VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Amarbayasgalant, Selenge

Амарбаясгалант хийд (Khánh Ninh Tự 慶寧寺)

Đại tùng lâm dưới chân núi Büren-Khaan bên dòng sông Iven thuộc tỉnh Selenge, được khởi dựng năm 1727 để phụng thờ nhục thân Đệ nhất Pháp vương kiêm nhà điêu khắc kiệt xuất Öndör Gegeen Zanabazar

Khởi dựng
1727 - 1736
Hoàng đế Ung Chính hạ chiếu xuất 10 vạn lạng bạc khởi dựng năm 1727, hoàn thành năm 1736 dưới triều Càn Long
Truyền thống
Phật giáo
Phật giáo Tây Tạng - Mông Cổ phái Cách Lỗ (Gelugpa), nơi an vị linh cốt Đệ nhất Jebtsundamba Zanabazar
Di sản
Dự kiến UNESCO (2014)
Danh sách Dự kiến Di sản Thế giới UNESCO (mã số 5947) và Di tích Văn hóa Lịch sử Quốc gia Mông Cổ

Băng qua những triền đồi cỏ xanh mướt của thung lũng sông Iven thuộc huyện Baruunbüren, tỉnh Selenge ở miền bắc Mông Cổ, du khách bất ngờ bắt gặp một quần thể thành quách và cung điện mái ngói lưu ly trầm mặc nằm tựa lưng vào vách đá granit hùng vĩ của ngọn núi Büren-Khaan. Giữa không gian tĩnh lặng chỉ có tiếng gió thảo nguyên và tiếng chim đại bàng sải cánh trên bầu trời, hai mươi tám tòa điện gỗ sơn đỏ thẫm của Tu viện Amarbayasgalant hiện lên uy nghiêm như một kinh đô Phật giáo cổ xưa còn nguyên vẹn giữa lòng thảo nguyên hoang sơ.

Mang tên gọi trong tiếng Mông Cổ là Amarbayasgalant Khiid (nghĩa là Tu Viện Của Sự An Lạc Tĩnh Tại) và tên chữ Hán trên biển ngạch sắc phong là Khánh Ninh Tự (慶寧寺), công trình được triều đình nhà Thanh xuất ngân khố mười vạn lạng bạc khởi dựng vào năm 1727 để tưởng niệm và làm nơi quàn nhục thân của Đệ nhất Pháp vương Öndör Gegeen Zanabazar (1635 tới 1723). Cùng với Tu viện Erdene Zuu ở cố đô Kharakhorum và Tu viện Gandantegchinlen tại thủ đô Ulaanbaatar, Amarbayasgalant hợp thành tam đại tùng lâm trụ cột của Phật giáo Mông Cổ.

Tu viện Amarbayasgalant, Selenge
Tu viện Amarbayasgalant, Selenge. Ảnh: Bogomolov.PL, giấy phép Public domain, nguồn Wikimedia Commons.

IĐệ Nhất Pháp Vương Zanabazar Và Điềm Lành Chọn Đất Dựng Chùa

Linh hồn của Tu viện Amarbayasgalant gắn liền với cuộc đời và di sản của Öndör Gegeen Zanabazar (1635 tới 1723), vị Jebtsundamba Khutuktu đời thứ nhất của vùng Khalkha Mông Cổ. Sinh ra trong hoàng tộc Borjigin với tư cách là con trai của Vương công Tüsheet Khan Gombodorj và là hậu duệ trực hệ đời thứ mười lăm của Thành Cát Tư Hãn, Zanabazar sớm được Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 và Đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 4 ấn chứng là hóa thân chuyển thế của học giả Taranatha. Ngài vừa là lãnh tụ tối cao của Phật giáo Mông Cổ, người sáng tạo ra bộ chữ Soyombo (nay là biểu tượng trên quốc kỳ Mông Cổ), vừa là bậc thầy đúc tượng đồng mạ vàng đạt tới đỉnh cao mỹ thuật Phục hưng châu Á thế kỷ 17.

