VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Hosios Loukas, Boeotia

Hosios Loukas Monastery, Μονή Οσίου Λουκά (Moni Osiou Louka), Tu viện Thánh Luca vùng Steiris

Thánh địa đan tu ẩn mình giữa những thung lũng ô liu trên sườn tây núi thiêng Helicon vùng Boeotia, nơi lưu giữ kiến trúc vòm bát giác và hệ tranh khảm nền vàng nguyên vẹn bậc nhất của kỷ nguyên Phục hưng Macedonia thế kỷ 11.

Khai sơn
Năm 946 SCN
Tổ sư: Thánh Luca vùng Steiris
Kiến trúc
Thế kỷ 10 và 11
Nhà thờ đôi và Hầm mộ Thánh Barbara
Xếp hạng
Di sản UNESCO (1990)
Tranh khảm vàng và họa tiết giả Kufic

Nằm ở độ cao khoảng 460 mét trên một sườn đồi thoai thoải thuộc triền tây dãy núi Helicon, nhìn xuống một thung lũng tròn trồng kín cây ô liu và cây hạnh nhân gần làng Steiris vùng Boeotia, Tu viện Hosios Loukas hiện ra với vẻ tĩnh mặc cổ kính của những bức tường xây xen kẽ đá cẩm thạch, đá vôi và gạch nung đỏ thẫm. Không mang dáng vẻ thành lũy dựng đứng trên vách đá biển khơi như các đan viện trên bán đảo Núi thiêng Athos hay cheo leo trên đỉnh trụ đá như Tu viện Meteora, Hosios Loukas trải rộng theo một vòng tường đa giác ôm lấy hai ngôi thánh đường cổ nối liền nhau trên cùng một trục bắc nam.

Khi bước qua tiền sảnh để tiến vào dưới mái vòm bán cầu đường kính 9 mét của tòa Đại giáo đường (Katholikon), ánh sáng tự nhiên từ những ô cửa sổ trên cao chiếu vào hàng triệu viên thủy tinh khảm lá vàng nguyên chất từ đầu thế kỷ 11, làm bừng sáng hình ảnh các vị tổng lãnh thiên thần, các tông đồ và chư thánh khổ hạnh giữa không gian ốp đá cẩm thạch đa sắc. Cùng với Tu viện Daphni ở ngoại ô Athens và Tu viện Nea Moni trên đảo Chios, quần thể Hosios Loukas được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới vào năm 1990 như một chuẩn mực đỉnh cao của nghệ thuật và kiến trúc Đế quốc Đông La Mã thời kỳ Trung đại.

Tu viện Hosios Loukas, Boeotia
Tu viện Hosios Loukas, Boeotia. Ảnh: C messier, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThánh Tổ Khai Sơn Luca Vùng Steiris Và Lời Tiên Tri Giải Phóng Đảo Crete

Tên gọi Hosios Loukas (nghĩa là Đấng Đáng kính hay Thánh nhân khổ hạnh Luca) dùng để tôn vinh vị ẩn sĩ, nhà chữa bệnh tâm linh và nhà tiên tri Luca vùng Steiris (sinh năm 896, viên tịch ngày 7 tháng 2 năm 953 sau Công nguyên), một trong những vị thánh đan tu được sùng kính bậc nhất của Chính Thống giáo Đông phương tại vùng lục địa Hy Lạp. Theo bản tiểu sử cổ (Vita) do một đệ tử ẩn danh của ngài biên soạn ngay sau năm 953, tổ tiên của Thánh Luca vốn sinh sống trên đảo Aegina nhưng phải di tản vào vùng đất liền Phocis và định cư tại làng Kastorion (nay là thị trấn Delphi) để tránh các cuộc tập kích của hải tặc Saracen hồi thế kỷ thứ 9.

Từ thuở thiếu thời, cậu bé Stephen (tên thế tục của ngài) đã đem hết phần ăn và áo mặc của mình chia sẻ cho người nghèo khó và dành trọn thời gian cầu nguyện trong rừng vắng. Năm mười bốn tuổi (khoảng năm 910), nhân dịp hai đan sĩ từ Rôma đi ngang qua làng trên đường hành hương về Giê-ru-sa-lem, ngài đã lén theo họ tới tận Athens để thọ giới đan sĩ tại Tu viện Đức Mẹ Đồng Trinh. Sau khi trở về ẩn tu suốt nhiều năm trên ngọn núi Ioannitza gần Corinth rồi chuyển sang vùng đất ven biển Kalamion và hòn đảo hoang Ampelos để tránh các cuộc xâm lược của quân Bulgaria dưới thời Sa hoàng Simeon I, vào năm 946 vị ẩn sĩ đã tìm đến một khe suối yên tĩnh gần ngôi làng cổ Steiris dưới chân núi Helicon để dựng am thất cuối cùng của đời mình.

