Đi dọc con đê rợp bóng hàng cây dương dài hơn một cây số nối đất liền gần thành phố Konstanz với vùng nước phẳng lặng của hồ Untersee (nhánh phía tây của Hồ Constance, tiếng Đức gọi là Bodensee, ngay sát biên giới Đức và Thụy Sĩ), quý vị sẽ đặt chân lên một hòn đảo xanh mướt những luống rau, vườn nho và vườn thảo mộc cổ truyền. Giữa khung cảnh yên bình của mặt hồ rộng lớn phản chiếu dãy núi Alpes ở phía nam, ba cụm tháp chuông đá cổ kính vươn lên tại ba điểm đầu, giữa và cuối đảo: Niederzell, Mittelzell và Oberzell. Đó là Đảo Tu viện Reichenau (Klosterinsel Reichenau), một trong những cái nôi văn hiến và tâm linh Công giáo quan trọng nhất của phương Tây thời Trung cổ.
Khởi nguồn từ năm 724 khi vị giám mục truyền giáo lưu động Thánh Pirmin cùng bốn mươi tu sĩ dòng Biển Đức tới khai hoang hòn đảo hoang sơ, Reichenau đã vươn lên thành một đại học đường và xưởng vẽ sách viết tay chiếu sáng (illuminated manuscripts) lừng lẫy suốt thời kỳ Vương triều Carolingian và Đế chế Otto từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 11. Nơi đây vừa lưu giữ thánh cốt của Thánh Sử Marcô cùng Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa Kitô, vừa là quê hương của tập thơ làm vườn Hortulus đầu tiên ở châu Âu và khúc thánh ca kính Đức Mẹ Salve Regina ngân vang khắp hoàn cầu.

IThánh Pirmin, Xưởng Sách Chiếu Sáng Thời Otto Và Các Bậc Đại Học Giả
Trong lịch sử tu trì châu Âu thời sơ kỳ Trung cổ, Tu viện Reichenau (tên tiếng Latinh là Monasterium Augiense hoặc Augia Dives, nghĩa là Đồng Cỏ Trù Phú) đứng ngang hàng với Đan viện Sankt Gallen (Thụy Sĩ) và Đan viện Fulda như ba trụ cột tinh thần của đế quốc Frank. Theo truyền thuyết khai sơn gắn liền với hòn đảo (vốn mang tên cổ là Sintlas-Au hay Sindleozesauua theo tên vị quý tộc người Alemanni là Sintlas sống ở lâu đài Sandeck bên bờ Thụy Sĩ đối diện), khi Thánh Giám mục Pirmin (Heiliger Pirminius) đặt bước chân đầu tiên lên đảo năm 724, hòn đảo còn phủ kín rừng rậm nguyên sinh đầy rắn độc, cóc và côn trùng. Ngay tại nơi bàn chân ngài chạm đất đã vọt lên một mạch nước suối trong lành (nay vẫn còn dấu tích giếng Pirminsbrunnen), còn toàn bộ rắn rết và côn trùng độc hại đã tự động bơi qua mặt hồ rời khỏi đảo suốt ba ngày liền, nhường chỗ cho các đan sĩ dòng Biển Đức phát quang rừng rậm dựng nhà nguyện đầu tiên.
Đời sống của các đan sĩ tại Reichenau tuân theo Tu luật Thánh Biển Đức (Regula Benedicti) với châm ngôn Cầu nguyện và Lao động (Ora et labora). Đối với đan viện trên đảo, lao động tay chân ngoài việc canh tác nông nghiệp và trồng cây thuốc cứu người còn được nâng lên đỉnh cao qua công việc sao chép và vẽ minh họa kinh sách trong phòng chép sách (Scriptorium). Mỗi nét bút lông ngỗng viết bằng mực vàng và bột đá lưu ly (lapis lazuli) trên da dê thuộc (pergament) đều được các tu sĩ coi là một lời kinh suy tôn Lời Chúa, biến cuốn sách Phúc Âm dùng trong phụng vụ thành hiện thân hữu hình của ánh sáng Thiên Quốc.