Sau khi Đại sư Zanabazar viên tịch tại Bắc Kinh vào năm 1723, Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh vì kính ngưỡng đạo hạnh và tầm ảnh hưởng của Ngài đối với các bộ tộc Mông Cổ nên đã ban sắc chỉ năm 1727, cấp mười vạn lạng bạc từ ngân khố quốc gia để xây dựng một đại tự quy mô lớn tại quê hương Khalkha làm nơi phụng thờ nhục thân của vị Pháp vương.

Theo sử liệu

Về sự tích chọn địa điểm xây chùa, truyền thuyết dân gian Mông Cổ kể rằng đoàn sứ thần và địa sư đi tìm long mạch đã bắt gặp một chàng trai tên là Amur và một cô bé tên là Bayasgalant đang ngồi chơi đùa bình yên trên thảo nguyên dưới chân núi Büren-Khaan, nên lấy tên hai đứa trẻ ghép lại thành Amarbayasgalant (An Lạc Hỷ Duyệt) để đặt cho vùng đất. Trong khi đó, các sử liệu biên niên của Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ ghi nhận khu vực chân núi Büren-Khaan bên sông Iven chính là nơi đóng doanh trại mùa đông của đạo tràng lưu động Ikh Khüree thuộc quyền cai quản của Zanabazar vào đúng thời điểm Ngài viên tịch năm 1723.

Hành trình rước nhục thân Pháp vương về an vị năm 1779

Mặc dù công trình kiến trúc Amarbayasgalant hoàn tất vào năm 1736 dưới triều Hoàng đế Càn Long (vị vua đã ban tấm biển ngạch đề tên chùa bằng bốn thứ chữ Mông Cổ, Mãn Châu, Hán và Tây Tạng: Khánh Ninh Tự, tiếng Mãn là Urgun Elhe Sy), linh cốt nhục thân ướp hương của Đại sư Zanabazar ban đầu vẫn được tôn trí tại Tu viện Dambadarjaalin ở Ulaanbaatar. Phải tới năm 1779, dưới thời Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 3 (Ishdambiynyam, 1758 tới 1773) và đời thứ 4, nhục thân của Zanabazar mới được rước trọng thể về an vị trong bảo tháp tại điện Lavrin của Tu viện Amarbayasgalant.

Tại đây, bên cạnh nhục thân của Đệ nhất Pháp vương Zanabazar, các chư tăng sau này còn xây dựng bảo tháp để tôn trí linh cốt của Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 4 (Luvsantüvdenwangchug, viên tịch năm 1813). Bản tôn hộ mệnh tối cao được thờ phụng xuyên suốt trong các bảo điện là Đức Phật Di Lặc (Maitreya), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Cứu Độ Mẫu Lục Độ Mẫu (Green Tara), những hình tượng gắn bó mật thiết với sự nghiệp nghệ thuật của Zanabazar.

IIGần Ba Thế Kỷ Tồn Tại Và Phục Hưng Giữa Thảo Nguyên Selenge

Trải qua suốt thế kỷ 18 và thế kỷ 19, Tu viện Amarbayasgalant phát triển thành trung tâm học thuật, in ấn mộc bản và điêu khắc Phật giáo lớn bậc nhất miền bắc Mông Cổ. Vào thời kỳ cực thịnh cuối thế kỷ 19, toàn bộ khuôn viên thành nội và khu ngoại vi có hơn bốn mươi tòa điện thờ, học viện Datsan và lầu gác, nơi sinh sống và tu học của hơn hai ngàn tới ba ngàn vị tăng sĩ thuộc sáu bộ môn chuyên ngành: triết học, mật tông, y học, toán lịch thiên văn, nghi lễ pháp vũ và tạo tượng.

