VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Núi thiêng Athos và Đan viện Đại Lavra

Great Lavra, Μονή Μεγίστης Λαύρας (Moni Megistis Lavras), Άγιον Όρος (Agion Oros), Mount Athos, Cộng hòa Đan tu Tự trị Núi Athos

Thánh địa đan tu Chính Thống giáo Đông phương trên bán đảo núi đá cẩm thạch cao 2.033 mét nhô ra biển Aegea, nơi Đan viện Đại Lavra được Thánh Athanasiô khởi dựng năm 963 mở đầu cho một thiên niên kỷ cầu nguyện biệt lập của Khu vườn Đức Mẹ.

Khởi dựng
Năm 963 SCN
Thánh Athanasiô lập với sắc chỉ vàng Nikephoros II Phokas
Vị thế
Đứng đầu 20 đan viện
Thủ phủ tâm linh trên bán đảo Núi Athos cao 2.033 m
Di sản
UNESCO (1988)
Di sản hỗn hợp văn hóa - thiên nhiên và 2.116 thủ bản cổ

Vươn dài khoảng 50 km ra vùng biển Bắc Aegea như nhánh ngón tay phía Đông của bán đảo Halkidiki (miền Bắc Hy Lạp), bán đảo Núi Athos (tiếng Hy Lạp: Άγιον Όρος Agion Oros, nghĩa là Núi Thánh) đột ngột dựng đứng từ mặt biển xanh thẳm lên đỉnh chóp đá cẩm thạch trắng cao 2.033 mét. Khi con tàu phà chở khách hành hương rời cảng Ouranoupoli hay Ierissos để chạy dọc theo bờ biển hiểm trở dưới chân núi, quý vị sẽ thấy những tòa đan viện bằng đá nhiều tầng có tháp canh kiên cố như những pháo đài thời Trung cổ bám trên các vách đá sát mép sóng hoặc ẩn mình giữa những cánh rừng dẻ và tùng bách nguyên sinh. Nằm ở mỏm cực Đông Nam của bán đảo trên một thềm đá cao 160 mét so với mặt biển chính là Đan viện Đại Lavra (Moni Megistis Lavras), đan viện cổ xưa nhất, rộng lớn nhất và đứng vị trí số một trong phẩm trật hai mươi đan viện tự trị của Cộng hòa Đan tu Núi Athos.

Bước qua cổng thành bọc sắt của Đại Lavra vào khoảng sân lát đá cuội rộng lớn, thời gian dường như vẫn vận hành theo chiếc đồng hồ của Đế chế Đông La Mã (Byzantine) từ thế kỷ 10. Giữa sân đan viện, bên cạnh ngôi nhà thờ chính (Katholikon) quét màu đỏ sẫm đặc trưng của máu tử đạo là bóng tán khổng lồ của cây bách cổ thụ hơn một ngàn năm tuổi do chính tay Thánh Athanasiô vùng Athos trồng khi khai sơn vào năm 963. Hơn mười thế kỷ qua, dưới đạo luật cổ xưa Avaton cấm phụ nữ đặt chân lên bán đảo để tôn kính Đức Trinh Nữ Maria là Nữ Vương duy nhất của vùng đất, hơn 2.000 đan sĩ Chính Thống giáo từ Hy Lạp, Nga, Serbia, Bulgaria, Romania và Georgia vẫn giữ nguyên nhịp sống cầu nguyện theo lịch Julius cũ và giờ Byzantine, biến Núi Athos thành bảo tàng sống vĩ đại nhất của nền văn minh Chính Thống giáo Đông phương (cùng dòng truyền thừa đã lan tỏa xuống Các tu viện Meteora tại Thessalia).

Núi thiêng Athos và Đan viện Đại Lavra
Núi thiêng Athos và Đan viện Đại Lavra. Ảnh: Aroche, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IKhu Vườn Của Đức Mẹ, Luật Avaton Ngàn Năm Và Truyền Thống Cầu Nguyện Tĩnh Tu Hesychasm

Trong tâm thức của toàn thể thế giới Chính Thống giáo Đông phương, bán đảo Núi Athos không chỉ là một trung tâm tu viện thông thường mà được tôn kính dưới danh hiệu thiêng liêng là Khu vườn của Đức Mẹ Thiên Chúa (tiếng Hy Lạp: To Perivoli tis Panagias). Truyền thống thánh sử Chính Thống giáo kể rằng vào thế kỷ 1 SCN, sau khi Chúa Giêsu Phục Sinh và Lên Trời, Đức Trinh Nữ Maria (Theotokos) cùng Thánh Tông đồ Gioan đi thuyền từ xứ đạo Jaffa đến đảo Síp để thăm Giám mục Lazarô. Giữa đường, một cơn bão lớn đã đẩy con thuyền của Đức Mẹ dạt vào bờ biển phía Đông bán đảo Athos (ngay gần vị trí Đan viện Iviron ngày nay), vốn lúc bấy giờ là nơi đặt nhiều đền thờ thần Apollo và thần Zeus của người Hy Lạp cổ đại. Khi Đức Mẹ bước chân lên bờ, các pho tượng thần cổ đại bỗng nhiên rung chuyển và đổ sập xuống, còn cư dân trên bán đảo đã đón nhận phép rửa Kitô giáo.

