Nhìn từ cây cầu Galata hay từ con tàu phà lướt trên mặt nước vịnh Sừng Vàng lúc hoàng hôn, đường chân trời trên Ngọn đồi thứ ba của bán đảo lịch sử Istanbul được định hình bởi khối mái vòm xám bạc cùng bốn ngọn tháp minaret vươn cao của Thánh đường Süleymaniye. Không phô trương sắc màu rực rỡ bên ngoài, toàn bộ ngôi đại thánh đường và các dãy trường học, bệnh viện bao quanh hiện lên bằng đá vôi cắt gọt chuẩn xác, xếp tầng hài hòa theo sườn đồi thoai thoải xuống bờ biển như một vương miện đá đội trên đỉnh kinh thành.
Bước qua cánh cổng vòm cao vút vào sân trong lát đá cẩm thạch rồi tiến vào đại sảnh cầu nguyện hình gần vuông mỗi chiều gần 70 mét, người lữ khách cảm nhận ngay sự tĩnh tại và tràn ngập ánh sáng mà đại kiến trúc sư Mimar Sinan đã dày công kiến tạo. Dưới mái vòm trung tâm cao 53 mét đường kính 26,5 mét, ánh nắng từ 238 ô cửa sổ chiếu qua những tấm kính màu thế kỷ 16 của nghệ nhân bậc thầy Sarhoş İbrahim và phản chiếu lên những viên gạch men İznik họa tiết hoa mẫu đơn trên tường Qibla. Phía sau bức tường hướng về Makkah ấy là khu vườn lăng mộ yên tĩnh rợp bóng cây bách, nơi Sultan Süleyman Đại Đế và Hoàng hậu Hürrem Sultan yên nghỉ vĩnh hằng.

IBiểu Tượng Thời Hoàng Kim Ottoman Và Triết Lý Phúc Lợi Külliye
Thánh đường Süleymaniye (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Süleymaniye Camii) được xây dựng theo lệnh của Sultan Süleyman I (trị vì từ năm 1520 tới năm 1566), vị quân vương được phương Tây gọi là "Süleyman Đại Đế" (Suleiman the Magnificent) và được người phương Đông tôn xưng là Kanunî Sultan Süleyman (Nhà Lập Pháp) vì ông đã hệ thống hóa toàn bộ bộ luật hành chính và hình sự của Đế chế Ottoman hài hòa với luật tôn giáo Sharia. Ở đỉnh cao quyền lực giữa thế kỷ 16, Sultan Süleyman I đã giao cho Tổng công trình sư triều đình là Mimar Sinan (1489 - 1588) xây dựng một đại thánh đường hoàng gia (Selâtin Camii) mang tên mình trên khu đất cao ráo thuộc khu vườn của Cung điện Cũ (Eski Saray).
Trong truyền thống văn minh Hồi giáo Ottoman, một đại thánh đường hoàng gia không bao giờ đứng lẻ loi như một nơi cầu nguyện thuần túy mà luôn là hạt nhân trung tâm của một tổ hợp phúc lợi xã hội, giáo dục và y tế toàn diện gọi là Külliye, được duy trì vĩnh viễn bằng nguồn quỹ hiến tặng từ thiện (Vakıf / Waqf). Tổ hợp Külliye của Thánh đường Süleymaniye trải rộng trên diện tích khoảng 70.000 mét vuông, bao gồm chính điện thánh đường ở trung tâm và 15 công trình phụ trợ vây quanh: bốn trường đại học thần học và luật học (bốn trường Medrese cấp cao), một trường chuyên đào tạo y khoa (Tıp Medresesi), một bệnh viện đa khoa và tâm thần miễn phí (Darüşşifa), một học viện chuyên sâu về lời truyền dạy của Tiên tri (Darülhadis), một trường tiểu học (Sıbyan Mektebi), một bếp ăn từ thiện phát cơm miễn phí mỗi ngày cho người nghèo và học trò (İmaret), một nhà trọ lữ khách thương buôn (Tabhane / Kervansaray) và một nhà tắm công cộng (Hamam).
