Đứng tại góc đông bắc của quảng trường Lapangan Banteng ở trung tâm quận Sawah Besar, thủ đô Jakarta, du khách bắt gặp một khung cảnh kiến trúc vô cùng ấn tượng: trong khi ở phía bên tây con đường là mái vòm cầu đường kính bốn mươi lăm mét của Thánh đường Hồi giáo Istiqlal, thì ngay phía bên đông là mặt tiền gạch đỏ trầm mặc của một ngôi thánh đường cổ mang phong cách Tân Gothic châu Âu với ba ngọn tháp kim loại trắng thanh mảnh đâm vút lên trời cao sáu mươi mét.
Công trình ấy là Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời, Jakarta (tiếng Indonesia: Gereja Katedral Santa Maria Diangkat ke Surga, tiếng Hà Lan: De Kerk van Onze Lieve Vrouwe ten Hemelopneming, thường gọi tắt là Nhà thờ chính tòa Jakarta hay Jakarta Cathedral). Được khởi dựng lại từ năm 1891 và thánh hiến vào năm 1901 trên nền ngôi nhà thờ cũ thế kỷ 19, đây là nhà thờ mẹ (ecclesia matrix) của Tổng giáo phận Công giáo La Mã Jakarta, nơi lưu giữ lịch sử hơn hai trăm năm truyền giáo tại quần đảo Đông Ấn và là một kiệt tác kỹ thuật xây dựng thích ứng với vùng đất nhiệt đới hay có động đất của đảo Java.

ITước Hiệu Đức Mẹ Lên Trời Và Khởi Nguyên Cộng Đồng Công Giáo Tại Batavia
Nhà thờ chính tòa Jakarta thuộc Giáo hội Công giáo La Mã, là nơi đặt ngai tòa giám mục (Cathedra) của Tổng giám mục Tổng giáo phận Jakarta. Thánh đường được dâng hiến dưới tước hiệu Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời (Santa Maria Diangkat ke Surga hay Beatæ Mariæ Virginis in Cœlum Assumptæ), mừng kính vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. Ngay phía trên cổng chính mặt tiền phía tây nam và trong khuôn viên nhà thờ, hình tượng Đức Mẹ Maria luôn hiện diện như đấng bảo trợ cho các giáo dân vượt qua những biến thiên lịch sử của vùng đất Batavia (tên gọi cũ của Jakarta thời thuộc địa Hà Lan).
Theo sử liệu của Tổng giáo phận Jakarta và Bảo tàng Nhà thờ chính tòa, suốt gần hai thế kỷ dưới quyền kiểm soát của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC, từ năm 1619 tới cuối thế kỷ 18), đạo Công giáo La Mã bị cấm hoạt động công khai tại Batavia vì chính quyền VOC chỉ cho phép Giáo hội Cải cách Hà Lan (Tin Lãnh Calvinist) hành đạo. Phải tới năm 1806, khi Louis Bonaparte (em trai Hoàng đế Napoléon, một người Công giáo) lên làm Vua xứ Hà Lan và bổ nhiệm Toàn quyền Herman Willem Daendels sang cai trị Đông Ấn, quyền tự do tôn giáo mới được ban hành. Ngày 8 tháng 5 năm 1807, Giáo hoàng Piô VII chính thức thiết lập Phủ Doãn Tông Tòa Batavia (tiền thân của Tổng giáo phận Jakarta), và hai linh mục người Hà Lan đầu tiên là Jacobus Nelissen cùng Lambertus Prinsen đã đặt chân tới Batavia vào tháng 4 năm 1808 để lập nên giáo xứ đầu tiên.
Khi Tổng thống Sukarno quyết định chọn khu đất pháo đài Wilhelmina ngay trước mặt Nhà thờ chính tòa Jakarta để xây dựng Đại thánh đường Hồi giáo Istiqlal vào thập niên 1950, nhiều người từng băn khoăn về khoảng cách quá gần giữa hai trung tâm tôn giáo lớn nhất nước. Thế nhưng suốt hơn nửa thế kỷ qua, hai công trình đã trở thành hai người láng giềng gắn bó mật thiết: vào ngày lễ Idul Fitri hay Idul Adha của Hồi giáo, nhà thờ Công giáo điều chỉnh giờ lễ và mở toàn bộ sân nhà thờ cho tín đồ Hồi giáo gửi xe, ngược lại vào đêm lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh, Thánh đường Istiqlal mở toàn bộ tầng hầm và sân bãi đón xe cho giáo dân Công giáo đi lễ, nối liền qua Đường hầm Hữu nghị (Terowongan Silaturahmi) dưới lòng đất.
