷ 2 TCN (khoảng 150 đến 100 TCN)Vương triều Shunga mở rộng gấp đôi Đại Bảo Tháp và dựng Bảo tháp số 2, số 3Dưới thời vương triều Shunga, ngôi bảo tháp gạch của Ashoka được bọc đá sa thạch mở rộng gấp đôi lên đường kính 36,6 mét, cao 16,46 mét, xây thêm đài đi nhiễu trên cao, lan can đá Vedika và bình lọng ba tầng Harmika - Chatra, đồng thời kiến lập Bảo tháp số 2 và Bảo tháp số 3.
- Thế kỷ 1 TCN đến thế kỷ 1 SCNVương triều Satavahana dựng 4 cổng đá nghi lễ Torana cao 10 métDưới triều vua Siri Satakarni II của vương triều Satavahana, bốn cổng đá nghi lễ Torana cao 10 mét được dựng lên theo thứ tự: Cổng Nam (cổ nhất), Cổng Bắc, Cổng Đông và Cổng Tây, với các bức phù điêu tự sự tuyệt mỹ do phường thợ chạm ngà voi thành Vidisha điêu khắc.
- Thế kỷ 5 SCN (thời đế chế Gupta, khoảng 400 đến 450 SCN)Xây dựng Đền đá số 17 và bổ sung 4 pho tượng Phật tại Đại Bảo ThápDưới thời hoàng kim Gupta (vua Chandragupta II và Kumaragupta I), ngôi Đền số 17 mang tỷ lệ kiến trúc cổ điển chuẩn mực được dựng lên, đồng thời năm 450 SCN bốn pho tượng Đức Phật ngồi thiền trong bốn hốc lọng đá được đặt đối diện bốn cổng Torana của Đại Bảo Tháp.
- Thế kỷ 7 đến thế kỷ 12 SCNXây dựng Đền số 18, Tự viện số 45 và tường thành thời Harsha - ParamaraHoạt động tu học tiếp tục hưng thịnh dưới thời vua Harshavardhana (thế kỷ 7, dựng giảng đường cột đá cao Đền số 18) và thời Pratihara - Paramara (thế kỷ 9 đến 12, dựng Đền - Tự viện số 45 có tháp Shikhara cao), trước khi bị bỏ hoang vào thế kỷ 13 khi Phật giáo suy tàn tại trung Ấn.
- 1818 và 1851Tướng Henry Taylor phát hiện lại Sanchi và Cunningham tìm thấy xá lợi ở Tháp số 3Năm 1818, sĩ quan Anh Henry Taylor phát hiện quần thể Sanchi bị rừng cây bao phủ (khi ấy 3 trong 4 cổng Torana vẫn còn đứng vững). Năm 1851, Alexander Cunningham và F. C. Maisey khai quật Bảo tháp số 2 và Bảo tháp số 3, tìm thấy hòm đá chứa xá lợi của Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
- 1912 đến 1919Sir John Marshall và Nữ vương Bhopal phục nguyên toàn diện quần thểDưới sự tài trợ hào hiệp của Nữ vương Hồi giáo xứ Bhopal là Nawab Sultan Jahan Begum, Tổng giám đốc ASI Sir John Marshall đã tiến hành phát quang rừng rậm, dựng lại các cổng đá bị đổ, phục nguyên hoàn chỉnh vòm đá Đại Bảo Tháp số 1, Bảo tháp số 3 và thành lập Bảo tàng Khảo cổ Sanchi.
- 1952 và 1989Hoàn trả Xá lợi hai Đại đệ tử và ghi danh Di sản Thế giới UNESCOTháng 11 năm 1952, xá lợi của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên được rước từ London trở về tôn trí tại chùa Chetiyagiri Vihara trên đồi Sanchi. Năm 1989, Quần thể di tích Phật giáo tại Sanchi chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới (mã số 524).