Khác với nhiều ngôi chùa Mông Cổ được xây dựng bổ sung qua nhiều thời kỳ dẫn tới bố cục phân tán, Amarbayasgalant được thiết kế và thi công đồng bộ ngay từ đầu trong vòng chín năm (1727 tới 1736) bởi đội ngũ kiến trúc sư cung đình và thợ mộc lành nghề, tạo nên một chỉnh thể kiến trúc thống nhất hiếm có ở vùng Nội Á.

  • 1723Đệ nhất Pháp vương Zanabazar viên tịch
    Öndör Gegeen Zanabazar viên tịch tại Bắc Kinh ở tuổi 88. Triều đình nhà Thanh và các vương công Khalkha quyết định kiến lập một đại tự vĩnh cửu để phụng thờ nhục thân và di sản của Ngài.
  • 1727Hoàng đế Ung Chính hạ chiếu khởi công
    Ngân khố triều đình cấp 100.000 lạng bạc trắng để khởi dựng tu viện dưới chân núi Büren-Khaan bên bờ sông Iven, nơi từng đóng doanh trại mùa đông của đạo tràng Zanabazar.
  • 1736Khánh thành quần thể dưới triều Càn Long
    Sau chín năm thi công, toàn bộ thành quách và các tòa đại điện chính được hoàn tất. Hoàng đế Càn Long ban biển ngạch tứ thể văn tự sắc phong tên chùa là Khánh Ninh Tự (Amarbayasgalant).
  • 1779Rước nhục thân Đại sư Zanabazar về an vị
    Nhục thân ướp hương của Đệ nhất Pháp vương Zanabazar được nghinh rước về tôn trí trong bảo tháp bạc tại điện Lavrin phía bắc khuôn viên tu viện.
  • 1813An vị linh cốt Đức Jebtsundamba đời thứ 4
    Sau khi Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 4 viên tịch, bảo tháp chứa linh cốt của Ngài cũng được đưa về phụng thờ tại Amarbayasgalant bên cạnh vị tổ sư đời thứ nhất.
  • 1937Biến cố đóng cửa và bảo tồn 28 tòa điện chính
    Tu viện bị đình chỉ hoạt động vào năm 1937, hơn mười công trình phụ trợ phía sau bị hư hại, nhưng 28 tòa điện thờ cốt lõi trên trục trung tâm may mắn đứng vững nhờ kết cấu gỗ kiên cố và vị trí biệt lập giữa thung lũng.
  • 1988 - 1996Trùng tu quy mô lớn với sự hỗ trợ của UNESCO
    Chính phủ Mông Cổ phối hợp cùng UNESCO và cộng đồng Phật tử tiến hành dự án trùng tu tổng thể 28 tòa điện cổ, phục hồi sinh hoạt tăng đoàn và đưa di tích vào Danh sách Dự kiến Di sản Thế giới năm 1996 (cập nhật hồ sơ năm 2014).
  • 2002 - 2010Dựng bảo tháp Jarung Khashor và đại tượng Phật trên sườn núi
    Trên sườn đồi phía bắc sau lưng tu viện, tăng chúng kiến tạo thêm bảo tháp trắng Jarung Khashor cao 30 mét và pho tượng Đức Phật Thích Ca cùng nhị vị đại đệ tử nhìn xuống thung lũng Iven.

Nhờ giữ được hai mươi tám trên tổng số hơn bốn mươi công trình nguyên thủy thế kỷ 18, Amarbayasgalant được giới khảo cổ học đánh giá là quần thể kiến trúc Phật giáo cổ nguyên vẹn nhất tại Mông Cổ. Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Mông Cổ đã trình hồ sơ chi tiết (mã số 5947) lên Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO để đề cử quần thể tu viện cùng cảnh quan văn hóa linh thiêng vùng núi Büren-Khaan vào danh mục Di sản Thế giới theo tiêu chí (ii) và (iii).