Theo sử liệu

Đứng trước vẻ đẹp hùng vĩ và thanh vắng của ngọn núi đá vươn lên giữa biển khơi, Đức Trinh Nữ Maria đã quỳ xuống cầu nguyện: Lạy Con và là Thiên Chúa của Mẹ, xin ban mảnh đất này làm phần gia sản riêng của Mẹ, để nơi đây trở thành bến cảng cứu rỗi cho những ai muốn tìm kiếm ơn phần rỗi linh hồn. Từ trên trời cao vang xuống tiếng phán chấp thuận của Chúa Kitô: Hãy để nơi này trở thành khu vườn và phần gia sản của Mẹ, và là thiên đàng cho những ai khao khát ơn cứu độ. Chính từ lời thánh truyền ấy, toàn bộ bán đảo Athos được xem là lãnh địa thuộc quyền sở hữu độc nhất của Đức Trinh Nữ Maria.

Theo giáo nghĩa

Để bảo vệ sự độc tôn của Đức Mẹ Theotokos trên núi thiêng và giúp các đan sĩ giữ trọn lời khấn khiết tịnh tuyệt đối mà không bị phân tâm bởi đời sống gia đình trần thế, từ thời Đế chế Đông La Mã đã hình thành quy tắc pháp lý và tôn giáo nghiêm ngặt mang tên Avaton (Ἄβατον, nghĩa là Vùng đất bất khả xâm phạm). Được ghi nhận chính thức bằng văn bản trong bản Hiến pháp Đan tu đầu tiên (Typikon) do Hoàng đế Ioannes I Tzimiskes ban hành năm 972 và được xác nhận lại bởi sắc chỉ của Hoàng đế Konstantinos IX Monomachos năm 1045 (cũng như được Hiến pháp Cộng hòa Hy Lạp và Hiệp ước gia nhập Liên minh Châu Âu công nhận quy chế đặc biệt), luật Avaton quy định không một người phụ nữ nào (kể cả giống cái của các loài gia súc có xương sống, trừ mèo dùng bắt chuột và gà mái đẻ trứng lấy lòng đỏ làm màu vẽ linh ảnh) được phép đặt chân lên bán đảo Núi Athos. Đối với các đan sĩ, việc vắng bóng toàn bộ phụ nữ trần gian chính là để nhường chỗ cho sự hiện diện thiêng liêng duy nhất của Đức Mẹ Thiên Chúa trong từng hơi thở cầu nguyện.

Đan viện Đại Lavra và cuộc cách mạng Đan tu Cộng đoàn (Cenobitic) kết hợp Tĩnh tu (Hesychasm)

Chỗ hay hiểu lầm

Khái niệm Lavra (Λαύρα) bắt nguồn từ truyền thống đan tu sa mạc Palestine thế kỷ 4 đến thế kỷ 6 (như Đại Lavra của Thánh Sabbas gần Jerusalem), chỉ một cụm các thất ẩn tu riêng biệt (kellia) của các ẩn sĩ sống cô độc suốt tuần nhưng tụ họp lại vào ngày thứ Bảy và Chủ Nhật quanh một nhà thờ trung tâm. Khi Thánh Athanasiô vùng Athos (khoảng 920 đến khoảng 1000 SCN) khởi dựng Megisti Lavra (Đại Lavra) vào năm 963, ngài đã thực hiện một cuộc tổng hợp vĩ đại: lấy đời sống đan tu cộng đoàn (Koinobion / Cenobitic) làm nền tảng chính (các đan sĩ cùng cầu nguyện, cùng lao động, cùng ăn chung tại nhà ăn Trapeza và vâng phục một vị Viện phụ gọi là Hegumenos), đồng thời vẫn giữ các am thất ẩn cư trên vách đá cao (Skete và Hesychasteria) cho những đan sĩ lão luyện chuyên tâm thực hành pháp môn Tĩnh tu Hesychasm (lặp đi lặp lại không ngừng Lời cầu nguyện Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội theo nhịp thở để chiêm ngắm Ánh sáng Không thụ tạo của núi Tabor). Mô hình kết hợp của Đại Lavra đã trở thành khuôn mẫu chuẩn mực cho toàn bộ 20 đan viện trên Núi Athos suốt hơn một ngàn năm qua.

IILịch Sử Một Thiên Niên Kỷ Từ Thánh Athanasiô Và Hoàng Đế Nikephoros Phokas Đến Nay

Trong số 20 đan viện tự trị trên bán đảo Athos, Đan viện Đại Lavra là nơi duy nhất bảo tồn được kho lưu trữ văn kiện lịch sử gần như nguyên vẹn từ thế kỷ 10 tới nay mà không bị hỏa hoạn thiêu hủy, bao gồm hàng chục bức sắc chỉ đóng ấn vàng ròng (Chrysobull) của các Hoàng đế Đông La Mã.