IITừ Vụ Sập Mái Nhà Thờ Cũ Năm 1890 Tới Công Trình Tân Gothic Hoàn Thành Năm 1901
Trước khi có diện mạo ba tháp sắt rèn uy nghiêm như hiện nay, ngôi nhà thờ đầu tiên của giáo phận Batavia đã trải qua những vụ hỏa hoạn và sập đổ buộc các giáo sĩ Dòng Tên và kiến trúc sư Hà Lan phải tìm ra giải pháp kết cấu hoàn toàn mới cho vùng khí hậu nhiệt đới Java.
- 1807 tới 1810Thành lập Phủ Doãn Tông Tòa Batavia và nhà nguyện đầu tiênSau khi Giáo hoàng Piô VII lập Phủ Doãn Tông Tòa Batavia năm 1807, linh mục Jacobus Nelissen cử hành Thánh lễ đầu tiên năm 1808 và nhận một ngôi nhà nguyện nhỏ bằng gỗ ở vùng Senen năm 1810, nhưng ngôi nhà nguyện này bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn lớn năm 1826.
- 6 tháng 11 năm 1829Thánh hiến ngôi nhà thờ đầu tiên tại khu vực Lapangan Banteng hiện nayCộng đồng Công giáo mua lại khu dinh thự cũ của Tướng Hendrick Merkus de Kock ở góc đông bắc quảng trường Waterloo (nay là Lapangan Banteng), cải tạo thành nhà thờ dài 35 bước, rộng 17 bước và được linh mục Lambertus Prinsen thánh hiến ngày 6 tháng 11 năm 1829.
- 9 tháng 4 năm 1890Ngôi nhà thờ năm 1829 bất ngờ đổ sập sau lễ Phục SinhDù đã được gia cố năm 1859, vào sáng ngày 9 tháng 4 năm 1890 (nhiều tài liệu cũ chép nhầm thành ngày 31 tháng 5 năm 1890, tức chỉ ba ngày sau đại lễ Phục Sinh năm 1890), phần mái và cột của ngôi nhà thờ cũ bất ngờ đổ sập hoàn toàn, rất may sự cố xảy ra khi không có giáo dân bên trong nên không ai thiệt mạng.
- 1891 tới 1894Linh mục kiến trúc sư Antonius Dijkmans SJ thiết kế và đặt đá góc tườngGiám mục Walterus Staal SJ giao cho linh mục Dòng Tên kiêm kiến trúc sư Antonius Dijkmans SJ (học trò của bậc thầy kiến trúc Tân Gothic Hà Lan Pierre Cuypers) thiết kế nhà thờ mới. Lễ đặt viên đá đầu tiên diễn ra năm 1891, nhưng công trình phải tạm dừng năm 1892 do thiếu kinh phí và cha Dijkmans lâm bệnh qua đời tại Hà Lan năm 1894.
- 1899 tới 21 tháng 4 năm 1901Kiến trúc sư Marius J. Hulswit hoàn thiện ba tháp sắt và lễ thánh hiếnDưới thời Giám mục Edmundus Sybradus Luypen SJ, kiến trúc sư người Hà Lan Marius J. Hulswit được mời tiếp quản công trình từ ngày 16 tháng 1 năm 1899, chỉnh sửa kết cấu mái và dựng 3 ngọn tháp bằng sắt rèn. Ngày 21 tháng 4 năm 1901, Giám mục Luypen cử hành đại lễ thánh hiến Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời.
- 1988, 1989 và 2024Đón tiếp hai vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II (1989) và Phanxicô (2024)Sau đợt trùng tu năm 1988 và thành lập Bảo tàng Nhà thờ chính tòa năm 1991, thánh đường đã vinh dự đón Giáo hoàng Gioan Phaolô II tới dâng lễ vào tháng 10 năm 1989 và đón Giáo hoàng Phanxicô gặp gỡ hàng giáo phẩm Indonesia vào ngày 4 tháng 9 năm 2024.