Mật mã lịch sử trên bốn ngọn tháp minaret và mười ban công
Khi quan sát bốn ngọn tháp gọi lễ (minaret) đứng ở bốn góc sân trong của Thánh đường Süleymaniye, du khách sẽ thấy hai ngọn tháp thấp hơn ở phía bắc sân (cao 56 mét) mỗi tháp có 2 vòng ban công (şerefe), còn hai ngọn tháp cao vút ở điểm tiếp giáp giữa sân và thân nhà thờ (cao 76 mét tính cả chóp) mỗi tháp có 3 vòng ban công. Tổng cộng 4 ngọn tháp và 10 vòng ban công này được Mimar Sinan thiết kế như một con dấu lịch sử bằng đá: con số 4 biểu thị Sultan Süleyman I là vị Sultan thứ tư đóng đô tại Istanbul kể từ năm 1453 (sau Mehmed II, Bayezid II và Selim I), còn con số 10 biểu thị ngài là vị Sultan thứ mười kể từ khi Osman I lập nên triều đại Ottoman vào cuối thế kỷ 13.
Trên vòm cổng chính dẫn vào đại sảnh cầu nguyện của Thánh đường Süleymaniye có khắc bài văn bia chữ Ả Rập làm bằng thơ ghi mốc niên đại hoàn thành (Kitabe) do học giả Şeyhülislam Ebussuud Efendi soạn và bậc thầy thư pháp Ahmed Karahisarî cùng học trò là Hasan Çelebi chấp bút, ca ngợi Sultan Süleyman I như người bảo vệ công lý và luật pháp của đạo Hồi.
IIBảy Năm Kiến Tạo Dưới Bàn Tay Đại Kiến Trúc Sư Mimar Sinan
Công cuộc xây dựng Thánh đường Süleymaniye được chuẩn bị kỹ lưỡng và khởi công vào ngày 13 tháng 6 năm 1550, hoàn thành sau hơn bảy năm thi công liên tục vào năm 1557. Vào thời điểm nhận trọng trách này, kiến trúc sư trưởng Mimar Sinan đang ở tuổi ngoài sáu mươi. Trong cuốn hồi ký Tezkiretü'l-Bünyan (Biên niên các công trình xây dựng), chính Mimar Sinan đã tự đánh giá ba kiệt tác lớn nhất cuộc đời mình theo ba bậc trưởng thành nghề nghiệp: Thánh đường Şehzade (dựng năm 1543 - 1548 tại Istanbul) là tác phẩm thời học việc của ông, Thánh đường Süleymaniye (1550 - 1557) là tác phẩm thời thợ lành nghề (Kalfalık eseri), và Thánh đường Selimiye tại Edirne (1568 - 1575) là tác phẩm bậc thầy thượng thừa.
Để bảo đảm ngôi đại thánh đường nằm ngay sát mép sườn đồi dốc nhìn xuống vịnh Sừng Vàng không bị sạt lở hay sụp đổ trước các trận động đất dữ dội của vùng đứt gãy Bắc Anatolia, Mimar Sinan đã dành trọn gần ba năm đầu tiên chỉ để đào móng sâu xuống tầng đá gốc, đóng cọc gỗ bách ngâm nước và xây hệ thống tường chắn cùng bể chứa nước ngầm khổng lồ bên dưới nền đồi, chờ cho móng đất tự lún ổn định hoàn toàn rồi mới bắt đầu xây tường bên trên.
- 13/06/1550Lễ đặt viên đá đầu tiên khởi dựng Thánh đường SüleymaniyeDưới sự chủ sự của đại học giả Ebussuud Efendi và sự hiện diện của Sultan Süleyman I, đại kiến trúc sư Mimar Sinan đặt viên đá đầu tiên tại vị trí hốc mihrab trên Ngọn đồi thứ ba của Istanbul.
- 1550 - 1553Gia cố nền móng chống động đất và quy tập đá quý bốn phươngHơn 3.500 thợ thủ công lành nghề từ khắp đế chế tham gia thi công nền móng bậc thang trên sườn đồi. Bốn cột đá granit hồng khổng lồ được vận chuyển bằng đường thủy và đường bộ từ Baalbek, Alexandria và các di tích cổ ở Istanbul về dựng tại đại sảnh.