Theo sử liệu

Theo cuốn Tiểu sử Thánh Athanasiô vùng Athos (được biên soạn vào thế kỷ 11 ngay sau khi ngài qua đời), Athanasiô sinh tại Trebizond (Trabzon bên bờ Biển Đen) với tên thế tục là Abraham, từng là một giáo sư triết học và tu từ học danh tiếng tại kinh đô Constantinople. Tại đây, ngài kết bạn tâm giao với vị danh tướng lẫy lừng của đế chế là Nikephoros Phokas. Chán ngán danh lợi triều đình, Abraham trốn lên núi Athos ẩn tu và đổi tên thành Athanasiô. Khi tướng Nikephoros Phokas đánh bại người Ả Rập để tái chiếm đảo Crete vào năm 961, ông đã gửi một khoản vàng lớn từ chiến lợi phẩm cho người bạn tu hành Athanasiô để xây dựng một đan viện lớn trên núi Athos, với lời hứa rằng chính Nikephoros cũng sẽ sớm từ bỏ chức tước để về xuất gia làm đan sĩ tại đây. Năm 963, Athanasiô khởi công xây dựng bức tường thành bảo vệ và ngôi nhà thờ chính của Đại Lavra trên nền phế tích thành phố cổ Akrothooi. Đúng năm đó, Nikephoros Phokas được quân đội tôn lên ngôi Hoàng đế Đông La Mã (Nikephoros II Phokas, trị vì 963 tới 969). Dù không thể thực hiện ước nguyện đi tu như đã hứa, vị hoàng đế đã ban sắc chỉ vàng (Chrysobull) công nhận Đại Lavra là đan viện hoàng gia độc lập, ban tặng thánh tích mảnh Thánh Giá đích thực và trợ cấp 244 đồng vàng mỗi năm nuôi 80 đan sĩ (sau được Hoàng đế Ioannes I Tzimiskes nâng lên gấp đôi cho 120 đan sĩ và đến thế kỷ 11 tăng lên tới 700 đan sĩ).

  • Thế kỷ 9 (Năm 883)Các ẩn sĩ đầu tiên và sắc chỉ của Hoàng đế Basileios I
    Các ẩn sĩ Kitô giáo như Thánh Phêrô vùng Athos và Thánh Euthymios bắt đầu đến sống trong các hang đá trên bán đảo. Năm 883, Hoàng đế Đông La Mã Basileios I ban sắc chỉ hoàng gia đầu tiên cấm cư dân chăn gia súc xâm phạm sự tĩnh lặng của các ẩn sĩ trên núi Athos.
  • 963 - 964Thánh Athanasiô khởi dựng Đan viện Đại Lavra với sự bảo trợ của Nikephoros II Phokas
    Năm 963, bằng ngân khoản do người bạn là Hoàng đế Nikephoros II Phokas gửi tặng, Thánh Athanasiô khởi công xây dựng tường thành, nhà thờ chính (Katholikon) kính Đức Mẹ Truyền Tin và các dãy phòng tu của Đại Lavra, mở đầu kỷ nguyên đan tu cộng đoàn (Cenobitic) có tổ chức trên Núi Athos.
  • 972 và khoảng năm 1000Hiến pháp Tragos năm 972 và sự hy sinh của Thánh Athanasiô dưới mái vòm
    Năm 972, Hoàng đế Ioannes I Tzimiskes ban hành bản Hiến pháp Đan tu đầu tiên viết trên da dê (Tragos) tại Karyes. Khoảng năm 1000 SCN (ngày 5 tháng 7), trong lúc Thánh Athanasiô cùng 6 đan sĩ đang trực tiếp leo lên giàn giáo kiểm tra việc xây dựng mái vòm mở rộng nhà thờ chính, mái vòm bất ngờ sập xuống khiến vị thánh sáng lập cùng 6 môn đệ tử nạn ngay trong thánh đường.
  • Thế kỷ 14 (1307 - 1380)Nạn cướp biển Catalan, phong trào Hesychasm và thời kỳ tự túc Idiorrhythmic
    Đầu thế kỷ 14, Đại Lavra kiên cường chống trả các cuộc tấn công của lính đánh thuê Catalan và cướp biển, đồng thời trở thành trung tâm thần học Tĩnh tu (Hesychasm) với các bậc đại thánh như Thánh Grêgôriô Palamas và ca trưởng Thánh Ioannes Koukouzelis. Cuối thế kỷ 14, do khủng hoảng kinh tế, đan viện chuyển sang chế độ tu tự túc theo nhóm nhỏ (Idiorrhythmic).
  • 1535Danh họa Theophanes xứ Crete vẽ bích họa toàn bộ Nhà thờ chính và Nhà ăn
    Bậc thầy lớn nhất của trường phái hội họa hậu Byzantine là đan sĩ Theophanes xứ Crete (Theophanes Strelitzas) được mời tới Đại Lavra để sáng tác hệ thống bích họa tuyệt mỹ phủ kín nội thất Nhà thờ chính (Katholikon) và Nhà ăn hình chữ thập (Trapeza).
  • 1924 - 1926 và 1980Hiến chương Tự trị Núi Athos (1924) và khôi phục chế độ Cộng đoàn (1980)
    Năm 1924 - 1926, Hiến chương Núi Athos xác lập quy chế Cộng hòa Đan tu Tự trị trực thuộc quyền tinh thần của Thượng phụ Đại kết Constantinople và chủ quyền chính trị Hy Lạp, với sự quản trị của Hội đồng Thánh (Iera Koinotita) tại thủ phủ Karyes. Năm 1980, Đan viện Đại Lavra chính thức khôi phục hoàn toàn đời sống đan tu cộng đoàn (Cenobitic) nguyên thủy của Thánh Athanasiô.
  • 1988UNESCO công nhận Núi Athos là Di sản Thế giới Hỗn hợp
    Tại kỳ họp lần thứ 12 của Ủy ban Di sản Thế giới, toàn bộ bán đảo Núi Athos và 20 đan viện (đứng đầu là Đại Lavra) được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới Hỗn hợp cả về Văn hóa lẫn Thiên nhiên (mã số 454) theo 6 tiêu chí (i), (ii), (iv), (v), (vi) và (vii).