Dưới sự bảo trợ trực tiếp của các vị hoàng đế vương triều Carolingian (kể từ chuyến viếng thăm của Hoàng đế Charlemagne và Hoàng hậu Hildegard năm 780, tương tự mối gắn kết hoàng gia tại Nhà thờ chính tòa Aachen) và sau đó là các hoàng đế vương triều Otto (Otto I, Otto II, Otto III và Heinrich II), Tu viện Reichenau đã quy tụ những bộ óc uyên bác bậc nhất thời đại:
Thứ nhất là Viện phụ Waldo (cai quản từ năm 786 tới 806, sau làm Viện phụ Đan viện Saint-Denis gần Paris) và Viện phụ Haito (cai quản từ năm 806 tới 823, kiêm Giám mục Basel và sứ thần của Charlemagne tới kinh đô Constantinople năm 811). Chính dưới thời Viện phụ Haito, tại phòng vẽ của Reichenau vào khoảng năm 820 tới 830, các đan sĩ đã phác thảo nên Bản đồ quy hoạch Đan viện Sankt Gallen (St. Galler Klosterplan) gửi tặng Viện phụ Gozbert, bản vẽ kiến trúc trên da cừu duy nhất còn sót lại từ thời sơ kỳ Trung cổ ở phương Tây. Năm 824, đan viện lập cuốn Sổ Huynh Đệ Reichenau (Reichenauer Verbrüderungsbuch), ghi chép gần 40.000 tên người gồm các đan sĩ, vua chúa và ân nhân từ khắp châu Âu để cầu nguyện liên lỉ.
Thứ hai là nhà thơ và học giả Walahfrid Strabo (sinh khoảng năm 808 hoặc 809, mất năm 849, làm Viện phụ Reichenau từ năm 838 tới 849). Từng là gia sư của vua Karl Hói (cháu nội Charlemagne), Walahfrid Strabo đã sáng tác tập thơ tiếng Latinh gồm 444 câu lục ngôn mang tên Liber de cultura hortorum (thường gọi là Hortulus, nghĩa là Khu vườn nhỏ) vào khoảng năm 840. Tác phẩm mô tả tỉ mỉ công dụng chữa bệnh và ý nghĩa biểu tượng của 24 loài thảo mộc trồng trong vườn tu viện Reichenau (từ cây xô thơm, ngải cứu, bạc hà, thì là tới hoa bách hợp và hoa hồng), được giới lịch sử khoa học tôn vinh là cuốn sách làm vườn và dược thảo học đầu tiên của châu Âu thời Trung cổ.
Thứ ba là học giả khuyết tật thiên tài Hermannus Contractus (Hermann der Lahme, tức Chân phước Hermann Người Bại Liệt, sống từ năm 1013 tới 1054). Bị chứng bại liệt bẩm sinh nặng từ nhỏ khiến ông không thể tự đi lại và nói năng rất khó khăn, Hermann được cha là Bá tước Wolferad gửi vào Tu viện Reichenau năm lên bảy tuổi. Ngồi trên chiếc ghế khiêng suốt hơn ba mươi năm tại đan viện, ông đã thông thạo tiếng Latinh, Hy Lạp, Ả Rập, biên soạn bộ Biên niên sử Thế giới (Chronicon) chính xác nhất thế kỷ 11, viết các chuyên luận toán học và chế tạo thước đo sao thiên văn (Astrolabium), sáng tạo hệ thống ký âm nhạc lý và được truyền thống tôn kính là tác giả của hai bài thánh ca kính Đức Mẹ bất hủ là Salve Regina (Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành) và Alma Redemptoris Mater.
Thứ tư là Trường phái Hội họa Reichenau (Reichenauer Malschule) thế kỷ 10 và thế kỷ 11. Đây là xưởng chế tác sách viết tay chiếu sáng phục vụ trực tiếp cho các hoàng đế La Mã Thần thánh và các giáo hoàng, với những kiệt tác vô giá như Sách Tin Mừng của Tổng giám mục Egbert thành Trier (Codex Egberti, gắn liền với giáo phận của Nhà thờ chính tòa Trier), Sách Phúc Âm của Hoàng đế Otto III, Sách Khải Huyền Bamberg và Sách Bài Đọc Phúc Âm của Hoàng đế Heinrich II. Năm 2003, mười bộ sách viết tay tiêu biểu nhất của Trường phái Reichenau đã được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Tư liệu Thế giới thuộc Chương trình Ký ức Thế giới.