IIIQuy Hoạch Trục Đối Xứng Và Kỹ Thuật Thoát Nước Xuyên Lòng Cột Gỗ

Về mặt quy hoạch tổng thể, Tu viện Amarbayasgalant được xây dựng trên một mặt bằng hình chữ nhật có tường thành gạch vây quanh dài 207 mét theo chiều bắc nam và rộng 175 mét theo chiều đông tây. Bố cục các công trình tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc đối xứng trục trung tâm của kiến trúc cung điện thời Thanh (tương đồng với bố cục Ung Hòa Cung tại Bắc Kinh), nhưng các chi tiết trang trí đầu đao, bích họa, phù điêu và tỷ lệ không gian bên trong lại thấm đẫm phong cách nghệ thuật Mông Cổ và Tây Tạng. Toàn bộ hệ khung dầm, xà, kẻ bẩy và đấu củng của hai mươi tám tòa điện đều được lắp ghép bằng kỹ thuật mộng gỗ truyền thống hết sức chuẩn xác mà không cần dùng tới một chiếc đinh sắt nào.

Tiến theo trục thần đạo từ nam lên bắc, người chiêm bái lần lượt đi qua bức bình phong chiếu tường (Yampai), cổng Nghi Môn, lầu Chiêu Thắng, điện Thiên Vương (Maharaja) với lầu chuông và lầu trống đối xứng hai bên, trước khi bước vào sân chính của Đại hùng bảo điện Tsogchin Dugan. Phía sau đại điện là điện Phật Thích Ca, điện Lavrin (nơi thờ nhục thân Đại sư Zanabazar), điện Di Lặc và điện Phổ Hiền.

Đại hùng bảo điện Tsogchin Dugan (32 x 32 mét)

Tòa chính điện hai tầng có mặt bằng hình vuông mỗi cạnh dài 32 mét, mái lợp ngói lưu ly xanh lục và vàng kim, là nơi cử hành các khóa lễ đại chúng của toàn thể tăng đoàn.

Hệ thống thoát nước mưa trong lòng 4 cột trụ gỗ trung tâm

Kiệt tác kỹ thuật cổ đại tại đại điện Tsogchin Dugan: bốn cây cột gỗ thông khổng lồ ở chính giữa chánh điện được khoét rỗng ruột để làm ống dẫn nước mưa từ phễu thu trên mái chảy thẳng xuống hệ thống rãnh đá ngầm dưới nền chùa rồi thoát ra ngoài thành, giúp nước mưa không bị đóng băng làm nứt vỡ mái ngói vào mùa đông.

Điện Lavrin và Bảo tháp nhục thân Zanabazar

Tòa điện nằm ở phần hậu cung phía bắc, nơi an vị bảo tháp chứa nhục thân ướp hương của Đệ nhất Pháp vương Zanabazar từ năm 1779 cùng nhiều pháp khí và y phục cá nhân của Ngài.

Điện Thiên Vương (Maharaja) và Lầu Bia

Cổng tiền đường nơi tôn trí tượng Tứ Đại Thiên Vương hộ thế, hai bên sân có hai nhà bia đình lục giác che giữ các tấm bia đá cẩm thạch khắc sắc chỉ của Hoàng đế Ung Chính và Càn Long bằng bốn thứ chữ Mông Cổ, Mãn Châu, Hán và Tây Tạng.

Bảo tháp trắng Jarung Khashor (Boudhanath thu nhỏ)

Ngôi đại bảo tháp trắng kiến tạo trên sườn đồi phía tây bắc tu viện vào đầu thế kỷ 21 theo nguyên mẫu tháp Boudhanath tại Nepal, trên đỉnh tháp có đôi mắt Phật tuệ giác nhìn khắp bốn phương thảo nguyên.