IIIKiến Trúc Pháo Đài Đan Viện, Nguyên Mẫu Thánh Đường Ba Bán Nguyệt Athonite Và Kho Tàng 2.116 Thủ Bản

Về mặt quy hoạch kiến trúc, Đan viện Đại Lavra được xây dựng như một đô thị pháo đài khép kín thời Đông La Mã (Monastic Fortress) rộng lớn bậc nhất trên bán đảo Athos. Toàn bộ quần thể được bao bọc bởi những bức tường thành bằng đá dày có tháp canh cao vút (nổi bật là Tháp Hoàng đế Ioannes Tzimiskes xây từ thế kỷ 10 ở góc Tây Nam) nhằm bảo vệ cộng đoàn đan sĩ trước các cuộc đột kích của cướp biển vùng Địa Trung Hải suốt thời Trung cổ. Bên trong vòng tường thành gồm 4 tầng dãy phòng tu (kellia) có ban công gỗ chạy dài là một khoảng sân nội viện rộng lớn lát đá, nơi tọa lạc các công trình phụng vụ trung tâm.

Nhà thờ chính (Katholikon): Nguyên mẫu kiến trúc mặt bằng ba bán nguyệt Athonite

Đứng uy nghiêm ở chính giữa sân đan viện là ngôi Nhà thờ chính (Katholikon) do Thánh Athanasiô khởi dựng năm 963 (ban đầu dâng kính Lễ Truyền Tin của Đức Mẹ, sau khi Thánh Athanasiô tử nạn dưới mái vòm thì đổi sang kính chính Thánh Athanasiô vùng Athos). Trong lịch sử kiến trúc Chính Thống giáo, ngôi nhà thờ này mang giá trị vô song vì đây chính là nguyên mẫu đầu tiên khai sinh ra kiểu kiến trúc nhà thờ Athonite (Athonite Triconch Cross-in-Square) được sao chép tại khắp núi Athos, vùng Balkan và nước Nga:

Dựa trên cấu trúc chữ thập nội tiếp trong hình vuông có mái vòm lớn đường kính hơn 6 mét ở trung tâm (không dùng 4 cột mảnh mà dùng 4 trụ tường đá dày vững chắc để đỡ mái vòm trung tâm), Thánh Athanasiô đã cho mở rộng thêm hai hốc bán nguyệt lớn ở hai cánh phía Bắc và phía Nam (Choir apses / Choroi) tạo thành mặt bằng ba bán nguyệt (Triconch / Hình cỏ ba lá) cùng với hậu cung bàn thờ ở phía Đông. Thiết kế hai hốc bán nguyệt Bắc - Nam này có mục đích phụng vụ cực kỳ thực tế: tạo không gian vang âm hoàn hảo cho hai ca đoàn đan sĩ đứng đối diện nhau hát thánh ca đối đáp (antiphonal chanting) suốt các buổi canh thức kéo dài từ 8 đến 12 tiếng đồng hồ vào ban đêm. Phía trước gian chính (Naos) là tiền sảnh rộng lớn gọi là Liti (Lite) nơi cử hành các giờ kinh tối, và hai bên tiền sảnh Liti là hai nhà nguyện phụ đối xứng (Parekklesia): nhà nguyện phía Bắc kính Bốn Mươi Vị Tử Đạo thành Sebaste (nơi đặt ngôi mộ cẩm thạch của Thánh Athanasiô) và nhà nguyện phía Nam kính Thánh Nikolaos. Vào năm 1814, phần hiên ngoài có mái vòm kính màu (Exonarthex) được xây dựng thêm ở mặt tiền phía Tây.

Hệ thống bích họa năm 1535 của danh họa Theophanes xứ Crete và Nhà ăn Trapeza

Toàn bộ các bức tường và vòm cuốn bên trong gian chính (Naos) của Nhà thờ chính được phủ kín bởi những bức bích họa (frescoes) vẽ trên vữa ướt vào năm 1535 bởi Đại sư Theophanes xứ Crete, kiệt tác đỉnh cao của trường phái hội họa Crete. Ngay đối diện cửa Tây của nhà thờ là Nhà ăn tập thể (Trapeza) xây theo mặt bằng hình chữ thập lớn nhất trên núi Athos, bên trong kê 24 chiếc bàn ăn bằng đá cẩm thạch nguyên khối và phủ kín bích họa của Theophanes vẽ cảnh Bữa Tiệc Ly, Ngày Phán Xét Cuối Cùng và Cuộc đời các ẩn sĩ sa mạc.