- 15/10/1557Đại lễ khánh thành Thánh đường SüleymaniyeThánh đường chính thức khánh thành vào tháng 10 năm 1557. Mimar Sinan trao chìa khóa cổng chính cho Sultan Süleyman I vì nhà vua là người đã đóng góp công sức bảo trợ lớn nhất cho công trình.
- 1558 - 1566Xây dựng lăng mộ Hoàng hậu Hürrem Sultan và Sultan Süleyman INăm 1558, Hoàng hậu Hürrem Sultan (Roxelana) qua đời và được Mimar Sinan dựng lăng mộ bát giác ốp gạch İznik phía sau tường Qibla. Năm 1566, Sultan Süleyman I băng hà tại chiến dịch Szigetvár và được an táng trong lăng mộ hai lớp vòm lớn ngay bên cạnh.
- 1588Đại kiến trúc sư Mimar Sinan qua đời và an nghỉ bên góc tường KülliyeMimar Sinan qua đời ngày 17 tháng 7 năm 1588 ở tuổi gần 99 và được an táng trong ngôi mộ đá giản dị hình tam giác do chính ông tự thiết kế ở góc đường phía bắc ngay bên ngoài tường bao Thánh đường Süleymaniye.
- 1660 & 1859Tu bổ sau đại hỏa hoạn Istanbul và trùng tu của anh em FossatiNăm 1660, một đám cháy lớn ở Istanbul làm hư hại một phần vòm và được Sultan Mehmed IV giao cho kiến trúc sư Fossati thời bấy giờ là Davud Ağa hoặc thế hệ kế cận tu sửa. Giữa thế kỷ 19, anh em kiến trúc sư Fossati tham gia trùng tu trang trí nội thất.
- 1985 & 2007 - 2010Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và đại trùng tu phục nguyênNăm 1985, quần thể Süleymaniye được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Từ năm 2007 tới 2010, đợt trùng tu khoa học lớn đã khôi phục lại nguyên bản các họa tiết thế kỷ 16 và kiểm nghiệm độ bền vững trước hơn 80 trận động đất lớn trong bốn thế kỷ rưỡi qua.
Trong hồi ký của Mimar Sinan có ghi lại một giai thoại nổi tiếng: khi mái vòm đang được khép kín, có kẻ gièm pha với Sultan Süleyman rằng Mimar Sinan ngồi hút ống điếu nước (nargile) ngay giữa lòng thánh đường. Khi nhà vua đột ngột ngự giá tới kiểm tra, ông thấy vị kiến trúc sư già đang đặt bầu nước không hề có thuốc lá và chỉ lắng nghe tiếng nước sục ùng ục vang lên khắp các góc vòm: hóa ra Mimar Sinan đang dùng tiếng sục của nước để đo và cân chỉnh độ vang âm học của hàng trăm chiếc chum đất nung gắn trên mái vòm.
IIITuyệt Kỹ Âm Học, Phòng Lọc Khói Mực Và Khu Lăng Mộ Hoàng Gia
Về mặt cấu trúc không gian, Mimar Sinan đã tiếp thu bài học từ hệ thống vòm chính kèm hai nửa mái vòm dọc theo trục trước - sau của Đại thánh đường Hagia Sophia (dựng trước đó đúng một thiên niên kỷ), nhưng cải tiến thành một không gian vuông vức, sáng sủa và cân đối theo thẩm mỹ Hồi giáo Ottoman. Đại sảnh cầu nguyện có kích thước bên trong dài 59 mét và rộng 58 mét, được che phủ bởi mái vòm chính cao 53 mét và có đường kính 26,5 mét (một số nguồn đo phủ bì ghi 27,5 mét). Đỡ mái vòm chính và hai nửa mái vòm là bốn trụ đá lớn kết hợp với bốn cột đá hoa cương hồng nguyên khối (cao 9,02 mét, đường kính 1,14 mét, nặng khoảng 60 tấn mỗi cột) được Mimar Sinan ví như "bốn trụ cột của đạo Hồi" (bốn vị Khalip chính thống). Phía trước đại sảnh là sân trong (Avlu) rộng lớn lát đá cẩm thạch trắng được bao quanh bởi 28 mái vòm nhỏ đỡ trên 24 cột đá hoa cương và đá porphyry cổ đại, ở chính giữa sân là đài phun nước hình chữ nhật chạm lộng như một chiếc lồng chim bằng đá.