Khi đối chiếu các nguồn tư liệu về vụ sập ngôi nhà thờ cũ năm 1890, cần lưu ý một chi tiết khác biệt về ngày tháng: một số bài viết trực tuyến ghi nhà thờ cũ sập vào ngày 31 tháng 5 năm 1890 và nói rằng đó là ba ngày sau lễ Phục Sinh. Tuy nhiên, tra cứu lịch phụng vụ năm 1890 cho thấy Chúa nhật Phục Sinh năm 1890 rơi vào ngày 6 tháng 4 năm 1890, nên ba ngày sau lễ Phục Sinh chính xác là ngày 9 tháng 4 năm 1890 (như hồ sơ gốc tiếng Hà Lan của Giáo phận Batavia ghi nhận). Thư viện ghi rõ cả hai mốc ngày này để người đọc tiện kiểm chứng.
IIIKết Cấu Gạch Đỏ, Vòm Gỗ Tếch Và Ba Ngọn Tháp Sắt Rèn Chống Động Đất
Rút kinh nghiệm sâu sắc từ vụ sập mái năm 1890 và điều kiện địa chất nền đất yếu thường xuyên có chấn động địa chấn của đảo Java, cha Antonius Dijkmans SJ và kiến trúc sư Marius J. Hulswit đã không dùng đá tảng nặng nề như các nhà thờ Gothic ở châu Âu. Thay vào đó, công trình mang phong cách Tân Gothic (Neo-Gothic) được xây bằng tường gạch đỏ dày trát vữa giả đá, kết hợp với hệ vòm trần bằng gỗ tếch (kayu jati, loại gỗ quý vừa nhẹ vừa chịu lực uốn rất tốt của rừng nhiệt đới Java) và ba ngọn tháp chóp nhọn chế tạo bằng khung sắt rèn đúc sẵn từ Hà Lan đưa sang lắp ghép.
Điểm nhận diện độc nhất vô nhị của Nhà thờ chính tòa Jakarta là 3 ngọn tháp kim loại màu trắng thanh thoát thay vì tháp đá xây đặc. Hai ngọn tháp ở mặt tiền phía tây nam cao 60 mét tính từ mặt đất: ngọn tháp bên bắc (bên trái khi nhìn từ ngoài vào) mang tên Turris Davidica (Tháp Vua Đavít, biểu tượng của sức mạnh che chở), còn ngọn tháp bên nam (bên phải) mang tên Turris Eburnea (Tháp Ngà Voi, tước hiệu trong Kinh Cầu Đức Bà chỉ sự thanh khiết của Đức Mẹ). Trên tháp Turris Eburnea gắn chiếc đồng hồ cổ sản xuất năm 1900 của hãng Van Arcken và treo 3 quả chuông đồng đúc tại Hà Lan mang tên Wilhelmina (quả lớn nhất do ông Ch. du Perron tặng), Franciscus Xaverius và Carolus. Ngay tại giao điểm chữ thập ở trung tâm mái nhà thờ vươn lên ngọn tháp thứ ba cao 45 mét mang tên Angelus Dei (Thiên Thần của Chúa), trên đỉnh gắn thánh giá và con gà trống đo gió bằng kim loại.
Nhà thờ có mặt bằng hình chữ thập Latinh dài 60 mét, rộng 20 mét ở gian giữa (và rộng 30 mét tại cánh ngang transept), chiều cao từ sàn lên đỉnh vòm gỗ tếch là 17 mét. Ngay phía trên vòm cổng chính ở mặt tiền phía tây nam đặt pho tượng Đức Mẹ Maria bằng đá trắng, bên dưới khắc dòng chữ Latinh trích từ Kinh Tiền Tụng lễ Đức Mẹ: Beata me dicent omnes generationes (Muôn thế hệ sẽ khen tôi có phúc, Luca 1:48).
Bên trong cung thánh là ba bàn thờ chạm khắc tinh xảo chuyển từ Hà Lan sang: bàn thờ chính (High Altar) ở giữa được chế tác từ giữa thế kỷ 19 (vốn thuộc về một tu viện Dòng Tên tại Groningen, Hà Lan trước khi tặng cho Batavia năm 1891) chạm khắc các hoạt cảnh cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và đặt thánh tích của các thánh tử đạo, bàn thờ bên trái kính Đức Mẹ Maria và bàn thờ bên phải kính Thánh Giuse. Dọc hai bên hành lang có 14 Chặng Đàng Thánh Giá vẽ trên gạch men theo phong cách Tân Gothic, bản sao tác phẩm điêu khắc Pietà (Đức Mẹ sầu bi ôm xác Chúa Giêsu) của Michelangelo, tòa giảng gỗ hình đài sen vòm cuốn chạm hình Chúa Giêsu giảng đạo và cây đàn đại phong cầm (Pipe Organ) lớn chế tạo tại Bỉ năm 1949 (lắp đặt lại năm 1988) đặt trên gác đàn phía trên cổng vào.