Bình nước thánh Phiale năm 1060 và Cây bách ngàn năm của Thánh Athanasiô

Ngay giữa khoảng sân hẹp nằm giữa cửa Tây Nhà thờ chính và Nhà ăn Trapeza là đài phun nước thánh (Phiale) có mái vòm tròn đỡ bởi các cột đá cẩm thạch dựng từ năm 1060, chính giữa đặt chậu đá Porphyry cổ đại chạm khắc các linh thú bằng đồng phun nước để làm phép nước đầu tháng. Sát bên cạnh Phiale là hai cây bách Địa Trung Hải (Cupressus sempervirens) khổng lồ vươn cao hơn 30 mét, trong đó cây lớn hơn tương truyền do chính tay Thánh Athanasiô trồng vào thế kỷ 10.

Lăng mộ Thánh Athanasiô và Linh ảnh phép lạ Đức Mẹ Koukouzelissa

Trong nhà nguyện Bốn Mươi Vị Tử Đạo ở phía Bắc tiền sảnh lưu giữ ngôi mộ đá cẩm thạch của Thánh Athanasiô vùng Athos, nơi các đan sĩ luôn quỳ hôn kính trước mỗi giờ kinh. Trong nhà nguyện phía đối diện tôn trí bức linh ảnh phép lạ cực kỳ linh thiêng Đức Mẹ Koukouzelissa (Panagia Koukouzelissa) và Đức Mẹ Oikonomissa (Đức Mẹ Quản Gia của Đan viện, gắn với sự kiện Đức Mẹ hiện ra với Thánh Athanasiô khi đan viện hết lương thực và trao cây gậy sắt làm vọt ra suối nước thánh Agiasma).

Phòng bảo vật hoàng gia (Skevophylakion): Kinh Phúc Âm và áo choàng của Nikephoros II Phokas

Nằm phía sau nhà thờ chính là phòng bảo vật lưu giữ những cổ vật Đông La Mã vô giá từ thế kỷ 10: nổi bật nhất là cuốn Sách Phúc Âm viết tay có bìa bằng vàng ròng nạm ngọc lục bảo, ngọc bích và ngọc trai nặng khoảng 15 kg cùng chiếc vương miện và áo choàng hoàng đế bằng lụa thêu vàng do chính Hoàng đế Nikephoros II Phokas gửi tặng Thánh Athanasiô, bên cạnh hộp thánh tích chứa mảnh gỗ Thánh Giá Chúa Giêsu và cuốn sổ đăng ký danh sách đan sĩ (Kouvaras) ghi chép từ thế kỷ 10.

Thư viện Đại Lavra với 2.116 thủ bản cổ và Cuộn giấy cầu nguyện dài 8 mét

Thư viện của Đan viện Đại Lavra là một trong những kho tàng thủ bản tiếng Hy Lạp cổ phong phú nhất thế giới, lưu giữ 2.116 tập bản thảo viết tay (manuscripts), trong đó có 470 bản viết trên giấy da cừu (parchment) từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 14 (như các mảnh giấy da thế kỷ 6 của Codex Coislinianus và bản thảo thực vật học có minh họa màu của Dioscorides), khoảng 100 cuộn kinh phụng vụ viết tay (nổi tiếng nhất là cuộn kinh của Thánh Basiliô dài tới 8,75 mét) và hơn 20.000 cuốn sách in cổ.

Các cụm am thất ẩn cư (Sketes) trên vách đá vực biển: Kapsokalyvia và Karoulia

Thuộc quyền quản hạt trực tiếp của Đan viện Đại Lavra còn có các cụm am thất ẩn cư nổi tiếng bậc nhất núi Athos nằm cheo leo trên sườn núi phía Nam: Skete Thánh Gioan Tiền Hô (Prodromos, cộng đoàn đan sĩ Romania), Skete Thánh Anna, Skete Kapsokalyvia và đặc biệt là vùng vách đá Karoulia, nơi các ẩn sĩ khắc khổ nhất sống trong những túp lều nhỏ treo lơ lửng trên vách đá dựng đứng phía trên mặt biển và kéo bánh mì, nước uống lên bằng ròng rọc dây xích.