Theo giáo nghĩa

Trong truyền thống tu đức Chính Thống giáo thời kỳ thế kỷ thứ 10, Thánh Luca vùng Steiris được tôn vinh như một bậc thầy đạt tới ân sủng thấu thị tâm can (kardiognosia), chữa lành bệnh tật bằng lời cầu nguyện và hòa điệu trọn vẹn với muôn loài tạo vật, sách tiểu sử ghi lại rằng chim muông trên rừng thường đậu xuống ăn hạt ngay trên lòng bàn tay ngài và những con hươu hoang dã thường tới nghe ngài đọc kinh. Đặc biệt, sinh thời ngài nổi tiếng khắp Đế quốc Đông La Mã nhờ lời tiên tri chính xác được đưa ra khoảng năm 941: ngài báo trước rằng một vị Hoàng đế La Mã mang tên Romanos sẽ thu phục lại đảo Crete (vốn bị các tiểu vương Ả Rập chiếm đóng từ thập niên 820 và biến thành căn cứ hải tặc khống chế vùng biển Aegea).

Huyền tích dầu thơm chữa bệnh (Myron) và sự bảo trợ của triều đình Constantinopolis

Tại am thất Steiris, Thánh Luca cùng các môn đệ khai khẩn vườn tược, đào giếng nước và bắt đầu khởi công xây dựng một ngôi nhà thờ nhỏ dâng kính Thánh nữ Tử đạo Barbara dưới sự tài trợ của vị tướng quân cai quản vùng Hellas (strategos) là Krinites Arotras. Tuy nhiên, khi công trình còn chưa hoàn tất thì vào ngày 7 tháng 2 năm 953, Thánh Luca lâm trọng bệnh và dặn lại người đệ tử thân tín là linh mục Gregorios hãy chôn cất xác mình ngay dưới nền căn phòng đơn sơ nơi ngài đang nằm, đồng thời tiên báo rằng Thiên Chúa sẽ làm vinh danh chốn này và quy tụ hàng vạn tín hữu tìm về.

Đúng tám năm sau khi ngài viên tịch, vào tháng 3 năm 961, dưới triều Hoàng đế Romanos II (trị vì 959 tới 963), đại tướng Nikephoros Phokas (người sau đó lên ngôi Hoàng đế và cũng là người bảo trợ cho Thánh Athanasios dựng Đại Lavra trên núi Athos) đã chỉ huy hạm đội Đông La Mã giải phóng hoàn toàn đảo Crete, ứng nghiệm trọn vẹn lời tiên tri năm xưa của vị ẩn sĩ vùng Steiris. Cùng thời điểm đó, từ ngôi mộ đá của Thánh Luca tỏa ra một chất dầu thơm tinh khiết có năng lực chữa lành kỳ diệu (myron, vì thế ngài mang danh hiệu Myroblytes). Nhiều cư dân và khách hành hương mắc bệnh nan y từ khắp đế quốc đã tìm tới ngủ lại bên cạnh mộ thánh (nghi thức incubation cổ truyền) để cầu xin ơn cứu chữa, biến ngôi am thất nhỏ trên núi Helicon thành một trung tâm hành hương được đích thân các hoàng đế tại kinh đô Constantinopolis gửi thợ cả và vàng bạc về kiến thiết.

Theo sử liệu

Theo biên niên sử của đan viện, sau cuộc Thập tự chinh thứ tư năm 1204, khi vùng Boeotia rơi vào tay các công tước thập tự quân phương Tây (Công quốc Athens và Thebes), hài cốt thiêng liêng của Thánh Luca đã bị đưa khỏi hầm mộ và chuyển qua vùng Epirus, đảo Corfu rồi lưu lạc sang tận thành phố Venice (Ý) để tránh chiến sự, chỉ còn lại chiếc quách đá cẩm thạch rỗng tại trung tâm hầm mộ. Trải qua hơn bảy thế kỷ chia cắt, vào tháng 12 năm 1986, Giáo hội Công giáo tại Venice đã chính thức trao trả thánh tích nguyên vẹn của Thánh Luca vùng Steiris về lại Tu viện Hosios Loukas, đặt lại vào chính chiếc quách đá cổ xưa dưới lòng Đại giáo đường trong niềm xúc động lớn lao của tín hữu Chính Thống giáo.

IILịch Sử Kiến Tạo Qua Mười Thế Kỷ: Từ Am Thất Steiris Tới Di Sản Thế Giới

Sự phát triển không gian kiến trúc của Tu viện Hosios Loukas gắn liền trực tiếp với việc tôn tạo ngôi mộ của vị thánh tổ khai sơn và sự hưng thịnh của vương triều Macedonia (867 tới 1056) tại Đế quốc Đông La Mã. Ngay sau khi Thánh Luca viên tịch năm 953, các môn đệ đã hoàn thiện ngôi nhà thờ Thánh Barbara và chỉ hai năm sau (năm 955) đã nâng cao mặt sàn căn phòng nơi ngài an nghỉ để biến nơi đây thành một nguyện đường chữ thập tôn nghiêm bao bọc lấy ngôi mộ đá.

Sau chiến thắng vang dội thu phục đảo Crete năm 961, để tạ ơn lời tiên tri của Thánh Luca, triều đình Đông La Mã (hoặc các tướng lĩnh cao cấp dưới quyền Hoàng đế Romanos II và tướng Nikephoros Phokas) đã cử các kiến trúc sư và thợ xây từ kinh đô Constantinopolis tới Steiris để xây dựng ngôi Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh (Theotokos hay Panagia) nằm ngay phía bắc ngôi mộ thánh. Đây chính là ngôi nhà thờ kiểu chữ thập nội tiếp bốn cột theo trường phái kinh đô cổ xưa nhất được xác định niên đại rõ ràng còn tồn tại trên vùng đất liền Hy Lạp.