Được linh mục Rudolph Kurris SJ sáng lập và khánh thành ngày 28 tháng 4 năm 1991 (hiện nay mở rộng sang tòa nhà di sản cạnh nhà thờ), Bảo tàng Nhà thờ chính tòa lưu giữ hàng trăm hiện vật quý giá từ thời hai linh mục đầu tiên năm 1808, bao gồm các bản thảo chép tay bằng tiếng Latinh và tiếng Hà Lan, lễ phục cổ, chén thánh bạc, gậy mục vụ của các đời Giám mục Batavia, mô hình nhà thờ cũ trước khi sập năm 1890 và những kỷ vật từ chuyến viếng thăm của Giáo hoàng Phaolô VI (1970) cùng Giáo hoàng Gioan Phaolô II (1989).
| Hạng mục | Thông số kỹ thuật và chất liệu | Nguồn đối chiếu |
|---|---|---|
| Kích thước mặt bằng | Dài 60 m, rộng thân chính 20 m (cánh ngang rộng 30 m), cao trần 17 m | Ban quản lý Nhà thờ chính tòa Jakarta (katedraljakarta.or.id) |
| Tháp mặt tiền bên bắc (Turris Davidica) | Cao 60 m, khung sắt rèn đúc từ Hà Lan | Hồ sơ Di sản Văn hóa Jakarta, Wikipedia |
| Tháp mặt tiền bên nam (Turris Eburnea) | Cao 60 m, khung sắt rèn, gắn đồng hồ năm 1900 và 3 chuông đồng | Bảo tàng Nhà thờ chính tòa Jakarta |
| Tháp trung tâm giao điểm (Angelus Dei) | Cao 45 m tính từ mặt đất, đỉnh gắn thánh giá và gà đo gió | Ban quản lý Nhà thờ chính tòa Jakarta |
| Vật liệu kết cấu chính | Tường gạch đỏ dày trát vữa, vòm trần gỗ tếch (kayu jati), tháp sắt rèn | Hồ sơ kiến trúc của Antonius Dijkmans SJ và Marius Hulswit |
| Tọa độ vệ tinh | 6,1693 độ vĩ Nam (-6,1693), 106,8331 độ kinh Đông | Wikidata (Q1191696), OpenStreetMap |
IVThế Đất Và Hướng
Giáo hội Công giáo La Mã không dạy và không áp dụng phép phong thủy hình thế hay la bàn Bát quái Á Đông khi xây dựng thánh đường. Theo truyền thống kiến trúc nhà thờ châu Âu cổ điển (đặc biệt là các nhà thờ Tân Gothic thế kỷ 19), trục nhà thờ thường được định hướng sao cho cung thánh và bàn thờ chính quay về phương Đông (Ad Orientem, hướng Mặt Trời mọc tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh), còn mặt tiền cổng chính mở về phương Tây. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu thế đất và hướng mặt của Nhà thờ chính tòa Jakarta theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên bản đồ địa hình khu vực trung tâm Weltevreden cổ (nay là quận Sawah Besar, Jakarta) tại tọa độ 6,1693 độ vĩ Nam, 106,8331 độ kinh Đông, Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời nằm tại vị trí giao hội của các trục đường và dòng nước lớn. Tuân thủ truyền thống hướng Đông của kiến trúc nhà thờ phương Tây kết hợp với mạng lưới đường phố thời thuộc địa Hà Lan, trục dọc 60 mét của nhà thờ được đặt theo phương tọa Đông - Đông Bắc hướng Tây - Tây Nam: phần hậu cung đặt bàn thờ chính tựa vào phía Đông - Đông Bắc, còn mặt tiền với hai ngọn tháp sắt 60 mét mở thẳng ra ngã tư đường Jalan Katedral ở phía Tây - Tây Nam.