IVThế Đất Và Hướng

Chính Thống giáo Đông phương không áp dụng học thuyết phong thủy Á Đông mà quy hoạch đan viện và thánh đường theo Thần học Phụng vụ Vũ trụ (Cosmic Liturgical Theology) của truyền thống Đông La Mã. Theo quy tắc thiêng liêng được xác lập từ các Giáo phụ thế kỷ 4, gian Cung Thánh (Bema / Altar) của Nhà thờ chính (Katholikon) và tất cả 37 nhà nguyện trong Đan viện Đại Lavra đều bắt buộc phải quay thẳng về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc) để đón chờ Đức Kitô, Đấng là Mặt Trời Công Chính (Oriens ex alto) quang lâm từ phương Đông, trong khi bản thân nhà thờ đặt ở đúng tâm điểm sân trong như trái tim cung cấp sự sống cho toàn bộ các dãy phòng tu bao quanh. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế thực địa của bán đảo Athos và Đan viện Đại Lavra theo phép hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa lý vùng biển Bắc Aegea tại tọa độ 40,1711 độ vĩ Bắc và 24,3828 độ kinh Đông, bán đảo Núi Athos sở hữu một đại long mạch sơn hải giao hội (Thương long nhập hải cách) độc nhất vô nhị tại vùng Địa Trung Hải. Dải đất bán đảo dài 50 km, rộng từ 7 đến 12 km chạy theo trục Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền vùng Macedonia vươn thẳng ra biển khơi. Dọc theo sống lưng bán đảo, dãy núi uốn lượn nâng cao dần độ cao rồi đột ngột tụ hết toàn bộ khí lực vào mỏm cuối cùng ở phía Đông Nam để dựng đứng lên thành đỉnh tháp đá cẩm thạch Đỉnh Athos (cao 2.033 mét) có hình kim tự tháp nhọn vút đâm thẳng lên tầng mây, ba mặt Đông, Tây, Nam đều là vực sâu đổ thẳng xuống lòng biển Aegea sâu hàng ngàn mét. Trong phép xem hình thế cổ truyền, thế núi chạy dài trăm dặm rồi kết thúc bằng một ngọn cự phong chót vót ngay nơi đầu sóng ngọn gió biển khơi được gọi là cách cục Hành long tận xứ đột khởi tôn tinh (Nơi cuối mạch rồng vọt lên ngôi sao tôn quý), một thế đất cô cao tuyệt đối chỉ hợp cho bậc xuất thế tu hành chứ không phải nơi lập phố thị phồn hoa.

Ngay dưới chân sườn phía Đông Nam của đỉnh núi đá 2.033 mét ấy, ở độ cao khoảng 160 mét so với mặt biển, Thánh Athanasiô đã chọn đúng một thềm đất phẳng (Bàn thạch huyệt) có khe suối ngọt từ đỉnh núi chảy xuống để kiến lập Đan viện Đại Lavra. Xét theo bố cục tứ tượng tại huyệt vị này: toàn bộ quần thể đan viện lấy ngọn Đỉnh núi Athos (2.033 m) sừng sững ngay phía sau lưng ở hướng Tây - Tây Bắc làm Thái tổ sơn kiêm Hậu chẩm vĩ đại che chắn gió bão lục địa, mặt tiền phía trước đan viện mở ra hướng Đông và Đông Bắc nhìn thẳng xuống Đại minh đường là mặt biển Aegea bao la đón trọn ánh bình minh đầu tiên trên bán đảo, nơi có bến cảng cổ nhỏ Arsanas dưới chân vách đá làm Nội thủy khẩu và đảo Thasos cùng đảo Samothrace, Lemnos thấp thoáng phía chân trời làm Viễn triều sơn và Tiền án ngoài khơi, bên trái ở phương Bắc và bên phải ở phương Nam là hai dải sườn núi đá vươn ra biển kèm rừng cây cổ thụ bao bọc như Thanh Long - Bạch Hổ hộ vệ. Cùng với đó, cấu trúc bốn bức tường thành đá khép kín quanh sân trong cùng hàng bách cổ thụ ngàn năm ở trung tâm đã giúp Đại Lavra thực hiện trọn vẹn nguyên lý Tàng phong tụ khí ngay trên sườn núi lộng gió biển khơi.

VLịch Phụng Vụ Julius Cũ, Giờ Đế Chế Byzantine Và Đại Lễ Thánh Athanasiô Vùng Athos

Một đặc trưng nổi bật khiến Núi Athos và Đan viện Đại Lavra hoàn toàn tách biệt với thế giới hiện đại là hệ thống đo đếm thời gian: toàn bộ 20 đan viện vẫn kiên định sử dụng Lịch Julius cổ (Julian Calendar) vốn chậm hơn lịch Gregory dương lịch hiện hành đúng 13 ngày, đồng thời hầu hết các đan viện đều chỉnh đồng hồ theo Giờ Đông La Mã (Byzantine Time), trong đó thời điểm 0 giờ 00 phút (nửa đêm trên đồng hồ đan viện) được đặt đúng vào lúc Mặt Trời lặn mỗi chiều theo truyền thống Kinh Thánh Sáng Thế Ký (Có buổi chiều và có buổi sáng: đó là ngày thứ nhất).