Nhiều du khách khi tới thăm đảo thường hỏi vì sao những bộ sách viết tay bằng vàng ròng của Reichenau hiện không còn cất giữ nguyên vẹn tại nhà thờ trên đảo mà lại nằm rải rác tại Thư viện Bang Bayern ở München, Thư viện Bang tại Bamberg, Trier hay Darmstadt. Lý do là các bộ sách ấy ngay từ thời Trung cổ đã được các đan sĩ Reichenau chế tác theo đơn đặt hàng của các vị hoàng đế và giám mục để ban tặng cho các nhà thờ chính tòa lớn khắp đế quốc, và phần thư viện còn lại trên đảo đã được chuyển về Thư viện Bang Baden tại Karlsruhe cùng Thư viện Đại học Heidelberg sau khi tu viện giải thể vào năm 1757 và năm 1803.
IIMười Ba Thế Kỷ Từ Bản Hiến Chương Năm 724 Tới Tiểu Vương Cung Thánh Đường Năm 2024
Lịch sử của Đảo Tu viện Reichenau phản chiếu trọn vẹn sự trỗi dậy của văn minh Kitô giáo phương Tây từ thời kỳ truyền giáo vùng hồ Bodensee cho tới kỷ nguyên hoàng kim của Đế chế La Mã Thần thánh.
- 25 tháng 4 năm 724Thánh Pirmin thành lập Đan viện dòng Biển Đức ReichenauTheo văn kiện hiến chương ngày 25 tháng 4 năm 724, dưới sự bảo trợ của Quản gia cung đình Frank là Karl Martel và Công tước Lantfrid xứ Alemannia, Thánh Giám mục Pirmin cùng 40 đan sĩ dựng tu viện gỗ đầu tiên tại Mittelzell.
- 799 và 816Dựng Nhà thờ Niederzell và cung hiến Vương cung thánh đường MittelzellNăm 799, Giám mục Egino thành Verona lui về ẩn tu ở mũi phía tây đảo và lập Nhà thờ Thánh Phêrô tại Niederzell. Ngày 16 tháng 8 năm 816, Viện phụ Haito cử hành lễ cung hiến Vương cung thánh đường chữ thập Thánh Maria kiểu Carolingian tại Mittelzell.
- 830 và 925Rước Thánh cốt Thánh Sử Marcô và Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa KitôNăm 830, Giám mục Radolt thành Verona đưa thánh cốt của Thánh Sử Marcô từ Venice về Reichenau. Năm 925, nữ quý tộc Swanahild hiến tặng cây thánh giá Byzantine chứa Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa Kitô (Heilig-Blut-Reliquie) cho đan viện.
- 888 và khoảng 896An táng Hoàng đế Karl III và khởi dựng Nhà thờ Thánh Georg tại OberzellTháng 1 năm 888, Hoàng đế Karl III (Karl Béo, cháu chắt của Charlemagne) qua đời và được an táng trong gian cung thánh nhà thờ Mittelzell. Khoảng năm 888 tới 900, Viện phụ Hatto III cho xây dựng Nhà thờ Thánh Georg ở Oberzell để tôn trí thánh tích hộp sọ Thánh Georg nhận từ Rôma năm 896.
- 24 tháng 4 năm 1048Cung hiến đại thánh đường dưới thời Viện phụ Berno và Hoàng đế Heinrich IIIViện phụ Berno hoàn tất việc mở rộng cánh ngang phía tây và tháp chuông lớn của nhà thờ Mittelzell, cử hành đại lễ cung hiến trước sự hiện diện của Hoàng đế La Mã Thần thánh Heinrich III. Cũng trong giai đoạn này, học giả Hermannus Contractus hoàn thành các trước tác khoa học và thánh ca.
- 1757 và 1803Tu viện bị giải thể trong phong trào thế tục hóaSau khi sáp nhập vào Giáo phận Konstanz từ năm 1540, cộng đoàn đan viện bị giải thể năm 1757 và những tu sĩ cuối cùng rời đảo vào năm 1803, song cả ba ngôi nhà thờ cùng kho báu thánh tích vẫn được giáo xứ địa phương gìn giữ nguyên vẹn.