Xét về minh đường và thủy pháp, ngay phía trước mặt tiền hướng Tây - Tây Nam của nhà thờ là khoảng không gian mở của ngã tư đường lớn và dòng nhánh phía đông của sông Ciliwung chảy dọc theo ranh giới giữa nhà thờ và khuôn viên Thánh đường Hồi giáo Istiqlal. Ở phía đông nam của nhà thờ (bên cánh tay phải tức phương Thanh Long của công trình) mở ra toàn bộ công viên Quảng trường Lapangan Banteng rộng lớn (xưa là Quảng trường Waterloo, rộng hơn 5 héc-ta). Nhờ có dòng sông Ciliwung chảy uốn lượn phía trước mặt làm thủy minh đường và hai quảng trường lớn là Medan Merdeka (ở phía tây nam) cùng Lapangan Banteng (ở phía đông nam) làm khoảng thoáng tụ khí, ba ngọn tháp sắt rèn của Nhà thờ chính tòa và mái vòm cầu của Thánh đường Istiqlal tạo nên hai điểm nhấn kiến trúc đối xứng nhau qua dòng nước, giữ cho không gian thánh đường luôn thông thoáng và trang nghiêm giữa lòng đô thị sầm uất.
VCác Kỳ Đại Lễ Phụng Vụ Trong Năm Tại Nhà Thờ Chính Tòa
Là nhà thờ mẹ của Tổng giáo phận Jakarta, thánh đường cử hành Thánh lễ mỗi ngày bằng tiếng Indonesia và tuân theo Lịch Phụng vụ Công giáo Rôma (kết hợp giữa các lễ cố định theo Dương lịch Gregory và các lễ di động tính theo chu kỳ Mặt Trăng mùa xuân như lễ Phục Sinh). Trong những ngày đại lễ, hàng nghìn giáo dân ngồi kín bên trong lòng nhà thờ 800 chỗ ngồi và tràn ra các lều bạt dựng khắp khuôn viên sân rộng bên ngoài.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ | Nội dung và nghi thức tại Nhà thờ chính tòa Jakarta |
|---|---|---|---|
| Ngày 15 tháng 8 hằng năm | Dương lịch (Lịch Phụng vụ Công giáo) | Đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Lễ bổn mạng Nhà thờ chính tòa) | Ngày lễ quan trọng nhất riêng của Nhà thờ chính tòa Jakarta mừng kính tước hiệu bổn mạng Santa Maria Diangkat ke Surga, với Thánh lễ đại trào do Đức Hồng y Tổng giám mục Jakarta chủ tế và cuộc rước kiệu tôn vinh Đức Mẹ tại hang đá Maria bên hông nhà thờ. |
| Đêm 24 và ngày 25 tháng 12 | Dương lịch (Mùa Giáng Sinh) | Đại lễ Giáng Sinh (Hari Raya Natal) | Cử hành nhiều Thánh lễ liên tiếp đón mừng Chúa Cứu Thế giáng sinh, trong dịp này các lãnh đạo nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tôn giáo và Đại Imam của Thánh đường Istiqlal bên kia đường thường trực tiếp sang chúc mừng, đồng thời Thánh đường Istiqlal mở toàn bộ bãi xe đón giáo dân qua Đường hầm Hữu nghị. |
| Tuần lễ trước và ngày Chúa nhật đầu tiên sau trăng tròn xuân phân (tháng 3 hoặc tháng 4) | Lịch Phụng vụ Công giáo (tính theo âm dương lịch) | Tam Nhật Thánh và Đại lễ Phục Sinh (Hari Raya Paskah) | Trọn vẹn các nghi thức Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh (suy tôn Thánh Giá và ngắm 14 Chặng Đàng Thánh Giá cổ trong nhà thờ), Đêm Canh Thức Vượt Qua với nghi thức làm phép lửa mới và Thánh lễ Chúa nhật Phục Sinh. |
| Tháng 5 và tháng 10 hằng năm | Dương lịch (Phụng vụ kính Đức Mẹ) | Tháng Hoa và Tháng Mân Côi kính Đức Mẹ tại Hang đá Lourdes | Đông đảo giáo dân khắp thủ đô Jakarta quy tụ về khu vực Hang đá Đức Mẹ (Gua Maria Lourdes) trong khuôn viên nhà thờ để lần hạt Mân Côi và dâng nến cầu nguyện vào các buổi tối. |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Jalan Katedral No. 7B, phố Pasar Baru, quận Sawah Besar, Trung Jakarta (Jakarta Pusat), Đặc khu Thủ đô Jakarta
- Đường tới
- Tọa lạc tại số 7B đường Jalan Katedral, quận Sawah Besar, Trung tâm Jakarta (đối diện trực tiếp với cổng Al-Fattah của Thánh đường Hồi giáo Istiqlal và sát góc tây bắc quảng trường Lapangan Banteng). Quý vị có thể đi tàu điện KRL Commuterline tới ga Juanda (cách nhà thờ khoảng 400 mét đi bộ) hoặc đi xe buýt TransJakarta tuyến số 2 và 5C dừng ngay tại trạm Juanda hoặc trạm Lapangan Banteng.