  • 946 - 953Thánh Luca vùng Steiris lập am thất và viên tịch
    Năm 946, ẩn sĩ Luca tìm tới sườn núi Helicon gần làng Steiris lập am tu hành và khởi dựng nhà thờ Thánh Barbara nhờ sự trợ giúp của tướng quân Krinites Arotras. Ngày 7 tháng 2 năm 953, ngài viên tịch và được an táng ngay dưới nền phòng tu của mình.
  • 961 - 966Ứng nghiệm lời tiên tri đảo Crete và xây Nhà thờ Đức Mẹ (Theotokos)
    Sau khi tướng Nikephoros Phokas dưới triều Hoàng đế Romanos II giải phóng đảo Crete năm 961 đúng như lời tiên tri của Thánh Luca, ngôi Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh được xây dựng theo chuẩn mực kiến trúc kinh đô Constantinopolis với tường gạch trang trí chữ giả Kufic.
  • 1011 - 1012Viện trưởng Philotheos xây dựng Đại giáo đường (Katholikon)
    Do lượng khách hành hương đổ về nhận dầu thơm chữa bệnh từ mộ thánh ngày càng đông, Viện trưởng (Hegumenos) Philotheos đã cho xây dựng tòa Đại giáo đường đồ sộ ở phía nam Nhà thờ Đức Mẹ, đặt hầm mộ Thánh Barbara chứa quách đá của Thánh Luca nằm ngay dưới gầm gian giữa hai nhà thờ.
  • Thập niên 1020 - 1040Hoàn thiện hệ tranh khảm vàng và bích họa Hầm mộ
    Dưới sự bảo trợ của giới quý tộc vùng Thebes và triều đình (nhiều học giả gắn với thời Hoàng đế Konstantinos IX Monomachos), toàn bộ phần trên của Đại giáo đường được phủ tranh khảm nền vàng lộng lẫy, tường dưới ốp đá cẩm thạch đa sắc và hầm mộ được vẽ kín bích họa.
  • 1205 - 1311Thời kỳ Công quốc Frankish và Dòng Đền quản lý
    Sau cuộc Thập tự chinh thứ tư, vùng Boeotia thuộc quyền cai quản của các lãnh chúa phương Tây, tu viện từng được giao cho các tu sĩ La-tinh trước khi các đan sĩ Chính Thống giáo khôi phục lại đời sống phụng tự truyền thống dưới thời Công quốc Catalan và Ottoman.
  • 1593 và 1659Động đất lớn và đợt trùng tu mái vòm
    Các trận động đất mạnh tại vùng vịnh Corinth làm nứt vỡ đỉnh vòm trung tâm của Đại giáo đường khiến bức tranh khảm Chúa Toàn Năng (Pantokrator) trên đỉnh vòm bị rơi rụng, sau đó được các họa sĩ hậu kỳ Đông La Mã vẽ phục hồi lại bằng bích họa (fresco) giữ đúng bố cục nguyên thủy.
  • 1938 - 1965Trùng tu khảo cổ của Eustathios Stikas và Viện Khảo cổ Hy Lạp
    Giáo sư kiến trúc sư Eustathios Stikas chỉ đạo chương trình gia cố kết cấu, bóc tách các lớp vôi quét muộn màng, phục dựng nhà ăn cổ (Refectory) và làm sạch toàn bộ bề mặt đá cẩm thạch cùng tranh khảm vàng của hai ngôi thánh đường.
  • 1986 và 1990Nghinh đón thánh tích từ Venice và ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    Tháng 12 năm 1986, thánh cốt của Tổ sư Luca được hoàn trả từ Venice về đặt lại vào quách đá cổ trong hầm mộ. Năm 1990, UNESCO chính thức công nhận Tu viện Hosios Loukas là Di sản Thế giới (mã số 537).

Dấu mốc quan trọng nhất định hình diện mạo vĩ đại của quần thể diễn ra vào đầu thế kỷ 11 dưới sự điều hành của Viện trưởng Philotheos (người được khắc họa chân dung hai lần trên tường tu viện trong tư thế dâng mô hình ngôi nhà thờ lên Thánh Luca). Vào khoảng năm 1011 hoặc 1012, thay vì phá bỏ ngôi nhà thờ cũ, Viện trưởng Philotheos đã thiết kế một giải pháp kiến trúc vô cùng tài tình: ông giữ nguyên Nhà thờ Đức Mẹ ở phía bắc, san phẳng các công trình nhỏ phía nam để dựng lên tòa Đại giáo đường (Katholikon) cao lớn gấp bội nằm sát vách phía nam của Nhà thờ Đức Mẹ, sao cho góc đông bắc của Đại giáo đường và góc tây nam của Nhà thờ Đức Mẹ giao nhau tạo thành một hành lang nghi lễ (Liti) nằm ngay phía trên ngôi mộ gốc của Thánh Luca trong tầng hầm.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi phát quang một bức tường cũ trong quá trình trùng tu năm 1964 tại mặt ngoài bức tường phía tây của Nhà thờ Đức Mẹ (vốn bị che khuất từ thế kỷ 11 khi người ta xây sát tòa Đại giáo đường vào cạnh đó), các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra bức bích họa tuyệt đẹp từ nửa sau thế kỷ thứ 10 còn giữ nguyên màu sắc tươi mới nhờ được bức tường mới che chở suốt hơn chín trăm năm. Bức tranh khắc họa thủ lĩnh Giô-suê (Joshua) mặc giáp trụ chiến binh Đông La Mã đang đứng trước Tổng lãnh thiên thần Michael rút gươm trần trước trận đánh thành Giê-ri-cô, một biểu tượng nghệ thuật trực tiếp ca ngợi cuộc chiến thắng thu phục đảo Crete năm 961 của quân đội Đông La Mã.