Hệ thống chum cộng hưởng âm thanh và phòng gom muội khói chế mực thư pháp
Sự thiên tài về kỹ thuật vật lý của Mimar Sinan tại Thánh đường Süleymaniye thể hiện rõ nét qua hai phát minh độc đáo. Thứ nhất là hệ thống âm học: để tiếng đọc kinh Qur'an của vị Imam tại mihrab có thể truyền đi rõ ràng tới mọi góc của đại sảnh rộng hơn 3.400 mét vuông mà không cần bất kỳ thiết bị khuếch đại nào, Mimar Sinan đã cho gắn khoảng 255 chiếc chum đất nung rỗng (mỗi chiếc dài khoảng 50 xentimét, miệng chum rộng 5 xentimét quay ra ngoài) ẩn vào trong vòng chân mái vòm chính và các vòm góc, biến toàn bộ trần thánh đường thành một thùng đàn cộng hưởng khổng lồ.
Thứ hai là hệ thống lọc luồng không khí và thu hồi muội đèn dầu (İs Odası, tức Phòng Muội Khói). Vào thế kỷ 16, thánh đường được thắp sáng mỗi đêm bằng hơn 2.000 ngọn đèn dầu ô-liu và nến mỡ cừu, vốn rất dễ làm đen ố các bức thư pháp và gạch men trắng. Mimar Sinan đã tính toán luồng đối lưu không khí nóng từ các cửa sổ dưới chân tường bốc lên cao rồi hội tụ về một căn phòng nhỏ nằm ngay phía trên cổng vào chính. Toàn bộ muội khói đen của hàng nghìn ngọn đèn đều bị hút hết vào căn phòng này và bám lên tường, sau đó các nghệ nhân chỉ việc cạo lớp muội than siêu mịn ấy đem trộn với nhựa cây keo Ả Rập và nước hoa hồng để chế tạo ra loại mực viết thư pháp (Süleymaniye mürekkebi) bền màu hàng trăm năm dùng để chép kinh Qur'an.
Khu vực tường Qibla nổi bật với hốc cầu nguyện mihrab và bục giảng minbar chạm khắc từ đá cẩm thạch trắng đảo Marmara tinh khiết. Xung quanh mihrab được ốp những viên gạch sứ tráng men İznik thế kỷ 16 đầu tiên sử dụng kỹ thuật vẽ dưới men bằng màu đỏ san hô đắp nổi bên cạnh màu xanh lam và ngọc bích, cùng các vòng tròn thư pháp viết chương Al-Fath của kinh Qur'an.
Trên bức tường Qibla phía sau mihrab là những khung cửa sổ kính màu ghép thạch cao tuyệt mỹ của bậc thầy kính màu thế kỷ 16 Sarhoş İbrahim, tạo hiệu ứng ánh sáng lung linh như đôi cánh thiên thần Jibril (Gabriel) khi nắng chiều chiếu qua.
Treo xen kẽ giữa hàng trăm chiếc đèn dầu thủy tinh trên các vòng sắt lớn là hàng chục quả trứng đà điểu thật được đưa về từ châu Phi. Theo kinh nghiệm cổ truyền của người Ottoman, mùi hương tự nhiên tỏa ra từ vỏ trứng đà điểu khô giúp xua đuổi nhện không giăng tơ làm bẩn không gian cầu nguyện.
Nằm ở khu vườn phía đông nam sau tường Qibla, lăng mộ bát giác hai lớp vòm của Sultan Süleyman I do Mimar Sinan hoàn thành năm 1568 có hành lang 29 cột bao quanh. Ngay trên vòm cửa vào lăng có gắn một mảnh nhỏ của Phiến Đá Đen thiêng liêng (Hajar al-Aswad) từ Kaaba ở Makkah, và bên trong mái vòm đính các tinh thể pha lê núi đá lấp lánh như bầu trời sao.