- 2000, 2001 và 2003Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và hồi sinh đời sống đan tu Biển ĐứcNăm 2000, UNESCO công nhận Đảo Tu viện Reichenau là Di sản Thế giới (mã số 974). Năm 2001, sau gần 250 năm gián đoạn, các đan sĩ dòng Biển Đức trở lại lập cộng đoàn Cella Sankt Benedikt tại Niederzell. Năm 2003, mười bộ sách viết tay chiếu sáng Reichenau được ghi danh Ký ức Thế giới UNESCO.
- Tháng 4 năm 2024Kỷ niệm 1.300 năm thành lập và nâng lên hàng Tiểu vương cung thánh đườngNhân đại lễ kỷ niệm 1.300 năm Thánh Pirmin khai sơn đan viện (724 tới 2024), Giáo hoàng Phanxicô ban sắc chỉ nâng Nhà thờ chính tòa cũ Thánh Maria và Thánh Marcô tại Mittelzell lên phẩm trật Tiểu vương cung thánh đường (Basilica minor).
Khi khảo cứu lịch sử xây dựng và niên đại bích họa của Nhà thờ Thánh Georg tại Oberzell, các nguồn sử liệu ghi nhận hai điểm thảo luận học thuật thú vị. Thứ nhất, về người sáng lập nhà thờ: biên niên sử tu viện thế kỷ 15 của tu sĩ Gallus Oehem chép rằng Nhà thờ Thánh Georg đã tồn tại từ thời Viện phụ Ruadhelm (838 tới 842) và do Viện phụ Haito (806 tới 823) khởi dựng, trong khi giới khảo cổ học và sử học hiện đại thống nhất xác định người xây dựng thực sự là Viện phụ Hatto III (cai quản từ năm 888 tới 913, đồng thời là Tổng giám mục Mainz) vào khoảng năm 888 tới 900, gắn với sự kiện ông nhận thánh tích thủ cấp Thánh Georg từ Giáo hoàng Formosus tại Rôma năm 896. Thứ hai, về niên đại của tám bức bích họa phép lạ của Chúa Kitô trong lòng nhà thờ Oberzell: một trường phái các nhà lịch sử nghệ thuật xếp niên đại bích họa ngay vào cuối thế kỷ 9 (ngay sau khi xây nhà thờ thời Hatto III), trong khi một trường phái khác đối chiếu phong cách hội họa với các sách viết tay thời Otto và xác định bích họa được vẽ vào nửa sau thế kỷ 10 (khoảng năm 950 tới trước năm 1000). Dù theo mốc nào, đây vẫn là chu kỳ bích họa tường hoàn chỉnh duy nhất còn tồn tại từ trước năm 1000 ở phía bắc dãy Alpes.
IIIBa Ngôi Nhà Thờ Romanesque Thế Kỷ 9 Tới 11 Và Kho Báu Thánh Tích
Giá trị độc nhất vô nhị khiến UNESCO ghi danh toàn bộ Đảo Tu viện Reichenau làm Di sản Thế giới nằm ở chỗ: trên một hòn đảo nhỏ dài khoảng 4,3 cây số và rộng 1,5 cây số, ba ngôi nhà thờ thuộc ba khu định cư Mittelzell (trung tâm đảo), Oberzell (đầu phía đông đảo) và Niederzell (mũi phía tây bắc đảo) đã bảo tồn nguyên vẹn ba giai đoạn phát triển liên tiếp của kiến trúc nhà thờ thời kỳ Carolingian, thời kỳ Otto và thời kỳ Romanesque từ thế kỷ 9 tới thế kỷ 11.
Nhà thờ chính của đan viện, khởi dựng bằng đá dưới thời Viện phụ Haito (cung hiến năm 816, hiện còn giữ nguyên gian giao cắt và cánh ngang phía đông thời Carolingian), mở rộng cánh ngang phía tây và tháp mặt tiền bề thế bằng đá sa thạch xen kẽ dưới thời Viện phụ Berno (cung hiến năm 1048). Bên trong nổi bật với hệ kết cấu mái vòm gỗ sồi lộ thiên hình sống thuyền úp ngược tuyệt đẹp làm từ năm 1236 tới 1237, gian cung thánh Hậu Gothic (1443 tới 1477) nơi có bia mộ Hoàng đế Karl III (năm 888) và cánh tu viện liền kề nay là tòa thị chính xã đảo.