IIIKiến Trúc Nhà Thờ Đôi, Vòm Bát Giác Trên Vòm Góc Và Nghệ Thuật Tranh Khảm Vàng

Quần thể Tu viện Hosios Loukas là di tích duy nhất tại Hy Lạp bảo tồn song song hai kiểu hình kiến trúc nhà thờ quan trọng nhất của thời kỳ Trung kỳ Đông La Mã (thế kỷ 10 và thế kỷ 11) nằm sát cạnh nhau. Ngôi nhà thờ thứ nhất ở phía bắc là Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh (Theotokos, xây khoảng thập niên 960), mang cấu trúc chữ thập nội tiếp bốn cột phức hợp (compound four-column cross-in-square) có tiền sảnh rộng và ba hậu cung nhô ra ở phía đông. Toàn bộ mặt tường ngoài của nhà thờ này được xây theo kỹ thuật cloisonné (opus mixtum): mỗi tảng đá vôi và đá cẩm thạch đẽo vuông vức đều được bao viền xung quanh bởi các hàng gạch nung đỏ mỏng đặt nằm ngang và dựng đứng. Đặc biệt, các viên gạch đỏ còn được cắt tỉa và xếp thành những băng hoa văn mô phỏng chữ viết Kufic Ả Rập (pseudo-Kufic), một motif trang trí độc đáo lấy cảm hứng từ các chiến lợi phẩm dệt may và kim khí thu được sau chiến thắng trước Vương tiểu quốc Ả Rập tại đảo Crete.

Ngôi nhà thờ thứ hai ở phía nam là tòa Đại giáo đường (Katholikon, xây năm 1011 tới 1012), tác phẩm cổ xưa nhất và hoàn chỉnh nhất còn tồn tại của kiểu kiến trúc vòm bát giác trên vòm góc (cross-in-octagon hay domed-octagon on squinches). Thay vì dùng bốn cây cột mảnh ở giữa lòng nhà thờ khiến tầm nhìn bị chia cắt, kiến trúc sư của Đại giáo đường đã mở rộng không gian trung tâm (naos) thành một khoảng trống vuông vức mênh mông được bao bọc bởi tám trụ tường hình chữ L cực kỳ vững chãi. Từ tám trụ tường này ở độ cao tầng lầu, bốn vòm bán cầu nhỏ ở bốn góc chéo (gọi là vòm góc squinches) kết hợp với bốn vòm cuốn chính ở bốn hướng đông, tây, bắc, nam đã chuyển tiếp mặt bằng hình vuông bên dưới thành một vòng chân đế hình bát giác đều đặn để nâng đỡ chiếc mái vòm bán cầu khổng lồ có đường kính lên tới 9 mét mà không cần bất kỳ một cây cột chống nào ở giữa lòng điện.

Theo sử liệu

Bước vào bên trong Đại giáo đường, người chiêm bái được bao bọc trong một không gian mô phỏng trực tiếp bầu trời Thiên quốc theo thần học ánh sáng của Đông La Mã. Toàn bộ phần tường từ mặt sàn lên tới độ cao vòm cuốn tầng lầu đều được ốp kín bằng những tấm đá cẩm thạch nguyên tấm xẻ đối xứng vân đá (kỹ thuật Opus sectile), kết hợp đá cẩm thạch xanh lục vùng Thessaly, đá đỏ vùng Mani, đá xám vân trắng vùng Karystos và các dải diềm đá cẩm thạch trắng chạm lộng hoa văn rồi cẩn nhựa thông đen hòa sáp ong. Phía trên lớp đá cẩm thạch tượng trưng cho mặt đất trần gian ấy là thế giới siêu việt của các bức tranh khảm (mosaics) ghép từ hàng triệu viên đá màu và thủy tinh bọc lá vàng (smalti) đặt nghiêng theo nhiều góc độ khác nhau trên các bề mặt vòm cong để phản chiếu ánh nến và ánh nắng mặt trời.

Theo các nhà sử học nghệ thuật Đông La Mã (như Ernst Diez, Otto Demus và Nano Chatzidakis), hệ tranh khảm của Hosios Loukas vào nửa đầu thế kỷ 11 mang phong cách khổ hạnh trang nghiêm (hieratic ascetic style): các nhân vật có dáng đứng thẳng tắp, đôi mắt mở to sâu thẳm nhìn thẳng vào người cầu nguyện, đường nét y phục tiết chế nhưng tràn đầy nội lực tâm linh trên nền vàng rực rỡ không có cảnh vật trần thế làm phân tâm. Bốn bức tranh khảm trong bốn vòm góc squinches dưới chân mái vòm chính tái hiện bốn đại lễ trong cuộc đời Chúa Giê-su theo thứ tự chiều kim đồng hồ: Truyền Tin (nay đã mất lớp khảm), Giáng Sinh tại hang đá Bê-lem (Nativity), Dâng Chúa vào Đền Thờ (Presentation in the Temple) và Lễ Chúa Chịu Phép Rửa trên sông Gio-đanh (Baptism).