Bảng tổng hợp các kỳ đại lễ (Panegyris) và chu kỳ phụng vụ tại Đan viện Đại Lavra theo lịch Julius cổ của Chính Thống giáo. Nguồn: Tổng hợp từ Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO Núi Athos (1988) và tư liệu phụng vụ của Đan viện Megisti Lavra..
Thời điểm (Lịch Julius cũ / Dương lịch)Tên đại lễ / Nghi thức (Panegyris)Nội dung phụng vụ tại Đan viện Đại Lavra và Núi Athos
Ngày 5 tháng 7 lịch Julius (Tức ngày 18 tháng 7 dương lịch)Đại lễ Bổn mạng Thánh Athanasiô vùng Athos (Panegyris của Đại Lavra)Ngày lễ trọng đại nhất trong năm của Đan viện Đại Lavra kỷ niệm ngày qua đời của vị thánh sáng lập (năm 1000 SCN). Đêm trước ngày lễ diễn ra buổi Đại Canh Thức Trọn Đêm (Agrypnia) kéo dài liên tục từ 12 đến 15 tiếng đồng hồ trong Nhà thờ chính dưới ánh sáng của hàng trăm ngọn nến sáp ong. Các chùm đèn đồng lớn (Choroi và Polyeleos) được đung đưa xoay tròn theo nhịp thánh ca Byzantine cổ, tiếp nối bằng Thánh lễ Thượng phụ và bữa tiệc lễ trang trọng tại Nhà ăn Trapeza.
Ngày 25 tháng 3 lịch Julius (Tức ngày 7 tháng 4 dương lịch)Đại lễ Truyền Tin của Đức Trinh Nữ Maria (Evangelismos)Tước hiệu nguyên thủy của Nhà thờ chính (Katholikon) do Thánh Athanasiô hiến dâng khi khởi công năm 963. Toàn thể đan sĩ và khách hành hương cử hành đoàn rước linh ảnh Đức Mẹ Koukouzelissa và Đức Mẹ Oikonomissa đi vòng quanh sân đan viện và làm phép nước thánh tại đài phun Phiale năm 1060.
Ngày 15 tháng 8 lịch Julius (Tức ngày 28 tháng 8 dương lịch)Đại lễ Đức Mẹ Ngủ / Đức Mẹ Về Trời (Koimesis tis Theotokou)Lễ hội chung tối cao của toàn thể bán đảo Núi Athos tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Bổn mạng và Nữ Vương của Khu vườn Đức Mẹ. Khắp 20 đan viện và các am thất Skete đều cử hành canh thức thâu đêm và rước linh ảnh cầu bình an cho toàn thế giới.
Ngày 6 tháng 8 lịch Julius (Tức ngày 19 tháng 8 dương lịch)Lễ Chúa Hiển Dung trên đỉnh núi Athos cao 2.033 mét (Metamorphosis)Vào chiều ngày hôm trước, hàng trăm đan sĩ từ Đại Lavra cùng khách hành hương đi bộ leo núi suốt nhiều giờ từ độ cao 160 mét lên tới Nhà nguyện Chúa Hiển Dung trên đỉnh chóp đá cẩm thạch cao 2.033 mét của Núi Athos để cử hành Thánh lễ canh thức đón ánh bình minh giữa mây trời và biển khơi.
Mỗi ngày từ 3 giờ sáng (Khoảng 8 giờ theo giờ Byzantine)Chu kỳ Phụng vụ Thường nhật và Nghi thức Bữa ăn TrapezaMỗi ngày ban đêm khi tiếng thanh gỗ (Talanton / Semantron) được một đan sĩ vừa đi quanh sân vừa gõ vang theo nhịp ba, toàn thể đan sĩ thức dậy vào nhà thờ đọc Kinh Nửa Đêm, Kinh Sáng (Orthros) và Thánh lễ Tiệc Thánh (Divine Liturgy). Ngay sau Thánh lễ, đoàn đan sĩ đi thành hàng thẳng tiến vào Nhà ăn Trapeza dùng bữa trong sự im lặng tuyệt đối để lắng nghe một đan sĩ đứng trên bục đọc Hạnh các Thánh.
Chỗ hay hiểu lầm

Tại Đan viện Đại Lavra, bữa ăn tập thể trong Nhà ăn hình chữ thập (Trapeza) được xem là phần nối dài trực tiếp của Thánh lễ trong nhà thờ. Trong suốt bữa ăn (không bao giờ có thịt động vật trên cạn mà chỉ gồm cá vào ngày lễ, rau đậu, ô liu, phô mai, bánh mì và rượu vang do chính các đan sĩ trồng cấy), không một ai nói chuyện riêng mà chỉ có giọng đọc ngân nga Hạnh các Thánh vang lên giữa bốn bức tường bích họa năm 1535 của Theophanes. Khi tiếng chuông nhỏ của Viện phụ vang lên báo hiệu kết thúc bữa ăn, toàn thể cộng đoàn lại xếp hàng đi ngược vào tiền sảnh nhà thờ để nhận phép lành.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Megisti Lavra, Autonomous Monastic State of the Holy Mountain (Mount Athos), 630 86 Karyes, Halkidiki, Greece (Μονή Μεγίστης Λαύρας, Άγιον Όρος)
Đường tới
Từ thành phố Thessaloniki (miền Bắc Hy Lạp), khách hành hương đi xe buýt hoặc ô tô khoảng 130 km về phía Đông Nam tới thị trấn cảng Ouranoupoli (hoặc cảng Ierissos ở bờ Đông). Từ cảng Ouranoupoli, sau khi nhận giấy phép Diamonitirion, quý vị lên tàu phà hoặc tàu cao tốc chạy dọc bờ biển phía Tây bán đảo tới cảng Dafni (cảng chính của Núi Athos), rồi từ Dafni đi xe buýt lên thủ phủ Karyes và chuyển tiếp xe buýt hoặc xe 4 bánh chuyên dụng vượt đường núi khoảng 1 giờ đồng hồ về mỏm cực Đông Nam để tới Đan viện Đại Lavra.
Toạ độ
40.1711, 24.3828
Khi tới nơi