Nằm ngay bên cạnh lăng của Sultan Süleyman I là lăng mộ bát giác của người vợ yêu dấu của ngài là Hoàng hậu Hürrem Sultan (Roxelana). Nội thất lăng mộ được ốp kín những mảng gạch men İznik rực rỡ khắc họa hình ảnh vườn xuân nở đầy hoa tulip, hoa cẩm chướng và hoa mận trắng tượng trưng cho Vườn Địa Đàng.
Ở góc nhọn giao nhau giữa hai con phố phía bắc bên ngoài tường bao quần thể là lăng mộ nhỏ của chính Mimar Sinan kèm một vòi nước từ thiện hình lục giác (Sebil) phát nước mát cho người qua đường, thể hiện trọn vẹn sự khiêm cung của vị kiến trúc sư đã dựng hơn 300 công trình khắp đế chế.
Toàn bộ các cánh cửa gỗ, tủ đựng kinh Qur'an và cửa chớp cửa sổ bên trong Thánh đường Süleymaniye đều được chế tác bằng kỹ thuật ghép mộng gỗ không dùng đinh (Kündekârî) kết hợp khảm xà cừ, ngà voi và mai rùa tinh xảo, vẫn đóng mở êm ái sau gần năm trăm năm sử dụng.
IVThế Đất Và Hướng
Kiến trúc thánh đường Hồi giáo Ottoman không áp dụng phong thủy Á Đông mà định vị toàn bộ mặt bằng thánh đường, sân trong, các dãy trường học Medrese và cả hướng đặt thi hài trong khu lăng mộ theo một trục chuẩn duy nhất là hướng Qibla quay về Kaaba tại Makkah (đối với Istanbul là hướng đông nam, góc phương vị khoảng 151,5 độ tính từ chính Bắc). Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện nhằm khảo sát cách chọn đất và tạo cục bậc thầy của Mimar Sinan trên Ngọn đồi thứ ba của Istanbul.
Thánh đường Süleymaniye tọa lạc tại tọa độ 41,0161 độ vĩ bắc và 28,9639 độ kinh đông, ngự trên đỉnh Ngọn đồi thứ ba (trong chuỗi Bảy ngọn đồi chạy dọc theo sống lưng bán đảo lịch sử Fatih của Istanbul) ở độ cao khoảng 60 mét so với mặt nước biển. Xét đại cuộc hình thế, sống lưng đất cao của bán đảo Fatih chạy từ vùng tường thành Theodosius ở phía tây về phía mũi Sarayburnu ở phía đông như một dải cự long uốn lượn giữa hai mặt nước lớn là vịnh Sừng Vàng (Haliç) ở phía bắc và biển Marmara ở phía nam. Trong bảy đốt lưng rồng ấy, Ngọn đồi thứ ba là nơi có địa thế vươn cao hùng vĩ nhìn bao quát toàn bộ khúc giao hội giữa vịnh Sừng Vàng và eo biển Bosphorus.
Xét nội cục quy hoạch của Mimar Sinan, toàn bộ công trình tọa Tây Bắc hướng Đông Nam (hốc cầu nguyện mihrab và vườn lăng mộ của Sultan Süleyman I ở phía đông nam, sân trong và cổng chính ở phía tây bắc). Điểm đặc sắc nhất về hình thế là sườn đồi phía đông bắc (tức bên tả Thanh Long khi nhìn từ cổng chính vào hướng Qibla, hoặc phía nhìn thẳng ra vịnh Sừng Vàng) có độ dốc lớn đổ xuống mặt nước. Mimar Sinan đã biến độ dốc tự nhiên ấy thành lợi thế bằng cách xây các dãy trường học Medrese thứ ba và thứ tư hạ thấp dần theo bậc thang bám vào sườn đồi, vừa làm chân đế giữ đất cực kỳ vững chắc, vừa mở toang tầm nhìn từ sân hiên phía bắc và phía đông của thánh đường ra toàn cảnh vịnh Sừng Vàng, đồi Galata (Karaköy) và eo biển Bosphorus làm đại minh đường tụ thủy mênh mông. Bốn ngọn tháp minaret vươn cao ở bốn góc sân theo tỷ lệ thấp ở ngoài (56 mét) và cao vút ở trong (76 mét) cùng mái vòm chính 53 mét tạo thành một khối kim tự tháp không gian vững chãi như một ngọn thái tổ sơn nhân tạo trấn giữ kinh kỳ.