Hầm mộ Thánh Barbara và Tiền sảnh tranh khảm Cuộc Thương Khó

Nằm ngay tại khu tiền sảnh (Narthex) của Đại giáo đường là bốn bức tranh khảm nổi tiếng bậc nhất về chu kỳ Thương Khó và Phục Sinh: trên vòm hốc phía bắc là cảnh Chúa Giê-su cúi mình Rửa Chân cho các môn đệ (Nipter) với cử chỉ khiêm nhường sống động của Thánh Phê-rô đưa tay chỉ lên đầu mình, phía trên cửa chính dẫn vào nội điện là bức khảm Chúa Kitô Đấng Toàn Năng (Christ Pantokrator) tay trái mở sách Tin Mừng tại câu Ta là ánh sáng thế gian (Gioan 8:12), đối diện bên phải là cảnh Đóng Đinh trên Thập Giá (Crucifixion) và cảnh Chúa Kitô Phục Sinh ngự xuống Âm phủ (Anastasis), đạp vỡ cánh cửa đồng của thần chết Hades để nắm tay kéo tổ phụ A-đam và tổ mẫu E-va bước ra khỏi nấm mồ bên cạnh vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn.

Từ bậc thang ở sườn nam của Đại giáo đường, khách hành hương bước xuống tầng ngầm là Hầm mộ Thánh Barbara (Crypt of Saint Barbara), ngôi nhà thờ dưới lòng đất có trần vòm cuốn đan chéo đỡ bởi bốn cột đá. Toàn bộ trần và tường của hầm mộ được phủ kín bởi hệ bích họa (frescoes) rực rỡ vẽ vào khoảng thập niên 1030 tới 1040, bao gồm bốn mươi vòng tròn chân dung các vị viện trưởng và các bậc thánh tu sĩ của đan viện. Ngay ở góc phía bắc của hầm mộ, nằm chính xác dưới điểm giao nhau của hai ngôi nhà thờ tầng trên, là ngôi mộ thánh (Kouvouklion) có bốn cột cẩm thạch chạm khắc bao quanh chiếc quách đá lưu giữ thánh tích của Tổ sư Luca vùng Steiris.

Đại giáo đường (Katholikon, năm 1011 - 1012)

Kiệt tác mở đầu kiểu kiến trúc vòm bát giác trên vòm góc (domed-octagon on squinches) thời Trung kỳ Đông La Mã, với mái vòm bán cầu đường kính 9 mét vươn cao trên không gian nội điện ốp đá cẩm thạch đa sắc (Opus sectile) và hơn 150 bức tranh khảm chân dung các vị thánh.

Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh (Theotokos, khoảng năm 961 - 966)

Ngôi nhà thờ cổ nhất của quần thể ở phía bắc, xây dựng theo kiểu chữ thập nội tiếp bốn cột chuẩn kinh đô Constantinopolis, nổi tiếng với tường ngoài xây kiểu cloisonné gắn gạch đỏ xếp hình chữ giả Kufic Ả Rập và sàn đá khảm hoa văn hình học (Opus alexandrinum).

Hệ tranh khảm vàng thế kỷ 11 (Byzantine Gold Mosaics)

Tập hợp tranh khảm nền vàng nguyên vẹn nhất thế kỷ 11 tại Hy Lạp, gồm cảnh Lễ Hiện Xuống (Pentecost) trên vòm cung thánh, cảnh Giáng Sinh, Dâng Chúa vào Đền Thờ, Phép Rửa trên các vòm góc, cùng cảnh Rửa Chân, Đóng Đinh và Phục Sinh (Anastasis) tại khu tiền sảnh.

Hầm mộ Thánh Barbara và Quách đá Thánh Luca (Crypt)

Nhà thờ ngầm dưới nền Đại giáo đường được bao phủ hoàn toàn bằng bích họa thế kỷ 11, nơi đặt ngôi mộ cẩm thạch (Kouvouklion) có các rãnh thoát dầu thơm kỳ diệu (myron) và lưu giữ thánh cốt của Thánh Luca được hoàn trả từ Venice năm 1986.

Bích họa Thủ lĩnh Giô-suê và Tổng lãnh thiên thần Michael

Bức bích họa quý hiếm từ nửa sau thế kỷ 10 phát hiện năm 1964 trên mặt tường ngoài phía tây của Nhà thờ Đức Mẹ, khắc họa Giô-suê trong trang phục tướng lĩnh Đông La Mã đối diện thiên thần, kỷ niệm cuộc giải phóng đảo Crete năm 961.