Chỗ hay hiểu lầm

Giải pháp chống đóng băng mái chùa vùng cận Bắc Cực: Tại miền bắc tỉnh Selenge, nhiệt độ mùa đông thường xuống dưới âm 35 độ C. Nếu dùng máng xối lộ thiên thông thường, nước tuyết tan ban ngày sẽ đóng băng cứng vào ban đêm làm sập diềm mái. Các nghệ nhân xây dựng Amarbayasgalant thế kỷ 18 đã tận dụng hơi ấm từ hàng ngàn ngọn đèn bơ và thân nhiệt của chư tăng tụng kinh bên trong đại điện Tsogchin để giữ ấm bốn cây cột gỗ rỗng ruột ở tâm nhà, nhờ đó nước từ trên mái luôn chảy thông suốt qua lòng cột xuống kênh thoát nước ngầm sâu dưới tầng đất đóng băng.

IVThế Đất Và Hướng

Truyền thống chọn đất dựng chùa tại Amarbayasgalant là sự kết hợp hiếm có giữa phép tướng địa (tướng địa) cung đình Á Đông với thuật khảo sát địa mạch Mật tông Tây Tạng (Sa dpyad) và tín ngưỡng thờ núi thiêng của người Mông Cổ. Khi các khâm sai đại thần và cao tăng đi tầm long vào năm 1727, họ đã khảo sát khắp lưu vực sông Selenge và sông Orkhon trước khi chọn định chân núi Büren-Khaan. Phần dưới đây phân tích địa cuộc của tu viện theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Nằm tại tọa độ 49,48000 độ vĩ Bắc và 105,08500 độ kinh Đông ở độ cao khoảng 1.150 mét so với mực nước biển, Tu viện Amarbayasgalant tọa lạc tại chính huyệt dưới chân sườn nam của ngọn núi đá granit Büren-Khaan (Büren-Khaan Uul). Toàn bộ trục thần đạo dài 207 mét cùng tất cả hai mươi tám tòa điện thờ đều tọa Bắc hướng Nam (hơi chếch nhẹ theo thế mở của thung lũng), lấy khối núi đá Büren-Khaan sừng sững phía sau làm hậu chẩm (huyền vũ) vững chắc như bức tường thành tự nhiên chắn trọn luồng gió hàn đới từ phương bắc.

Hai bên tả hữu của tu viện có hai dải đồi thấp vươn ra từ núi mẹ ôm vòng lấy khuôn viên thành nội, tạo thành thế tả Thanh Long hữu Bạch Hổ cân xứng, giữ cho trường khí trong thung lũng không bị gió lùa tán loạn. Phía trước mặt chùa về phương nam là thung lũng cỏ bằng phẳng rộng mênh mông đóng vai trò minh đường tụ khí, nơi dòng sông Iven (Iven Gol, một chi lưu chảy về sông Selenge) uốn lượn nhẹ nhàng từ tây sang đông như dải ngọc đới thủy ôm lấy tiền đường. Nhìn xa hơn qua bên kia bờ sông Iven là dãy đồi thấp nằm ngang tầm mắt làm tiền án (chu tước) triều bái về chính điện. Thế đất lưng tựa núi đá đại sơn, mặt hướng thung lũng sông Iven này hội đủ nguyên lý tàng phong tụ khí, giúp quần thể gỗ trải qua gần ba trăm năm khắc nghiệt vẫn giữ được độ bền vững phi thường.

VVũ Điệu Mặt Nạ Tsam Và Pháp Hội Cúng Dường Gongor

Hàng năm, Tu viện Amarbayasgalant thu hút hàng vạn tín đồ Phật giáo và du khách vượt hàng trăm cây số đường thảo nguyên về tham dự các đại pháp hội truyền thống được phục dựng theo đúng nghi quỹ thế kỷ 18. Nổi tiếng nhất tại đây là Pháp hội cúng dường Hộ pháp Bạch Đại Hắc Thiên (Gongor hay Sita Mahakala, vị thần bảo hộ tài bảo và phúc đức gắn liền với truyền thừa của Đại sư Zanabazar) cùng Vũ điệu mặt nạ Tsam diễn ra trên sân đá rộng trước đại điện Tsogchin.