VSinh Hoạt Lễ Nguyện Và Truyền Thống Tháng Ramadan Tại Süleymaniye
Từ ngày khánh thành năm 1557 cho tới nay, Thánh đường Süleymaniye luôn là một trong những trung tâm sinh hoạt tôn giáo sống động và trang nghiêm bậc nhất của Istanbul, giữ nguyên nhịp năm thời lễ nguyện mỗi ngày cùng các nghi thức truyền thống của dòng Hồi giáo Sunni.
| Thời điểm (Lịch) | Lễ nguyện và nghi thức truyền thống | Hoạt động tại Thánh đường và quần thể Süleymaniye |
|---|---|---|
| Năm thời mỗi ngày & Trưa thứ Sáu (Dương lịch) | Lễ nguyện hằng ngày (Salat) và Lễ nguyện thứ Sáu (Cuma Namazı) | Hàng nghìn tín hữu rửa thanh tẩy tại hành lang vòi nước hai bên hông thánh đường và quy tụ dưới mái vòm có hệ thống chum gốm cộng hưởng âm thanh để nghe bài giảng Khutbah. |
| Tháng 9 lịch Hồi giáo (Hijri) | Tháng chay Ramadan và Nghệ thuật đèn chữ Mahya giữa hai tháp | Suốt tháng Ramadan, giữa hai ngọn tháp minaret cao 76 mét của Thánh đường Süleymaniye được căng dây treo các bóng đèn sáng xếp thành những câu chúc tụng thiêng liêng trên bầu trời đêm (nghệ thuật Mahya truyền thống của Ottoman), kèm lễ nguyện đêm Tarawih. |
| Đêm 27 tháng Ramadan (Lịch Hijri) | Đêm Định Mệnh (Kadir Gecesi) và các đêm lễ Kandil | Trong năm đêm lễ thắp đèn thiêng liêng của truyền thống Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Mevlid, Regaip, Miraç, Berat và Kadir Kandili), toàn bộ 10 vòng ban công trên bốn ngọn tháp minaret đều được thắp sáng rực rỡ và cộng đoàn cầu nguyện thâu đêm. |
| Ngày 1 tháng Shawwal & 10 tháng Dhu al-Hijjah (Lịch Hijri) | Đại lễ Xả chay (Ramazan Bayramı) và Đại lễ Hiến sinh (Kurban Bayramı) | Buổi sáng ngày đầu tiên của hai kỳ đại lễ Bayram, cả đại sảnh bên trong lẫn sân trong lát đá cẩm thạch rộng lớn đều chật kín tín hữu trải thảm hành lễ đầu năm mới tinh thần và sau đó vào viếng lăng mộ Sultan Süleyman I. |
| 09 tháng 4 hằng năm (Dương lịch) | Ngày tưởng niệm Đại kiến trúc sư Mimar Sinan (Mimar Sinan'ı Anma Günü) | Giới kiến trúc sư, học giả và người dân Thổ Nhĩ Kỳ đến dâng lời cầu nguyện tại ngôi mộ đá của Mimar Sinan nằm ngay góc tường phía bắc của quần thể Süleymaniye để tri ân bậc thầy kiến trúc vĩ đại. |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Süleymaniye, Prof. Sıddık Sami Onar Cd. No:1, 34116 Fatih, İstanbul, Türkiye
- Đường tới
- Từ trung tâm Istanbul, quý vị có thể đi tàu điện ngầm tuyến M2 (Yenikapı - Hacıosman) xuống tại ga Vezneciler rồi đi bộ khoảng 500 mét (7 phút) qua khuôn viên Đại học Istanbul là tới cổng phía tây của Thánh đường Süleymaniye. Ngoài ra, quý vị có thể đi tàu điện mặt đất tuyến T1 xuống tại trạm Beyazıt - Kapalıçarşı (Chợ Lớn Grand Bazaar) hoặc trạm Eminönü bên bờ vịnh Sừng Vàng rồi đi bộ ngược lên đồi khoảng 10 phút.