Nhà ăn cổ (Trapeza / Refectory) và Tháp chuông

Tòa nhà ăn lớn bằng đá có hậu cung bán nguyệt nằm ở phía nam Đại giáo đường (cùng niên đại thế kỷ 11, được phục dựng sau năm 1950), hiện trưng bày bộ sưu tập điêu khắc đá cẩm thạch Đông La Mã đặc sắc của tu viện.

IVThế Đất Và Hướng

Trong thần học kiến trúc và quy phạm đan viện của Chính Thống giáo Đông phương, việc chọn đất và định hướng thánh đường không sử dụng thuật phong thủy hình thế của Á Đông, mà dựa trên lý tưởng rút lui khỏi thế gian (anachoresis) của các giáo phụ sa mạc kết hợp với quy tắc định hướng phụng vụ bắt buộc về phương Đông (Ad orientem). Cả hai ngôi nhà thờ Theotokos và Katholikon cùng Hầm mộ Thánh Barbara bên dưới đều xoay trục dọc chính xác từ Tây sang Đông: tín hữu bước vào từ tiền sảnh phía Tây và hướng toàn bộ thân tâm về phía cung thánh bán nguyệt (Bema) ở đầu phía Đông để đón chờ Đức Kitô, Đấng được Kinh Thánh tôn xưng là Mặt Trời Công Chính và Ánh Bình Minh từ trời cao (Lu-ca 1:78). Phần phân tích dưới đây mượn góc nhìn của phép hình thế cổ truyền phương Đông để đối chiếu địa cục tự nhiên kỳ vĩ của sườn núi Helicon nơi Thánh Luca đã chọn làm chốn tịch tĩnh cuối đời.

Thế đất và hướng

Xét trên đại địa hình vùng Trung Hy Lạp (giao giới giữa hai vùng cổ đại Phocis và Boeotia) tại tọa độ 38,3954 độ vĩ bắc và 22,7468 độ kinh đông, Tu viện Hosios Loukas tọa lạc ở cao độ khoảng 460 mét trên một thềm đất nhô ra từ sườn phía tây của khối núi thiêng Helicon (ngọn núi cao 1.748 mét vốn là thánh địa của chín nàng thơ Muses trong cổ sử Hy Lạp), đồng thời nhận mạch khí liên hoàn từ khối núi Parnassus hùng vĩ (cao 2.457 mét, nơi có đền thờ Delphi cổ đại) nằm ở phía tây bắc. Địa thế nơi đây mang hình dáng một chiếc ghế bành khổng lồ tự nhiên (khai trướng kết huyệt): lưng tu viện tựa vững chãi vào vách núi đá vôi cao của dãy Helicon ở phía đông và đông bắc làm hậu chẩm che chắn hoàn toàn những cơn gió bấc lạnh giá mùa đông, trong khi phía trước mở ra một thung lũng trũng tròn trĩnh như lòng chảo đường kính khoảng 3 kilômét được bao bọc kín đáo bởi các dải đồi thấp uốn lượn liên tiếp.

Xét về tầm nhìn minh đường, tiền án và thủy pháp, toàn bộ thung lũng tròn trồng bạt ngàn cây ô liu và cây hạnh nhân nằm ngay dưới chân sườn đồi phía tây nam của tu viện đóng vai trò là một nội minh đường xanh mát, bằng phẳng và tụ khí. Ngay bên dưới chân tường thành tu viện là mạch nước ngầm tự nhiên chảy ra từ khe đá núi Helicon (chính là con suối cổ nơi Thánh Luca đã dừng chân lập am và trồng vườn vào năm 946), cung cấp nguồn sinh thủy quanh năm không bao giờ cạn giữa vùng núi đá vôi khô hạn. Hai nhánh núi vươn dài từ khối Helicon chạy vòng qua hai bên sườn làng Steiris ở phía bắc và dải đồi về phía vịnh Antikira (vịnh Corinth) ở phía nam tạo thành thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ giao khóa nhiều tầng, khiến người đứng ở ngoài biển hay trên các trục đường lớn hoàn toàn không thể nhìn thấy tu viện, nhưng từ sân hiên phía đông nam của đan viện lại có thể phóng tầm mắt bao quát trọn vẹn cả thung lũng và các tầng án sơn trùng điệp. Thế đất tàng phong tụ khí vừa kín đáo cách biệt để bảo vệ đan viện khỏi các cuộc cướp phá từ bờ biển, vừa khoáng đạt thanh u này đã giúp Hosios Loukas giữ vẹn nguyên kho tàng tranh khảm vàng suốt gần một thiên niên kỷ.

VCác Kỳ Đại Lễ Phụng Vụ Và Hành Hương Tại Tu Viện Hosios Loukas

Khác với những phế tích khảo cổ chỉ còn giá trị tham quan lịch sử, Tu viện Hosios Loukas vẫn là một đan viện nam đang hoạt động sống động trực thuộc Giáo phận Thebes và Livadeia của Giáo hội Chính Thống giáo Hy Lạp. Hằng ngày, tiếng chuông đồng và tiếng gõ thanh gỗ báo hiệu giờ kinh (talanton) vẫn vang vọng giữa thung lũng núi Helicon, triệu tập các đan sĩ bước vào Đại giáo đường và Hầm mộ Thánh Barbara để cử hành các giờ kinh Phụng vụ theo truyền thống Đông La Mã dưới ánh nến lung linh phản chiếu trên các vòm khảm vàng.