Cùng với đó, nghi lễ thắp một vạn ngọn đèn bơ và lễ treo bức tranh thêu lụa Thangka khổng lồ trên sườn núi phía sau chùa vào các kỳ đại lễ mùa thu cũng là những sinh hoạt tâm linh đặc sắc chỉ có tại thung lũng Iven.

Thời điểm tổ chức Pháp hội Gongoryn Bumba và lễ hội 10.000 ngọn đèn được ban quản trị tu viện ấn định hàng năm dựa theo lịch thiên văn Mông Cổ, thường rơi vào các ngày cát tường của tháng 8 và tháng 9 Dương lịch. Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ Di sản Dự kiến UNESCO (Ref. 5947) và trang thông tin chính thức của Tu viện Amarbayasgalant (amarbayasgalant.org)..
Thời điểmTên đại lễNghi thức chính tại Tu viện Amarbayasgalant
Mùng 1 tới ngày 15 tháng Giêng (Lịch Mông Cổ)Đại lễ Tsagaan Sar (Tết Tháng Trắng)Chư tăng tụng kinh cầu quốc thái dân an suốt 15 ngày đầu năm tại đại điện Tsogchin Dugan, cử hành lễ tế Ovoo trên đỉnh núi Büren-Khaan.
Rằm tháng 4 (Tháng Đầu Mùa Hè - Lịch Mông Cổ)Đại lễ Phật Đản - Thành Đạo - Nhập Niết Bàn (Ikh Düichen Ödör)Khóa lễ tụng Đại Tạng Kinh, đi nhiễu quanh bảo tháp Jarung Khashor và thắp đèn cúng dường trước điện Lavrin thờ Đại sư Zanabazar.
Tháng 8 Dương lịch (Cuối mùa hè)Pháp hội Gongor (GongorynBumba) và Vũ điệu TsamĐại pháp hội lớn nhất trong năm tại Amarbayasgalant: chư tăng trì tụng mật chú gia trì bình báu tài lộc của Hộ pháp Bạch Đại Hắc Thiên (Gongor) và trình diễn vũ điệu hóa trang mặt nạ Tsam trừ tà giữa sân chính.
Tháng 9 hoặc tháng 10 Dương lịch (Mùa thu)Lễ Cúng Dường 10.000 Ngọn Đèn (Arvan Myangan Zulyn Khural)Tăng tín đồ thắp sáng 10.000 ngọn đèn bơ xếp thành hình chữ Vạn và biểu tượng Soyombo rực rỡ trong đêm thu dưới chân núi Büren-Khaan.
Ngày 25 tháng 10 (Lịch Mông Cổ)Lễ Tưởng Niệm Đại Sư Tông Khách Ba và Pháp Vương Zanabazar (Zulyn Khural)Cử hành khóa lễ cúng dường bậc Tổ sư tông Cách Lỗ và Đệ nhất Pháp vương Zanabazar tại điện Lavrin, tụng kinh cầu nguyện trường thọ và trí tuệ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Iven Valley, Foot of Mount Büren-Khaan, Baruunbüren District, Selenge Province, Mongolia (Сэлэнгэ аймаг, Баруунбүрэн сум, Бүрэнхаан уулын өвөр, Ивэн голын хөндий)
Đường tới
Từ thủ đô Ulaanbaatar, du khách đi theo đường cao tốc nhựa hướng bắc qua thành phố Darkhan trên Quốc lộ AH3 khoảng 300 km (tới giữa chặng Darkhan và Erdenet), sau đó rẽ vào đường đất thảo nguyên đi tiếp khoảng 35 km về hướng tây bắc qua thung lũng sông Iven thuộc huyện Baruunbüren, tỉnh Selenge là tới tu viện.
Toạ độ
49.48, 105.085
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Tu viện Amarbayasgalant giữa thung lũng sông Iven, quý vị lưu ý giữ gìn sự tôn nghiêm nơi chốn tổ đình bằng cách mặc trang phục lịch sự, đi vòng theo chiều kim đồng hồ khi nhiễu quanh các tòa bảo điện và tháp trắng Jarung Khashor. Ngọn núi Büren-Khaan phía sau chùa là núi thiêng được chư tăng và người dân bản địa tôn kính, vì vậy quý vị không tự ý trèo lên đỉnh núi đá hoặc dịch chuyển các viên đá trên các bệ thờ Ovoo nếu không có sự hướng dẫn của nhà chùa. Do tu viện nằm ở vùng thảo nguyên cao phía bắc, nhiệt độ ban đêm xuống rất thấp ngay cả trong mùa hè nên quý vị cần chuẩn bị sẵn áo ấm.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Amarbayasgalant, Selenge