Một giá trị sử liệu vô giá khác của Sanchi là hơn 800 dòng bi ký cúng dường bằng chữ Brahmi cổ và ngôn ngữ Prakrit được khắc dọc trên các trụ đá, thanh ngang và lát sàn của lan can Đại Bảo Tháp số 1, Bảo tháp số 2 và Bảo tháp số 3 (niên đại từ thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 1 TCN). Khác với các ngôi đền hoàng gia chỉ ghi tên một vị hoàng đế duy nhất, hàng trăm dòng chữ ngắn gọn kết thúc bằng chữ Danam (vật cúng dường của...) tại Sanchi cho thấy ngôi Đại Bảo Tháp đã được xây dựng bằng sự đóng góp cộng đồng (crowdfunding cổ đại) của hàng trăm con người thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội: từ các vị Tỳ-kheo (Bhikkhu) và Tỳ-kheo-ni (Bhikkhuni chiếm gần một phần ba số người quyên góp!), các vị trưởng đoàn thương buôn (Setthi), các quan thư lại hoàng gia (Rajalipikara), những người thợ dệt, thợ rèn, cho tới Đốc công Ananda của Vua Siri Satakarni và Phường hội thợ chạm ngà voi thành Vidisha (Vedisakehi dantakarehi rupakammam katam, những người đã tự tay chạm khắc bức phù điêu trên Cổng Nam như một lễ vật dâng cúng Đức Thế Tôn).
Ngoài ra, tấm lòng khoan dung tôn giáo vượt thời đại tại Sanchi còn được ghi dấu vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bởi các vị Nữ vương Hồi giáo trị vì tiểu quốc Bhopal (Begums of Bhopal): khi Hoàng đế Pháp Napoleon III ngỏ ý năm 1868 muốn xin tháo dỡ một trong bốn cổng đá Torana nguyên bản của Sanchi để mang về dựng tại Paris, Nữ vương Shah Jahan Begum đã kiên quyết từ chối để giữ nguyên vẹn di sản trên đất Ấn Độ và chỉ cho phép đúc các bản sao bằng thạch cao gửi sang bảo tàng ở Paris, London và Berlin, tiếp đó, con gái bà là Nữ vương Sultan Jahan Begum đã cấp toàn bộ kinh phí cho Sir John Marshall trùng tu lại Sanchi từ năm 1912 đến 1919.
IIIGiải Phẫu Kiến Trúc Vũ Trụ Học Của Đại Bảo Tháp, Bốn Cổng Torana Và Trụ Đá Sư Tử Ashoka
Trong số khoảng 50 công trình di tích trên đỉnh đồi Sanchi (gồm các bảo tháp, trụ đá, đền thờ và tịnh xá), Đại Bảo Tháp số 1 (Mahastupa) là hình mẫu kinh điển giải thích trọn vẹn cấu trúc biểu tượng vũ trụ học của một ngôi tháp Phật giáo. Ngôi tháp có đường kính chân đế 36,6 mét (120 bộ) và chiều cao vòm tháp 16,46 mét (54 bộ) (tính lên tới đỉnh lọng đá là khoảng 21,6 mét), gồm năm bộ phận hợp thành từ thấp lên cao:
(1) Ngoài cùng là Vòng lan can đá dưới mặt đất (Vedika) cao 3,35 mét bao bọc toàn bộ ngôi tháp để phân ranh giới giữa không gian thế tục bên ngoài và cõi đất thánh bên trong, tạo thành lối đi nhiễu tầng dưới (Pradakshinapatha). (2) Bên trong là Đài tháp hình trụ tròn (Medhi) cao 4,87 mét có cầu thang đôi có tay vịn (Sopana) ở phía nam dẫn lên hành lang đi nhiễu thứ hai trên cao. (3) Phần thân chính là Khối vòm bán cầu khổng lồ (Anda) xây đặc bằng gạch và ốp đá sa thạch bên ngoài, mang nghĩa là Quả trứng Vũ trụ hay Vòm trời xanh úp lên mặt đất. (4) Chính giữa đỉnh vòm là Hàng rào bình vuông (Harmika) tượng trưng cho cung trời Đâu-suất và đỉnh núi vũ trụ Tu-di (Meru), nơi đặt hòm xá lợi. (5) Vươn thẳng từ giữa Harmika lên trời là Trụ trục vũ trụ (Yashti) nâng đỡ ba tầng tán lọng đá tròn (Chatravali) tượng trưng cho Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng.
Đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc đá thời Satavahana (thế kỷ 1 TCN). Mỗi cổng Torana cao khoảng 10 mét (34 bộ / 10,36 mét), rộng 3 mét, đặt ngay tại bốn lối vào hình chữ L của lan can Vedika để dẫn người hành hương rẽ trái đi nhiễu theo chiều kim đồng hồ. Mỗi cổng gồm hai trụ đá vuông lớn nâng đỡ ba thanh đà ngang (architraves) hơi uốn cong hai đầu thành hình xoắn ốc như cuộn sách lá bối được mở ra, trên đỉnh gắn bánh xe Pháp luân, biểu tượng Tam Bảo (Triratna) và các vị thần Yaksha. Trụ cổng Nam được đỡ bởi bốn sư tử đứng chung lưng, trụ cổng Bắc và cổng Đông đỡ bởi bốn con voi chầu, còn trụ cổng Tây đỡ bởi bốn vị thần lùn Gana (Kichaka) đang gồng vai đỡ sức nặng của đá.
Cổng Bắc là cánh cổng còn giữ được nguyên vẹn nhất mọi chi tiết trên đỉnh: hai biểu tượng Tam Bảo Triratna, những chú voi, ngựa có cánh và các mảnh bánh xe Pháp luân ở chính giữa. Toàn bộ mặt trước và mặt sau của thanh đà ngang dưới cùng trên Cổng Bắc khắc họa trọn vẹn câu chuyện Bố thí vĩ đại nhất trong tiền thân Đức Phật là tích Thái tử Vessantara (Vessantara Jataka) đem cho voi trắng thần, xe ngựa và cả vợ con. Còn Cổng Đông (nằm ngay đối diện Đền số 18) nổi tiếng toàn cầu với bức tượng tròn tiên nữ mộc tinh Shalabhanjika (Yakshini) ở góc đà ngang dưới bên phải đang uốn cong thân mình mềm mại đu trên cành cây xoài, cùng cảnh Thái tử Tất-đạt-đa vượt thành xuất gia trên ngựa Kanthaka và cảnh Đại đế Ashoka đến chiêm bái cội Bồ đề.
Nằm ngay bên cạnh Cổng Nam của Đại Bảo Tháp là phần chân trụ còn lại của Trụ đá Ashoka số 10 (niên đại thế kỷ 3 TCN). Toàn bộ cây cột nguyên thủy cao hơn 12 mét được đục từ một khối đá sa thạch Chunar duy nhất (khai thác gần Varanasi cách đó hàng trăm cây số) và được kỹ thuật thời Maurya mài bóng loáng như gương đồng đến mức sau hơn 2.200 năm vẫn không hề bị rêu mốc bám vào. Trên thân trụ khắc bài minh văn chữ Brahmi của Đại đế Ashoka nghiêm cấm việc gây chia rẽ trong Tăng đoàn. Phần Đầu cột bốn con Sư tử đá đứng đấu lưng nhau (trên bệ chạm bốn con ngỗng Hamsa đang mổ hạt sen) đã được đưa vào trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Khảo cổ Sanchi dưới chân đồi.
Bảo tháp số 3 nằm cách Đại Bảo Tháp 50 mét về phía đông bắc (đường kính 15 mét, cao 8,2 mét), có vòm bán cầu tròn cao, trên đỉnh đội một tán lọng đá duy nhất và phía trước hướng nam có một cổng đá Torana chạm khắc đầu thế kỷ 1 SCN, đây chính là nơi tìm thấy hai bình ngọc thạch chứa xá lợi của Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên năm 1851. Còn Bảo tháp số 2 nằm riêng ở sườn đồi phía tây không có cổng Torana nhưng có vòng lan can đá Vedika chạm 455 bông hoa sen và các linh thú thần thoại từ cuối thế kỷ 2 TCN (lưu giữ các bức phù điêu Phật giáo cổ xưa nhất tại Sanchi).
Nằm ở phía đông nam Đại Bảo Tháp là hai công trình kiến trúc chùa đền nổi tiếng. Đền số 17 (đầu thế kỷ 5 SCN, thời hoàng kim Gupta) là một ngôi đền đá nhỏ có hậu cung vuông mái phẳng và hiên 4 cột chạm hình sư tử gác phía trước, Sir John Marshall và các sử gia kiến trúc đánh giá đây là một trong những ngôi đền đá xây dựng kiểu cổ điển sớm nhất và có tỷ lệ hài hòa như đền Hy Lạp cổ đại tại Ấn Độ. Ngay bên cạnh là Đền số 18 (thế kỷ 7 SCN, thời vua Harshavardhana xây trên nền chùa Maurya cũ): một giảng đường Chaitya có hậu cung bán nguyệt và 9 cây cột đá nguyên khối cao vút hơn 5 mét vẫn đứng sừng sững giữa trời.