Trong năm phụng vụ của Giáo hội Chính Thống giáo Hy Lạp (áp dụng lịch Julius cải tiến từ năm 1924, trùng ngày với dương lịch đối với các lễ cố định), có hai kỳ đại lễ hành hương lớn nhất (Panegyris) gắn trực tiếp với cuộc đời và thánh tích của vị tổ sư khai sơn là ngày 7 tháng 2 (Kỷ niệm ngày Thánh Luca vùng Steiris viên tịch năm 953) và ngày 3 tháng 5 (Kỷ niệm lễ Cải táng và Tôn phong hiển thánh hài cốt của ngài vào năm 1011 khi khánh thành Đại giáo đường). Trong hai dịp lễ này, các giám mục, tu sĩ và hàng ngàn tín hữu từ khắp vùng Boeotia, Phocis và thủ đô Athens quy tụ về đan viện tham dự đêm canh thức trọn đêm (Agrypnia), rước kiệu thánh tích quanh sân tu viện và xuống Hầm mộ cầu xin ơn chữa lành cho người đau yếu.

Giáo hội Chính Thống giáo Hy Lạp cử hành các lễ cố định theo lịch Julius cải tiến (trùng ngày dương lịch), còn lễ Phục Sinh tính theo lịch Paschalion cổ truyền. Nguồn: Tổng hợp từ Giáo phận Thebes và Livadeia (Giáo hội Chính Thống giáo Hy Lạp), Tu viện Hosios Loukas và Bộ Văn hóa Hy Lạp..
Tên lễ tiết phụng vụThời điểm (Lịch Chính Thống giáo Hy Lạp / Dương lịch)Nghi thức chính và ý nghĩa tâm linh tại Tu viện Hosios Loukas
Đại lễ Kỷ niệm Thánh Tổ Luca vùng Steiris viên tịch (Κοίμησις Οσίου Λουκά)Ngày 7 tháng 2 hằng nămKỷ niệm ngày Thánh Luca an nghỉ trong Chúa năm 953. Cử hành Đêm canh thức trọng thể (Agrypnia) tại Đại giáo đường và Hầm mộ, mở nắp quách đá cẩm thạch để tín hữu kính viếng thánh cốt được hoàn trả từ Venice và xức dầu từ đèn chầu trên mộ thánh.
Lễ Cải táng Thánh tích Thánh Luca và Khánh thành Đại giáo đường (Ανακομιδή Ιερών Λειψάνων)Ngày 3 tháng 5 hằng nămKỷ niệm sự kiện Viện trưởng Philotheos rước thánh cốt của Tổ sư Luca đặt vào ngôi mộ Kouvouklion tại giao điểm hai nhà thờ vào năm 1011. Đoàn rước kiệu thánh tích và linh ảnh đi vòng quanh quần thể đan viện giữa cảnh sắc mùa xuân trên núi Helicon.
Đại lễ Đức Mẹ An Giấc tại Nhà thờ Theotokos (Κοίμησις της Θεοτόκου)Ngày 15 tháng 8 hằng nămLễ bổn mạng của ngôi Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh thế kỷ 10 nằm ở phía bắc quần thể, cử hành Thánh lễ Thượng phụ và ban phép lành cho cư dân các làng xã quanh vùng Steiris và Distomo.
Lễ Thánh nữ Tử đạo Barbara tại Hầm mộ (Αγίας Βαρβάρας)Ngày 4 tháng 12 hằng nămLễ bổn mạng của ngôi nhà thờ ngầm dưới tầng hầm (Crypt of Saint Barbara), vốn là ngôi nguyện đường đầu tiên được Thánh Luca khởi dựng vào giữa thế kỷ thứ 10 trước khi ngài viên tịch.
Tuần Thánh và Đại lễ Phục Sinh (Μεγάλη Εβδομάδα και Πάσχα)Tháng 4 hoặc tháng 5 (Lịch Phục Sinh Chính Thống giáo)Cử hành nghi thức Rửa Chân ngày Thứ Năm Tuần Thánh ngay dưới bức tranh khảm Chúa Rửa Chân thế kỷ 11 tại tiền sảnh, rước kiệu Mộ Chúa (Epitaphios) đêm Thứ Sáu Tuần Thánh và đón ánh lửa Phục Sinh dưới bức khảm Chúa Phục Sinh (Anastasis).

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Steiris, Distomo 320 05, vùng Boeotia, Trung Hy Lạp (Μονή Οσίου Λουκά, Στείρι Βοιωτίας)
Đường tới
Từ thủ đô Athens (cách khoảng 170 kilômét về phía tây bắc), quý vị có thể đi xe buýt liên tỉnh KTEL từ bến Liosion tới thành phố Livadeia rồi đi tiếp xe buýt địa phương hoặc taxi qua thị trấn Distomo và làng Steiris để lên tới cổng Tu viện Hosios Loukas, rất nhiều người hành hương kết hợp lộ trình này trên cùng cung đường từ Athens đi thánh địa cổ Delphi (chỉ cách tu viện khoảng 35 kilômét về phía tây).
Toạ độ
38.3954, 22.7468
Khi tới nơi