Nằm trong phòng thánh của Vương cung thánh đường Mittelzell, lưu giữ cây thánh giá Byzantine chứa Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa Kitô (Heilig-Blut-Reliquie, đưa về đảo năm 925, lồng trong bình thánh tích Baroque bằng bạc mạ vàng đính đá quý năm 1738), Hòm thánh cốt bằng bạc mạ vàng của Thánh Sử Marcô (Markusschrein, chế tác khoảng năm 1303), Hòm thánh Thánh Januarius, Thánh Fortunata, Thánh Pelagius và chiếc bình đá cẩm thạch từ thế kỷ 5 từng được tôn kính là một trong sáu chum nước tại Tiệc Cưới Cana.
Tọa lạc trên một gò đồi nhỏ ở mũi phía đông đảo, khởi dựng khoảng năm 888 tới 900 theo kiểu vương cung thánh đường ba gian dọc tiền Romanesque có tháp vuông trên gian giao cắt, hậu cung tròn phía tây (thêm vào khoảng năm 925 tới 945) và tiền sảnh thấp đầu thế kỷ 11 có nhà nguyện Thánh tổng lãnh thiên thần Micae ở tầng trên. Dưới gian cung thánh phía đông là hầm mộ (Krypta) hình vuông cổ kính có bốn cây cột đá đỡ vòm, nơi từng đặt thánh tích thủ cấp Thánh Georg.
Trên hai bức tường cao của gian chính (Langhaus) dài khoảng 19 mét tại Nhà thờ Thánh Georg là tám bức bích họa khổ lớn (mỗi bức dài hơn 4 mét) vẽ từ cuối thế kỷ 9 hoặc thế kỷ 10, đóng khung bằng đường diềm hình học giả 3D (Mäander) kèm câu thơ chú giải tiếng Latinh (Tituli). Tường phía bắc (phía nhìn ra mặt nước hồ) vẽ 4 phép lạ gắn với nước và ánh sáng: Trừ quỷ ở Gerasa, Chữa người mắc bệnh phù thũng, Dẹp yên bão tố trên biển hồ Galilê và Chữa người mù từ thuở mới sinh. Tường phía nam (phía nghĩa trang cũ) vẽ 4 phép lạ chữa lành và phục sinh kẻ chết: Chữa người phong hủi, Làm sống lại chàng thanh niên thành Nain, Làm sống lại con gái ông Giairô và Làm cho Ladarô từ cõi chết sống lại.
Đứng sát mép nước ở mũi phía tây bắc đảo, khởi thủy là nhà thờ do Giám mục Egino thành Verona xây dựng năm 799 (mộ của Chân phước Egino hiện nằm ở gian cung thánh). Ngôi nhà thờ hiện tại là một vương cung thánh đường ba gian không có cánh ngang (querhauslose Säulenbasilika) xây lại khoảng năm 1080 tới 1134 trên nền móng cũ, có hai tháp chuông đôi ở phía đông. Trong hốc hậu cung chính còn bảo tồn bức bích họa Romanesque cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 tuyệt đẹp vẽ Chúa Kitô Ngự Trị Trong Vinh Quang (Majestas Domini) giữa biểu tượng bốn Thánh Sử, mười hai Tông Đồ và các ngôn sứ.
Ngay sát bên tường phía bắc gian cung thánh của Vương cung thánh đường Mittelzell là khu vườn thảo mộc tái hiện nguyên bản 24 loài cây thuốc được Viện phụ Walahfrid Strabo ca ngợi trong thi phẩm Hortulus năm 840, đặt cạnh tòa nhà khung gỗ cổ của Bảo tàng Reichenau (Museum Reichenau) nơi trưng bày các bản sao sách viết tay chiếu sáng và hiện vật khảo cổ của đan viện.