Contribute photos, information or video for Amarbayasgalant Monastery

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tu viện Amarbayasgalant được xây dựng nhằm mục đích gì?

Tu viện được Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh hạ chiếu khởi dựng năm 1727 và hoàn thành năm 1736 dưới triều Càn Long với kinh phí 100.000 lạng bạc từ ngân khố, nhằm tôn vinh công đức và làm nơi phụng thờ nhục thân của Đệ nhất Pháp vương Öndör Gegeen Zanabazar (1635 tới 1723), vị lãnh tụ tinh thần và nghệ sĩ điêu khắc vĩ đại của Phật giáo Mông Cổ.

Tên gọi Amarbayasgalant và Khánh Ninh Tự có ý nghĩa như thế nào?

Trong tiếng Mông Cổ, Amarbayasgalant ghép từ hai chữ Amar (an bình, tĩnh tại) và Bayasgalant (hỷ lạc, phúc lạc), mang nghĩa là Tu Viện Của Sự An Lạc Tĩnh Tại. Tên chữ Hán khắc trên biển ngạch sắc phong năm 1736 là Khánh Ninh Tự (慶寧寺), cũng mang ý nghĩa ca ngợi sự phúc khánh và bình yên nơi cõi Phật.

Kỹ thuật thoát nước mưa bên trong đại điện Tsogchin Dugan có gì đặc biệt?

Đại điện Tsogchin Dugan sở hữu một giải pháp kỹ thuật độc đáo từ thế kỷ 18: bốn cây cột trụ gỗ lớn nhất ở chính giữa tòa điện được khoét rỗng lòng từ đỉnh xuống chân để làm đường ống dẫn nước mưa từ trên mái chảy xuyên qua bên trong tòa nhà ấm áp rồi thoát ra kênh đá ngầm dưới nền móng, ngăn ngừa tình trạng nước mưa đóng băng làm vỡ ngói vào mùa đông.

Hiện nay còn bao nhiêu công trình nguyên bản từ thế kỷ 18 tại tu viện?

Trong tổng số hơn 40 tòa điện thờ và học viện ban đầu được xây dựng vào giai đoạn 1727 - 1736, hiện nay Tu viện Amarbayasgalant vẫn bảo tồn được 28 tòa công trình gỗ cốt lõi nằm dọc theo trục đối xứng trung tâm, trở thành quần thể kiến trúc Phật giáo cổ nguyên vẹn nhất tại Mông Cổ.

Nhục thân của Đại sư Zanabazar được đưa về tu viện vào năm nào?

Mặc dù tu viện khánh thành vào năm 1736, nhục thân ướp hương của Đệ nhất Pháp vương Zanabazar ban đầu được quàn tại Ulaanbaatar và tới năm 1779 mới được rước trọng thể về an vị trong bảo tháp tại điện Lavrin ở phía bắc khuôn viên Tu viện Amarbayasgalant.

›Đọc Tiếp