Vì Tu viện Hosios Loukas là một đan viện Chính Thống giáo đang có các tu sĩ tu tập hằng ngày, quý vị cần mặc trang phục kín đáo truyền thống trước khi qua cổng tu viện: cả nam và nữ đều phải che kín vai và đầu gối (không mặc quần ngắn, áo sát nách), nữ giới nên mặc váy dài qua gối và quàng khăn nhẹ khi vào trong Đại giáo đường hoặc Hầm mộ. Khi chiêm ngưỡng các bức tranh khảm vàng thế kỷ 11 trong Đại giáo đường và bích họa dưới Hầm mộ Thánh Barbara, quý vị tuyệt đối không bật đèn flash máy ảnh, không chạm tay vào các bức tường đá cẩm thạch hay lớp vữa bích họa, và giữ trật tự tuyệt đối để tôn trọng không gian cầu nguyện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Hosios Loukas, Boeotia

Contribute photos, information or video for Hosios Loukas

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Hosios Loukas có nghĩa là gì và vị thánh này có phải là Thánh sử Luca viết sách Tin Mừng không?

Hosios Loukas không phải là Thánh Tông đồ Luca (tác giả sách Tin Mừng thứ ba ở thế kỷ thứ nhất), mà là Thánh Luca vùng Steiris (sinh năm 896, mất ngày 7 tháng 2 năm 953), một vị ẩn sĩ khổ hạnh, nhà chữa bệnh tâm linh và nhà tiên tri người Hy Lạp sống vào thế kỷ thứ 10. Từ Hosios trong tiếng Hy Lạp dùng để tôn xưng các vị thánh đan tu khổ hạnh, khác với từ Hagios thường dùng cho các vị thánh tử đạo và các tông đồ.

Vì sao trong cùng một tu viện Hosios Loukas lại có hai ngôi nhà thờ lớn xây dính liền vào nhau?

Ngôi nhà thờ nhỏ hơn ở phía bắc là Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh (Theotokos), được xây dựng vào khoảng thập niên 960 ngay bên cạnh ngôi mộ của Thánh Luca sau khi lời tiên tri của ngài về việc giải phóng đảo Crete ứng nghiệm. Đến đầu thế kỷ 11 (năm 1011 tới 1012), khi lượng khách hành hương đổ về xin dầu thơm chữa bệnh từ mộ thánh tăng vọt, Viện trưởng Philotheos đã giữ nguyên nhà thờ cũ và xây thêm tòa Đại giáo đường (Katholikon) lớn hơn gấp bội ở sát phía nam, sao cho hầm mộ chứa quách đá của Thánh Luca nằm ngay dưới điểm giao nhau của hai ngôi thánh đường.

Tại sao trên bức tường gạch bên ngoài Nhà thờ Đức Mẹ của một tu viện Kitô giáo lại có hoa văn chữ Ả Rập?

Trên mặt tường ngoài của Nhà thờ Đức Mẹ thế kỷ 10, những người thợ xây Đông La Mã đã xếp các viên gạch đỏ thành những dải hoa văn trang trí mô phỏng kiểu chữ Kufic cổ của tiếng Ả Rập (gọi là họa tiết giả Kufic hay pseudo-Kufic). Hoa văn này bắt nguồn từ việc quân đội Đông La Mã vừa đánh bại Vương tiểu quốc Ả Rập để giải phóng đảo Crete vào năm 961 đúng như lời tiên tri của Thánh Luca, nên các nghệ nhân đã đưa họa tiết từ những hàng tơ lụa dệt và chiến lợi phẩm thu được lên tường nhà thờ như một biểu tượng mừng chiến thắng.

Kiến trúc mái vòm của tòa Đại giáo đường Hosios Loukas có điểm gì đột phá trong lịch sử kiến trúc?

Đại giáo đường Hosios Loukas (xây năm 1011 tới 1012) là công trình cổ xưa nhất và hoàn chỉnh nhất còn tồn tại của kiểu kiến trúc vòm bát giác trên vòm góc (domed-octagon on squinches). Thay vì dùng bốn cây cột ở giữa phòng làm che khuất tầm nhìn, kiến trúc sư đã dùng tám trụ tường chữ L bao quanh không gian trung tâm và bốn vòm góc chéo trên cao để chuyển mặt bằng hình vuông thành hình bát giác, nâng đỡ mái vòm bán cầu đường kính 9 mét mở rộng mênh mông trên đầu tín hữu.

Hài cốt của Thánh Tổ Luca vùng Steiris hiện nay được lưu giữ ở đâu?

Sau cuộc Thập tự chinh thứ tư năm 1204, thánh cốt của Thánh Luca đã được mang đi khỏi vùng Boeotia để tránh chiến tranh và lưu lạc sang tận nhà thờ Thánh Job (San Giobbe) tại thành phố Venice (Ý) suốt nhiều thế kỷ, khiến chiếc quách đá trong hầm mộ tu viện bị bỏ trống. Đến tháng 12 năm 1986, Giáo hội Công giáo tại Venice đã chính thức trao trả thánh tích nguyên vẹn của Thánh Luca về lại Tu viện Hosios Loukas, hiện được đặt trang trọng trong chính chiếc quách đá cẩm thạch cổ xưa tại Hầm mộ Thánh Barbara.

›Đọc Tiếp