Khi đứng ngắm Vương cung thánh đường Thánh Maria và Thánh Marcô tại Mittelzell từ phía tây, nhiều người ngạc nhiên khi thấy mặt tiền phía tây (Westwerk) có một tòa tháp vuông đồ sộ xây bằng những hàng đá sa thạch màu vàng nhạt xen kẽ với các dải đá cuội sẫm màu tạo thành những vạch ngang giống kiến trúc vùng Lombardia (Bắc Ý). Thực tế, các vị viện phụ và giám mục của Reichenau thời Carolingian và thời Otto như Egino, Radolt, Haito và Berno có mối giao hảo rất mật thiết với các thành phố miền bắc nước Ý như Verona, Pavia và Venice, nên họ đã đưa các thợ đá và họa sĩ bích họa vùng bên kia dãy Alpes vượt đèo sang làm việc ngay trên đảo hồ Bodensee.
IVThế Đất Và Hướng
Cần nói rõ ngay từ đầu: Công giáo không dạy phong thủy Á Đông. Việc Thánh Pirmin chọn đảo Reichenau làm nơi lập đan viện năm 724 xuất phát từ truyền thống ẩn tu biệt lập trên đảo của các tu sĩ Ireland và Frank thời sơ kỳ Trung cổ (tương tự đảo Lindisfarne hay đảo Iona), còn các nhà thờ đều định hướng theo quy tắc phụng vụ Kitô giáo. Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện để bạn đọc có thêm một lăng kính thưởng lãm cảnh quan.
Đảo Tu viện Reichenau tọa lạc tại tọa độ trung tâm 47,6989 độ vĩ bắc, 9,0625 độ kinh đông, nằm trọn giữa lòng hồ Untersee (phần hồ phía tây của đại hồ Bodensee / Hồ Constance, ở độ cao mặt nước khoảng 395 mét so với mực nước biển). Dòng sông Rhine (Rhein) hùng vĩ sau khi chảy từ dãy Alpes qua hồ lớn Obersee và thành phố Konstanz (qua đoạn sông ngắn Seerhein) đã đổ vào vùng hồ Untersee, chia thành các nhánh nước bao bọc trọn vẹn bốn mặt của đảo Reichenau: phía bắc là vùng vịnh Gnadensee (nghĩa là Hồ Ân Sủng) và vùng đầm lầy bảo tồn thiên nhiên Wollmatinger Ried, phía nam là dòng chảy chính của sông Rhine và hồ Zeller See ngăn cách với dãy đồi Thurgau (Thụy Sĩ). Trong phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền, một hòn đảo đất tốt nổi lên giữa lòng hồ nước ngọt rộng lớn nhưng kín gió, có dòng sông lớn chảy chậm qua rồi tụ lại thành đầm hồ trước khi thoát ra ở Stein am Rhein được gọi là thế thủy nhiễu châu đảo, minh đường tứ tụ (nước ôm lấy đảo ngọc, bốn mặt đều là minh đường tụ thủy).
Xét về long mạch và địa hình nội đảo, đảo Reichenau vốn là một dải đồi băng tích (Moräne) hình thoi kéo dài theo trục đông nam sang tây bắc, có sống đất ở giữa nhô cao dần lên tới đỉnh đồi Hochwart (cao 438,7 mét so với mực nước biển, tức cao hơn mặt hồ khoảng 43 mét). Nhờ khối nước khổng lồ của hồ Bodensee đóng vai trò điều hòa nhiệt độ và phản xạ ánh nắng mặt trời cộng với gió ấm Föhn thổi từ dãy Alpes xuống, hòn đảo có tiểu khí hậu ôn hòa ấm áp đặc biệt, giúp cây nho, rau xanh và thảo dược sinh trưởng tốt tươi quanh năm, đúng như tên gọi Reichenau (Thảo nguyên Trù phú).
Điều kỳ diệu trong quy hoạch không gian tâm linh của các đan sĩ thời Trung cổ là thế chân vạc ba ngôi nhà thờ trấn giữ ba huyệt điểm dọc theo sống đảo: ở mũi cực đông nam (nơi đón con đê nối từ đất liền vào đảo) là Nhà thờ Thánh Georg tại Oberzell đứng trên một gò đồi nhỏ sát mặt hồ như một tiền đồn bảo vệ cửa ngõ, ở chính giữa phần bụng đảo rộng và bằng phẳng nhất là Vương cung thánh đường Thánh Maria và Thánh Marcô tại Mittelzell đóng vai trò trung cung chính huyệt, và ở mũi cực tây bắc vươn ra mặt nước hồ Zeller See là Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô tại Niederzell giữ vị trí hậu chẩm khóa thủy khẩu. Cả ba ngôi nhà thờ đều tuân thủ nghiêm ngặt trục định hướng tây sang đông truyền thống, tạo nên một trục linh thiêng xuyên suốt chiều dài hòn đảo giữa vùng trời nước mênh mông.