Trên đỉnh đồi còn có chiếc Bát đá nguyên khối khổng lồ thời Maurya (tương truyền dùng để đựng thức ăn cúng dường phân phát cho chư tăng toàn tự viện), khu nền móng của Đại Tự viện số 51 (nơi ở của Hoàng hậu Devi theo truyền thuyết) và Tự viện - Đền số 45 ở rìa phía đông (thế kỷ 9 đến 10 SCN) có ngọn tháp Nagara và tôn tượng Đức Phật ngồi trên tòa sen. Ở rìa phía bắc ngọn đồi là ngôi chùa đá cẩm thạch trắng Chetiyagiri Vihara khánh thành năm 1952, nơi hiện đang tôn trí hòm xá lợi thật của Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
| Công trình tiêu biểu tại Sanchi | Niên đại & Vương triều | Đặc điểm kiến trúc và bảo vật |
|---|---|---|
| Đại Bảo Tháp số 1 (Mahastupa) | Thế kỷ 3 TCN (Maurya) đến thế kỷ 1 TCN (Shunga - Satavahana) | Đường kính 36,6 m, cao 16,46 m, tôn trí xá lợi Đức Phật, bao quanh bởi lan can Vedika và 4 cổng đá Torana cao 10 m |
| Trụ đá Ashoka số 10 và Đầu cột 4 Sư tử | Thế kỷ 3 TCN (khoảng 250 TCN, Đại đế Ashoka) | Đá sa thạch Chunar mài bóng như gương, khắc Sắc lệnh chống chia rẽ Tăng đoàn bằng chữ Brahmi, đầu cột 4 sư tử trưng bày tại bảo tàng |
| Bảo tháp số 3 (Stupa No. 3) | Thế kỷ 2 TCN (Shunga) & cổng Torana thế kỷ 1 SCN | Đường kính 15 m, có 1 lọng đá và 1 cổng Torana hướng Nam, nơi phát hiện 2 bình ngọc thạch chứa xá lợi Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (1851) |
| Bảo tháp số 2 (Stupa No. 2) | Thế kỷ 2 TCN (triều Shunga) | Nằm ở sườn đồi phía tây, không có cổng Torana, tôn trí xá lợi 10 vị A-la-hán phái Hemavata, lan can chạm phù điêu cổ nhất Sanchi |
| Đền số 17 (Ngôi đền cổ điển Gupta) | Đầu thế kỷ 5 SCN (đế chế Gupta) | Một trong những ngôi đền đá xây dựng kiểu mẫu cổ xưa nhất Ấn Độ, nổi tiếng với tỷ lệ hình học cân đối và hiên 4 cột |
| Đền số 18 (Giảng đường Chaitya) & Tự viện số 45 | Thế kỷ 7 SCN (thời Harsha) & Thế kỷ 9 đến 10 SCN | Đền 18 có hàng cột đá cao hơn 5 m và hậu cung bán nguyệt, Tự viện 45 có tháp kiểu Bắc Ấn và tượng Phật phong cách hậu Gupta |
IVThế Đất Và Hướng
Khi khảo sát địa thế của đồi Sanchi và quy hoạch của Đại Bảo Tháp, cần khẳng định rõ nguyên tắc: Phật giáo Ấn Độ không sử dụng thuật phong thủy la bàn Á Đông. Việc Đại đế Ashoka và Tăng đoàn thế kỷ 3 TCN chọn ngọn đồi Sanchi (Chetiyagiri / Kakanadabota) xuất phát từ truyền thống xây dựng bảo tháp của Ấn Độ cổ đại kết hợp với vũ trụ quan Phật giáo: ngôi bảo tháp chứa xá lợi Phật được coi là Trục Vũ Trụ (Axis Mundi / Núi Tu-di) nối liền Đất với Trời, nên việc đặt bảo tháp trên đỉnh một ngọn đồi đá phẳng phiu vươn cao giữa đồng bằng ngay ngã ba các tuyến đường thương mại lớn (nối Pataliputra ở phía đông, Ujjain ở phía tây và Pratishthana ở phía nam) giúp cho chiếc lọng đá trên đỉnh tháp có thể được muôn dân chiêm ngưỡng từ xa hàng chục cây số. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc sơn thủy vùng Malwa tại tọa độ 23,4792 độ vĩ bắc, 77,7397 độ kinh đông (nằm ngay sát chí tuyến Bắc Tropic of Cancer ở vĩ độ 23,5 độ bắc), ngọn đồi Sanchi là một gò núi đá sa thạch độc lập vươn cao 91 mét (300 bộ) giữa vùng đồng bằng phù sa trù phú của lưu vực sông Betwa. Ngay phía đông và phía bắc chân đồi Sanchi là dòng sông Betwa (cổ danh là sông Vetravati) chảy uốn lượn từ nam lên bắc để hội lưu với nhánh sông Bes (Halali) ngay tại vị trí kinh thành cổ Vidisha cách đó không xa, còn ở phía nam và phía tây nam có dãy đồi đá sa thạch Nagauri và quần thể các ngọn đồi bảo tháp vệ tinh (như Sonari, Satdhara, Morel Khurd và Andher trong bán kính 15 km). Trong phép xem hình thế cổ truyền, giữa một vùng đồng bằng có hai dòng sông lớn giao hội (lưỡng thủy giao nha) mà đột ngột nổi lên một ngọn đồi đá đỉnh bằng phẳng như chiếc đài cao (bình đính thiên bàn hay ấn tinh xuất thủy) thì đỉnh đồi ấy chính là nơi kết tụ toàn bộ linh khí của cả vùng đất Malwa.