- Toạ độ
- -6.1693, 106.8331
Nhà thờ chính tòa Jakarta là nơi tôn nghiêm đang cử hành các bí tích và Thánh lễ hằng ngày. Khi tới tham quan lòng nhà thờ, Hang đá Đức Mẹ hoặc Bảo tàng Nhà thờ chính tòa, quý vị cần mặc trang phục lịch sự kín đáo (không mặc quần đùi, váy ngắn trên đầu gối hay áo sát nách), bỏ mũ nón khi bước qua cửa thánh đường, chuyển điện thoại sang chế độ im lặng và không đi lại chụp ảnh phía trước cung thánh khi đang có Thánh lễ hoặc khi các giáo dân đang quỳ chầu Mình Thánh Chúa.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời, Jakarta
Contribute photos, information or video for Jakarta CathedralThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao ba ngọn tháp của Nhà thờ chính tòa Jakarta lại làm bằng sắt thay vì xây bằng đá
Sau khi ngôi nhà thờ cũ bị sập vào tháng 4 năm 1890 và xét thấy nền đất Jakarta yếu lại nằm trên vành đai núi lửa hay có động đất của đảo Java, cha Antonius Dijkmans SJ và kiến trúc sư Marius Hulswit đã quyết định không xây tháp đá nặng nề như ở châu Âu mà dùng khung sắt rèn đúc sẵn từ Hà Lan kết hợp với vòm trần gỗ tếch để giảm tải trọng và chịu được rung chấn địa chất.
Ba ngọn tháp sắt của nhà thờ có tên gọi và chiều cao như thế nào
Hai ngọn tháp ở mặt tiền phía tây nam đều cao 60 mét: tháp bên bắc (bên trái) mang tên Turris Davidica (Tháp Vua Đavít), còn tháp bên nam (bên phải) mang tên Turris Eburnea (Tháp Ngà Voi, nơi đặt đồng hồ năm 1900 và treo 3 quả chuông đồng). Ngọn tháp thứ ba vươn lên ngay giao điểm chữ thập giữa mái nhà thờ cao 45 mét và mang tên Angelus Dei (Thiên Thần của Chúa).
Ai là kiến trúc sư đã thiết kế Nhà thờ chính tòa Jakarta hiện nay
Bản vẽ thiết kế ban đầu theo phong cách Tân Gothic do linh mục Dòng Tên người Hà Lan Antonius Dijkmans SJ thực hiện và khởi công năm 1891. Sau khi cha Dijkmans lâm bệnh và qua đời năm 1894, kiến trúc sư người Hà Lan Marius J. Hulswit đã tiếp nhận công trình từ năm 1899, chỉnh sửa kết cấu ba ngọn tháp sắt và hoàn thành ngôi nhà thờ vào tháng 4 năm 1901.
Mối quan hệ giữa Nhà thờ chính tòa Jakarta và Thánh đường Hồi giáo Istiqlal đối diện có gì đặc biệt
Hai công trình tôn giáo lớn nhất thủ đô đứng đối diện nhau qua con đường Jalan Katedral và được nối liền dưới lòng đất bởi Đường hầm Hữu nghị (Terowongan Silaturahmi). Suốt nhiều thập kỷ qua, hai bên luôn nhường bãi đỗ xe và hỗ trợ bảo vệ an ninh cho nhau trong các ngày đại lễ Giáng Sinh, Phục Sinh cũng như Idul Fitri và Idul Adha, trở thành biểu tượng toàn cầu về hòa hợp tôn giáo.
Bảo tàng Nhà thờ chính tòa Jakarta lưu giữ những gì
Được thành lập năm 1991, Bảo tàng Nhà thờ chính tòa lưu giữ lịch sử hơn hai thế kỷ của đạo Công giáo tại Indonesia từ năm 1807, bao gồm các cuốn sổ rửa tội cổ bằng tiếng Hà Lan, lễ phục và gậy mục vụ của các đời Giám mục Batavia, mô hình ngôi nhà thờ cũ trước năm 1890, đàn organ cổ và kỷ vật từ chuyến thăm của Giáo hoàng Phaolô VI, Gioan Phaolô II và Phanxicô.