VBa Đại Lễ Kiệu Thánh Tích Độc Bản Trên Đảo (Inselfeiertage)
Khác với hầu hết các vùng khác ở nước Đức, cộng đồng cư dân trên Đảo Reichenau suốt hàng trăm năm qua vẫn duy trì ba Ngày Đại Lễ Riêng Của Đảo (Reichenauer Inselfeiertage) tính theo dương lịch và lịch phụng vụ Công giáo. Vào ba ngày này, toàn bộ trường học, cửa hàng và cơ sở làm việc trên đảo đều nghỉ lễ, cư dân mặc trang phục truyền thống, đội cảnh vệ danh dự (Historische Bürgerwehr) hộ tống các hòm thánh tích bằng bạc mạ vàng rước dọc theo các con đường trang hoàng cờ hoa trên đảo.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ trên đảo | Nội dung nghi lễ và rước thánh tích |
|---|---|---|---|
| Ngày 25 tháng 4 hằng năm | Dương lịch | Đại lễ Thánh Sử Marcô (Markusfest) | Ngày lễ trọng đầu tiên trong năm của đảo, kỷ niệm việc rước thánh cốt của Thánh Sử Marcô từ Venice về Reichenau năm 830. Sau đại lễ tại Vương cung thánh đường Mittelzell, Hòm thánh Thánh Marcô (từ đầu thế kỷ 14) cùng các hòm thánh tích khác được kiệu đi dọc đường lớn của đảo để cầu xin mùa màng tốt tươi. |
| Ngày Thứ Hai ngay sau Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi (cuối tháng 5 hoặc tháng 6) | Dương lịch (theo chu kỳ Phục Sinh) | Đại lễ Bảo vật Giọt Máu Thánh (Heilig-Blut-Fest) | Ngày lễ thiêng liêng và đông đảo nhất trên đảo, tôn kính Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa Kitô được đưa về đảo năm 925. Ngay từ chiều Chủ nhật hôm trước đã có nghi thức trưng bày thánh tích, sáng Thứ Hai cử hành thánh lễ đại trào và kiệu bình thánh tích Giọt Máu Thánh đi qua các con đường phủ thảm hoa tươi. |
| Ngày 15 tháng 8 hằng năm | Dương lịch | Đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Mariä Himmelfahrt) | Lễ bổn mạng gốc của Vương cung thánh đường Thánh Maria tại Mittelzell (cung hiến ngày 16 tháng 8 năm 816). Nổi bật với tục làm phép các bó thảo mộc thơm (Kräuterbüschel) hái từ vườn đảo theo truyền thống từ thời Viện phụ Walahfrid Strabo và cuộc rước kiệu trọng thể. |
| Ngày 3 tháng 11 hằng năm | Dương lịch | Lễ kính Thánh Giám mục Pirmin (Pirminsfest) | Ngày lễ tưởng niệm Thánh Pirmin, vị tổ sư khai sơn Đan viện Reichenau năm 724, với thánh lễ cầu nguyện và các hoạt động văn hóa lịch sử trên đảo. |
Đối với các tín hữu và du khách người Việt sinh sống tại bang Baden-Württemberg (như ở Stuttgart, Freiburg, Ulm, Konstanz) cũng như tại miền bắc Thụy Sĩ gần đó, Đảo Tu viện Reichenau là điểm hành hương và tham quan văn hóa rất thuận tiện trong các dịp lễ mùa xuân và mùa hè, thường kết hợp cùng chuyến viếng thăm Đền thánh Đức Mẹ Birnau bên bờ bắc hồ Bodensee hoặc Đền thánh Đức Mẹ Altötting ở bang Bayern.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Từ thành phố Konstanz, quý vị có thể đi tàu hỏa tuyến Seehas tới ga Reichenau (Baden) nằm trên đất liền rồi bắt xe buýt số 7372 chạy qua con đê dài 1,3 cây số vào thẳng trung tâm đảo (Mittelzell). Vào mùa xuân tới mùa thu, quý vị cũng có thể đi tàu thủy trên hồ Untersee từ Konstanz, Radolfzell hoặc thị trấn cổ Stein am Rhein (Thụy Sĩ) cập bến tàu ở phía nam đảo Reichenau.