Xét riêng về bố cục phương vị và hướng của Đại Bảo Tháp số 1, ngôi tháp được thiết kế theo sơ đồ Mandala tứ phương hướng tâm: khối vòm tròn ở trung tâm tượng trưng cho sự viên mãn không đầu không cuối, còn bốn cổng đá Torana cao 10 mét mở ra đúng bốn phương chính Bắc (Khảm), Nam (Ly), Đông (Chấn), Tây (Đoài). Trong bốn cổng ấy, Cổng phía Nam (Southern Gateway) giữ vai trò là cổng chánh nguyên thủy: chính tại cổng Nam này Đại đế Ashoka đã dựng Trụ đá bốn Sư tử, và cũng chính tại phía Nam này cầu thang đôi Sopana mở lối dẫn lên hành lang đi nhiễu trên cao, hướng thẳng mặt tiền về phía dãy đồi Nagauri làm tiền án (nơi các thợ đá thời Maurya và Shunga khai thác đá xây tháp).
Khi người hành hương bước qua bất kỳ cổng Torana nào trong bốn cổng, lối vào hình chữ L của lan can đá Vedika đều tự động dẫn bước chân rẽ sang tay trái để đi vòng quanh bảo tháp theo chiều kim đồng hồ (Pradakshina): đi từ Đông sang Nam (hướng mặt trời lên đỉnh chính ngọ), từ Nam sang Tây (hướng mặt trời lặn), từ Tây lên Bắc và từ Bắc trở về Đông (hướng mặt trời mọc). Bằng cách giữ cánh tay phải tôn kính luôn hướng về tâm xá lợi Phật ở giữa đồi, bước chân của người chiêm bái hòa làm một với quỹ đạo chuyển động biểu kiến của mặt trời và các vì sao quanh trục vũ trụ.