Việc viếng thăm bán đảo Núi Athos và Đan viện Đại Lavra chịu sự quản lý nghiêm ngặt nhất trong các thánh địa trên thế giới: theo luật Avaton hơn 1.000 năm qua, phụ nữ hoàn toàn không được phép nhập cảnh vào bán đảo (quý vị là nữ giới có thể đi tàu du lịch chạy dọc ngoài khơi cách bờ biển 500 mét từ cảng Ouranoupoli để ngắm nhìn các đan viện từ xa). Đối với quý vị là nam giới muốn vào hành hương, quý vị bắt buộc phải đăng ký xin Giấy phép hành hương (Diamonitirion) qua Văn phòng Hành hương Núi Athos tại Thessaloniki trước nhiều tháng (mỗi ngày chỉ cấp tối đa 100 giấy phép cho tín đồ Chính Thống giáo và đúng 10 giấy phép cho nam giới thuộc các tôn giáo khác), mang theo hộ chiếu tại cảng Ouranoupoli, mặc quần dài và áo sơ mi dài tay kín đáo, và tuân thủ tuyệt đối giờ giấc cầu nguyện, ăn nghỉ của đan viện (lưu trú và dùng bữa hoàn toàn miễn phí theo truyền thống hiếu khách Philoxenia của các đan sĩ).

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Núi thiêng Athos và Đan viện Đại Lavra

Contribute photos, information or video for Great Lavra

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao phụ nữ không được phép đặt chân lên bán đảo Núi Athos suốt hơn 1.000 năm qua?

Quy định này được gọi là luật Avaton (Vùng đất bất khả xâm phạm), được ban hành chính thức trong Hiến pháp Đan tu năm 972 của Hoàng đế Đông La Mã Ioannes I Tzimiskes. Theo thánh truyền Chính Thống giáo, toàn bộ bán đảo Núi Athos là 'Khu vườn của Đức Mẹ Thiên Chúa' (Perivoli tis Panagias) dành riêng cho một mình Đức Trinh Nữ Maria ngự trị. Đồng thời, việc không có phụ nữ giúp hàng ngàn đan sĩ sống đời độc thân tuyệt đối giữ trọn sự tĩnh lặng và khiết tịnh trong tâm hồn.

Đan viện Đại Lavra (Megisti Lavra) được ai sáng lập và vì sao lại đứng đầu 20 đan viện trên Núi Athos?

Đan viện Đại Lavra được Thánh Athanasiô vùng Athos (Athanasios the Athonite) khởi dựng vào năm 963 dưới sự tài trợ vàng bạc và sắc chỉ vàng (Chrysobull) của người bạn thân là Hoàng đế Đông La Mã Nikephoros II Phokas. Đây là đan viện cộng đoàn (Cenobitic) có tổ chức đầu tiên và có quy mô lớn nhất trên bán đảo, đặt nền móng cho toàn bộ thể chế đan tu Athonite, do đó luôn giữ vị trí số 1 không thể thay đổi trong phẩm trật 20 đan viện tự trị.

Kiến trúc của Nhà thờ chính (Katholikon) tại Đại Lavra có điểm gì đặc biệt?

Nhà thờ chính của Đại Lavra xây dựng từ năm 963 là nguyên mẫu đầu tiên khai sinh ra kiểu kiến trúc nhà thờ 'Ba bán nguyệt Athonite' (Athonite Triconch). Ngoài hốc bán nguyệt bàn thờ ở phía Đông như các nhà thờ Byzantine thông thường, Thánh Athanasiô đã cho mở thêm hai hốc bán nguyệt lớn ở hai bên tường Bắc và Nam (Choroi) để tạo không gian vang âm cho hai ca đoàn đan sĩ đứng đối diện nhau hát thánh ca đối đáp suốt đêm, bên trong phủ kín bích họa năm 1535 của danh họa Theophanes xứ Crete.

Thư viện và Phòng bảo vật của Đan viện Đại Lavra lưu giữ những báu vật nào?

Thư viện của Đại Lavra là một trong những kho lưu trữ thủ bản tiếng Hy Lạp cổ lớn nhất thế giới với 2.116 bản thảo viết tay (trong đó có 470 bản viết trên giấy da từ thế kỷ 6 như Codex Coislinianus, bản thảo thực vật học cổ của Dioscorides và cuộn kinh phụng vụ dài hơn 8 mét) cùng hơn 20.000 sách in cổ. Phòng bảo vật còn lưu giữ cuốn Kinh Phúc Âm bọc vàng nạm ngọc nặng 15 kg, vương miện và áo choàng của Hoàng đế Nikephoros II Phokas cùng mảnh gỗ Thánh Giá Chúa Giêsu.

Giờ Đông La Mã (Byzantine Time) được sử dụng tại Đan viện Đại Lavra được tính như thế nào?

Khác với giờ quốc tế lấy nửa đêm làm mốc 0 giờ, các đan viện trên Núi Athos điều chỉnh đồng hồ theo Giờ Đông La Mã cổ truyền dựa trên Kinh Thánh Sáng Thế Ký, theo đó một ngày phụng vụ mới bắt đầu ngay vào lúc Mặt Trời lặn (lúc Mặt Trời lặn đồng hồ đan viện chỉ đúng 0 giờ 00 phút hay 12 giờ). Đồng thời, Núi Athos vẫn dùng lịch Julius cũ chậm hơn dương lịch hiện đại đúng 13 ngày.

›Đọc Tiếp