- Toạ độ
- 47.6989, 9.0625
Để bảo vệ lớp màu khoáng chất tự nhiên hơn một nghìn năm tuổi của tám bức bích họa phép lạ Chúa Kitô tại Nhà thờ Thánh Georg ở Oberzell khỏi tác động của độ ẩm hơi thở và ánh sáng, phần lòng nhà thờ chính chỉ đón số lượng khách giới hạn theo các khung giờ tham quan bảo tồn quy định và tuyệt đối cấm chụp ảnh hoặc chạm tay vào tường vữa cổ (quý vị vẫn có thể vào tiền sảnh ngắm qua cửa kính chắn). Tại Vương cung thánh đường Thánh Maria và Thánh Marcô ở Mittelzell, xin quý vị giữ trật tự khi tham quan Kho báu Thánh tích (Schatzkammer) và dành thời gian dạo bước trong khu vườn thảo mộc Hortulus ngay bên hông nhà thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đảo Tu viện Reichenau trên Hồ Constance (Klosterinsel Reichenau)
Contribute photos, information or video for Monastic Island of ReichenauThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đảo Tu viện Reichenau được ai sáng lập vào năm nào?
Tu viện dòng Biển Đức trên đảo Reichenau được Thánh Giám mục truyền giáo lưu động Pirmin (Saint Pirminius) cùng 40 đan sĩ sáng lập vào ngày 25 tháng 4 năm 724 dưới sự bảo trợ của Quản gia cung đình Frank là Karl Martel và Công tước Lantfrid xứ Alemannia.
Ba ngôi nhà thờ cổ thuộc Di sản Thế giới UNESCO trên đảo Reichenau là những nhà thờ nào?
Đó là ba ngôi nhà thờ Romanesque đại diện cho kiến trúc thế kỷ 9 tới thế kỷ 11 tại ba khu vực của đảo: Vương cung thánh đường Thánh Maria và Thánh Marcô tại Mittelzell (cung hiến năm 816 và 1048), Nhà thờ Thánh Georg tại Oberzell (cuối thế kỷ 9) và Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô tại Niederzell (khởi lập năm 799, xây lại khoảng năm 1080 tới 1134).
Vì sao bích họa tại Nhà thờ Thánh Georg ở Oberzell lại nổi tiếng toàn châu Âu?
Tám bức bích họa khổ lớn trên tường gian chính của Nhà thờ Thánh Georg tại Oberzell (mô tả tám phép lạ chữa lành, dẹp yên bão biển và làm kẻ chết sống lại của Chúa Kitô) được vẽ vào cuối thế kỷ 9 hoặc thế kỷ 10, là chu kỳ bích họa tường nhà thờ hoàn chỉnh duy nhất còn tồn tại từ trước năm 1000 ở phía bắc dãy Alpes.
Những bảo vật thánh tích nào đang được lưu giữ tại Vương cung thánh đường Mittelzell?
Kho báu Thánh tích (Schatzkammer) của Vương cung thánh đường Mittelzell lưu giữ cây thánh giá Byzantine chứa Bảo vật Giọt Máu Thánh Chúa Kitô (đưa về đảo năm 925), Hòm thánh cốt bằng bạc mạ vàng của Thánh Sử Marcô (đưa từ Venice về đảo năm 830, hòm thánh chế tác khoảng năm 1303) cùng nhiều hòm thánh tích cổ thế kỷ 14.
Tập thơ Hortulus và bài thánh ca Salve Regina gắn liền với những nhân vật nào của Reichenau?
Tập thơ làm vườn và thảo dược học đầu tiên của châu Âu thời Trung cổ là Hortulus (mô tả 24 loài cây thuốc năm 840) do Viện phụ Walahfrid Strabo của Reichenau sáng tác, còn bài thánh ca kính Đức Mẹ nổi tiếng Salve Regina gắn liền với học giả khuyết tật thiên tài của đan viện là Chân phước Hermannus Contractus (1013 tới 1054).