VĐại Lễ Chiêm Bái Xá Lợi Tháng Mười Một (Chetiyagiri Vihara Mela) Và Lễ Phật Đản
Khác với nhiều phế tích khảo cổ chỉ phục vụ tham quan thuần túy, đồi Sanchi hàng năm vẫn đón hàng vạn tăng ni và Phật tử từ Sri Lanka, Nhật Bản, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam và khắp Ấn Độ về hành hương, đặc biệt là vào dịp Đại lễ Chiêm bái Xá lợi tại chùa Chetiyagiri Vihara tính theo dương lịch và Đại lễ Phật Đản Buddha Purnima tính theo lịch âm dương Ấn Độ.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ / Sự kiện | Nghi thức và hoạt động tại Sanchi |
|---|---|---|---|
| Thứ Bảy và Chủ nhật cuối cùng của tháng 11 hàng năm (kéo dài 2 ngày) | Dương lịch | Đại lễ Chiêm bái Xá lợi Chetiyagiri Vihara (Sanchi Mahabodhi Mahotsava / Chetiyagiri Vihara Festival) | Sự kiện tâm linh trọng đại nhất trong năm tại Sanchi (khởi xướng từ tháng 11 năm 1952 khi hoàn trả xá lợi về Ấn Độ): chỉ duy nhất trong hai ngày cuối tháng 11 này, két bảo mật trong chùa Chetiyagiri Vihara được mở ra để đưa hòm xá lợi xương thật của hai vị Đại đệ tử Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Mahamoggallana) ra trưng bày công khai và rước đi nhiễu quanh Đại Bảo Tháp số 1 cho hàng chục nghìn chư tăng, nguyên thủ ngoại giao và Phật tử bốn phương trực tiếp đỉnh lễ. |
| Ngày trăng tròn tháng Vesakha / Vaishakha (tháng 5) | Lịch âm dương Ấn Độ / Phật lịch | Đại lễ Phật Đản Vesak (Buddha Purnima) | Ngày kỷ niệm Đức Phật Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết-bàn: các đoàn tăng sĩ và Phật tử đi nhiễu ba vòng quanh Đại Bảo Tháp số 1 và Bảo tháp số 3, tụng kinh Pali dưới bóng cây và dâng hoa đèn tưởng niệm công đức hộ pháp của Đại đế Ashoka và Thái tử Mahinda. |
| Rằm tháng Ashadha (tháng 7, Poson / Esala) | Lịch âm dương Ấn Độ / Sri Lanka | Ngày tưởng niệm Thái tử Mahinda xuất phát truyền giáo (Chuyển Pháp Luân) | Các đoàn hành hương Phật giáo từ Sri Lanka đặc biệt về Sanchi (Chetiyagiri) vào mùa hè để tưởng nhớ nơi Thái tử Mahinda và Công chúa Sanghamitta đã lưu lại cùng mẫu hậu Devi trước khi mang ánh sáng Phật pháp và cây Bồ đề sang đảo quốc Sri Lanka vào thế kỷ 3 TCN. |
Vào mỗi buổi tối trên sườn đồi Sanchi, du khách có thể tham dự chương trình Trình chiếu Ánh sáng và Âm thanh (Sound and Light Show) bằng tiếng Hindi và tiếng Anh, chiếu sáng toàn bộ khối vòm đá Đại Bảo Tháp số 1 và bốn cổng Torana trong đêm tối để tái hiện câu chuyện từ tiếng gươm giáo trên chiến trường Kalinga tới lời thề hòa bình bằng Pháp (Dhammavijaya) của Đại đế Ashoka.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Đồi Sanchi nằm cách thủ phủ Bhopal của bang Madhya Pradesh khoảng 46 km về phía đông bắc và cách thành phố Vidisha chỉ 10 km về phía tây nam. Từ sân bay Raja Bhoj hoặc ga đường sắt Bhopal Junction (hoặc ga Vidisha, nơi hầu hết các tàu tốc hành tuyến Delhi - Mumbai / Chennai đều dừng đỗ), quý vị đi ô tô hoặc xe buýt theo Quốc lộ 146 mất khoảng một giờ đồng hồ từ Bhopal (hoặc 15 phút từ Vidisha) là tới thẳng chân đồi Sanchi.
- Toạ độ
- 23.4792, 77.7397
Khu di tích trên đồi Sanchi mở cửa đón khách hàng ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Khi đi qua bốn cổng đá Torana để vào bên trong vòng lan can đá của Đại Bảo Tháp số 1 và Bảo tháp số 3, quý vị lưu ý đi nhiễu theo chiều kim đồng hồ (giữ thân tháp ở bên tay phải của mình) đúng theo nghi quỹ tôn kính truyền thống của Phật giáo, không chạm tay hay tì người lên các trụ đá có khắc chữ Brahmi cổ. Ngay dưới chân đồi cạnh cổng mua vé là Bảo tàng Khảo cổ học ASI Sanchi (mở cửa từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, lưu ý riêng Bảo tàng đóng cửa vào ngày thứ Sáu hàng tuần trong khi khu bảo tháp trên đồi vẫn mở cửa tất cả các ngày), nơi quý vị nhất định phải ghé vào để chiêm ngưỡng tận mắt Đầu cột bốn Sư tử đá nguyên bản của Đại đế Ashoka và các hòm đá đựng xá lợi tìm thấy năm 1851.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại Bảo Tháp Sanchi và Quần thể di tích Phật giáo
Contribute photos, information or video for Buddhist Monuments at SanchiThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đức Phật Thích Ca có từng đến Sanchi không và vì sao Đại đế Ashoka lại xây Đại Bảo Tháp tại đây?