- Toạ độ
- 41.0161, 28.9639
Thánh đường Süleymaniye mở cửa miễn phí cho khách tham quan văn hóa ngoài các khung giờ cử hành năm thời lễ nguyện hằng ngày và buổi trưa ngày thứ Sáu. Khi bước vào thánh đường và khu lăng mộ của Sultan Süleyman I cùng Hoàng hậu Hürrem Sultan, quý vị cần mặc trang phục kín đáo che kín vai và đầu gối, phụ nữ cần quàng khăn trùm đầu (có quầy cho mượn khăn miễn phí tại cổng vào), đồng thời cởi giày dép đặt lên kệ gỗ trước khi bước lên thảm lễ. Sau khi tham quan đại sảnh, quý vị đừng quên đi ra sân hiên phía bắc và phía đông để ngắm toàn cảnh vịnh Sừng Vàng và eo biển Bosphorus.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Süleymaniye, Istanbul
Contribute photos, information or video for Süleymaniye MosqueThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Thánh đường Süleymaniye lại có 4 ngọn tháp minaret với tổng cộng 10 vòng ban công?
Đại kiến trúc sư Mimar Sinan đã thiết kế 2 ngọn tháp có 3 ban công và 2 ngọn tháp có 2 ban công (tổng cộng 4 ngọn tháp và 10 ban công) để ghi dấu vị thế lịch sử của người xây dựng công trình: Sultan Süleyman Đại Đế là vị Sultan thứ 4 đóng đô tại Istanbul kể từ năm 1453 và là vị Sultan thứ 10 kể từ khi thành lập triều đại Ottoman.
Mimar Sinan đã làm cách nào để xử lý khói đen từ hàng nghìn ngọn đèn dầu trong Thánh đường Süleymaniye?
Mimar Sinan đã thiết kế hệ thống cửa sổ đối lưu dẫn toàn bộ luồng không khí nóng và muội khói từ hơn 2.000 ngọn đèn dầu và nến hội tụ về một căn phòng nhỏ nằm phía trên cổng vào chính gọi là Phòng Muội Khói (İs Odası). Lớp bồ hóng mịn bám trong phòng này được gom lại để chế tạo ra loại mực thư pháp thượng hạng dùng chép kinh Qur'an.
Những quả trứng đà điểu treo trên các giàn đèn chùm trong Thánh đường Süleymaniye dùng để làm gì?
Xen kẽ giữa các chén đèn dầu thủy tinh trên những vòng đèn chùm sắt lớn của Thánh đường Süleymaniye là những quả trứng đà điểu thật. Theo phương pháp bảo quản cổ truyền của các kiến trúc sư Ottoman, trứng đà điểu khô tiết ra một mùi hương tự nhiên mà loài nhện rất kỵ, giúp ngăn nhện giăng tơ trên các giàn đèn cao.
Những nhân vật lịch sử nào được an táng trong khuôn viên Thánh đường Süleymaniye?
Trong khu vườn phía sau bức tường Qibla hướng đông nam là hai lăng mộ bát giác tráng lệ của chính Sultan Süleyman Đại Đế (mất năm 1566, cùng con gái là Công chúa Mihrimah và hai vị Sultan thế kỷ 17) và lăng mộ của Hoàng hậu Hürrem Sultan (Roxelana, mất năm 1558). Ở góc tường ngoài phía bắc là ngôi mộ khiêm nhường của đại kiến trúc sư Mimar Sinan (mất năm 1588).
Nhờ đâu Thánh đường Süleymaniye đứng vững qua hàng chục trận động đất lớn suốt hơn 460 năm qua?
Mimar Sinan đã dành gần ba năm đầu chỉ để xử lý nền móng trên sườn đồi bằng cách đào tới tầng đá gốc, đóng hệ cọc gỗ bách ngâm nước và xây hệ thống bể chứa cùng hầm vòm đàn hồi bên dưới nền đất để giảm chấn, đồng thời dùng hợp kim chì nấu chảy đổ bọc các chốt sắt nối giữa các khối đá để toàn bộ công trình có độ đàn hồi tự nhiên khi địa chấn xảy ra.