Trong suốt cuộc đời hoằng pháp tại Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chưa từng trực tiếp đặt chân đến Sanchi. Sở dĩ Đại đế Ashoka chọn ngọn đồi Sanchi để khởi dựng Đại Bảo Tháp tôn trí xá lợi Phật vào thế kỷ 3 TCN là vì nơi đây nằm ngay cạnh thành phố Vidisha, quê hương của Hoàng hậu Devi (người vợ đầu sùng đạo Phật của vua Ashoka khi ngài còn làm Phó vương tại Ujjain) và là nơi sinh trưởng của hai người con ngài là Thái tử Mahinda và Công chúa Sanghamitta, hai vị sứ giả đã xuất phát từ đồi Sanchi để mang Phật giáo sang truyền bá tại Sri Lanka.
Vì sao trên bốn cổng đá Torana của Đại Bảo Tháp Sanchi không có bức tượng Phật nào mang hình người?
Bốn cổng đá Torana được chạm khắc vào thế kỷ 1 TCN (dưới thời vương triều Satavahana), thuộc giai đoạn nghệ thuật Vô tượng (Aniconic) của Phật giáo nguyên thủy trước khi tượng Phật hình người xuất hiện. Theo quan niệm đương thời, Đức Phật sau khi nhập Niết-bàn đã vượt thoát mọi hình tướng hữu hạn, nên các nghệ nhân chạm ngà voi của thành Vidisha chỉ biểu thị sự hiện diện của Ngài qua các biểu tượng thiêng: con ngựa Kanthaka không người cưỡi (Xuất gia), cội cây Bồ đề và tòa ngồi trống (Thành đạo), bánh xe Pháp luân (Chuyển pháp luân) và ngôi Bảo tháp (Nhập Niết-bàn).
Xá lợi của hai vị Đại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên được tìm thấy ở đâu tại Sanchi?
Vào năm 1851, khi khai quật Bảo tháp số 3 (nằm cách Đại Bảo Tháp số 1 khoảng 50 mét về phía đông bắc), hai nhà khảo cổ người Anh là Alexander Cunningham và F. C. Maisey đã phát hiện hai chiếc hòm đá sa thạch lớn, bên trong chứa hai bình đá ngọc thạch trắng khắc chữ cái Brahmi cổ là Sa (Sariputta) và Ma (Mahamoggallana) đựng xá lợi xương của hai vị đại đệ tử đứng đầu của Đức Phật là Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên. Sau khi được Chính phủ Anh hoàn trả về Ấn Độ, từ tháng 11 năm 1952 xá lợi của hai ngài được tôn trí tại chùa Chetiyagiri Vihara trên đồi Sanchi.
Nếu muốn chiêm bái trực tiếp xá lợi thật của Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thì nên đến Sanchi vào ngày nào?
Ngày thường, hòm xá lợi của hai vị Đại đệ tử được bảo quản trong phòng an ninh tại chùa Chetiyagiri Vihara. Chỉ duy nhất vào hai ngày cuối tuần (thứ Bảy và Chủ nhật cuối cùng) của tháng 11 dương lịch hàng năm, trong kỳ Đại lễ Chiêm bái Xá lợi Chetiyagiri Vihara (Sanchi Mahabodhi Mahotsava), hòm xá lợi thật mới được đưa ra trưng bày công khai và rước đi nhiễu quanh Đại Bảo Tháp để tăng ni và Phật tử khắp thế giới trực tiếp đỉnh lễ.
Hình ảnh Đại Bảo Tháp Sanchi và Trụ đá Sư tử tại đây có liên hệ gì với các biểu tượng quốc gia của Ấn Độ hiện đại?
Đầu cột bốn con Sư tử đá đứng đấu lưng nhau trên Trụ đá Ashoka số 10 tại Sanchi (hiện trưng bày tại Bảo tàng Khảo cổ Sanchi) có thiết kế anh em song sinh với Đầu cột bốn Sư tử Ashoka tại Vườn Lộc Uyển Sarnath (biểu tượng đã được chọn làm Quốc huy của Cộng hòa Ấn Độ). Đồng thời, hình ảnh vòm đá và cổng Torana của Đại Bảo Tháp Sanchi đã được Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) in trang trọng trên mặt sau của tờ tiền giấy mệnh giá 200 Rupee phát hành từ năm 2017.