Giữa một vùng thảo nguyên phẳng và trống, cỏ chạy tới tận chân đồi xa, quý vị thấy một bức tường trắng dài như vạch phấn trên nền xanh. Lại gần mới thấy trên tường cứ một quãng lại có một ngọn bảo tháp trắng nhỏ, đều đặn, nối nhau vòng quanh một khuôn đất vuông. Qua cổng, bên trong là những khoảng cỏ rộng, rải rác vài nền móng cũ, và ở một góc là mấy ngôi điện mái ngói cong, tường sơn nhiều màu. Người hành hương đi chậm dọc theo hàng bảo tháp, tay lần chuỗi, miệng lầm rầm câu chú.
Đó là tu viện Erdene Zuu, ở rìa thị trấn Kharkhorin, tỉnh Övörkhangai, Mông Cổ, trong thung lũng sông Orkhon. Ngay bên cạnh là nền của Kharkhorum (Karakorum), cố đô của đế quốc Mông Cổ thế kỷ 13 và 14. Tu viện dựng năm 1585, là tu viện Phật Giáo sớm nhất của Mông Cổ còn lại tới nay.

INgôi Tu Viện Mở Đầu Phật Giáo Mông Cổ
Với phần đông người Mông Cổ theo đạo, đạo ấy là Phật Giáo Tây Tạng, và câu chuyện của nó trên thảo nguyên bắt đầu ở Erdene Zuu. UNESCO gọi đây là tu viện Phật Giáo Mông Cổ sớm nhất còn lại và xếp nó vào truyền thống Phật Giáo phương Bắc. Viewmongolia ghi tu viện thuộc dòng Gelug, người Việt quen gọi là phái Hoàng Mạo, mũ vàng, dòng do ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa, 1357 tới 1419) lập ở Tây Tạng. Vì thế thư viện chọn Erdene Zuu làm nơi đại diện duy nhất cho Mông Cổ: đây là ngôi tổ đình theo nghĩa lịch sử, ngôi chùa đầu tiên còn đứng của cả một nền Phật Giáo.
Tên tu viện có nhiều cách giải. Erdene trong tiếng Mông Cổ nghĩa là quý báu. Chữ Zuu được các nguồn giải khác nhau, có nguồn đọc là trăm, có nguồn gắn với tên gọi tượng Phật Thích Ca theo lối Tây Tạng. Thư viện ghi cả hai và không chọn.
Người lập tu viện là Abtai Sain Khan, thủ lĩnh người Khalkha, năm 1585, sau khi giao hảo về tôn giáo với Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba. Pilgrimaps ghi đá và vật liệu dựng tu viện lấy từ phế tích của cố đô Kharkhorum ngay bên cạnh, nên trong tường tu viện có lẫn dấu vết của một kinh thành cũ. Lúc thịnh, viewmongolia ghi trong tường có khoảng 62 điện, 500 lều ger và khoảng 1.000 tăng sĩ. Escapetomongolia ghi 60 điện, Magnificent Mongolia ghi từ 60 tới 100 điện và khoảng 300 lều ger. Thư viện ghi cả ba cách đếm.
Kim Cương thừa Mông Cổ khác Phật Giáo Việt Nam ở đâu
Cả Phật Giáo Mông Cổ lẫn phần lớn Phật Giáo Việt Nam đều thuộc Đại thừa, cùng kính Phật Thích Ca, cùng tụng tên Quán Thế Âm và A Di Đà. Chỗ khác nằm ở con đường tu. Phật Giáo Việt Nam phần đông theo lối Thiền Tịnh song tu, đọc kinh theo bản dịch chữ Hán hay tiếng Việt, người tu có thể tự tụng niệm mà không cần thầy trao truyền riêng. Phật Giáo Mông Cổ theo Kim Cương thừa của Tây Tạng: kinh tụng bằng tiếng Tạng, nhiều pháp môn chỉ được thực hành sau khi được một bậc thầy làm lễ quán đỉnh, tức trao truyền, và việc tu dựa nhiều vào mật chú, quán tưởng bổn tôn, mạn đà la.
Dòng Gelug của Erdene Zuu lại có nét riêng trong Kim Cương thừa: đặt nặng giới luật và học vấn, tăng sĩ học luận lý nhiều năm trước khi vào phần mật pháp. Đi quanh tu viện, quý vị sẽ gặp những thứ ít thấy ở chùa Việt: bánh xe cầu nguyện để quay theo chiều kim đồng hồ, cờ gió in chú, tượng hộ pháp mặt phẫn nộ mà giáo nghĩa coi là hiện thân của lòng từ khi phải dẹp chướng ngại. Khác với Bhutan theo dòng Drukpa Kagyu ở tu viện Taktsang, Mông Cổ theo dòng Gelug, cùng dòng với Đại Bảo Tháp Bendigo ở Úc nhưng cổ hơn gần bốn thế kỷ. Thư viện ghi những chỗ khác ấy để quý vị hiểu, không xếp truyền thống nào hơn truyền thống nào.
Nhiều người tưởng Erdene Zuu chỉ còn là một bảo tàng. Không hẳn. Pilgrimaps ghi hiện có một tăng đoàn nhỏ sống trong khuôn viên và giữ việc thờ tự, viewmongolia ghi điện Lavrin kiểu Tây Tạng vẫn có lễ tụng kinh hằng ngày. Ba điện chính được giữ làm nơi trưng bày tranh tượng, còn đời sống tu viện vẫn tiếp tục bên cạnh.
IITừ Cố Đô Kharkhorum Tới Thung Lũng Di Sản
Tu viện đã qua bốn thế kỷ dựng, mở rộng, mất mát và phục hồi. Các mốc dưới đây theo UNESCO và các nguồn Mông Cổ đã nêu tên, chỗ nào nguồn vênh thì ghi cả hai.
- Thế kỷ 13 và 14Cố đô KharkhorumKinh thành của đế quốc Mông Cổ đứng ở chính chỗ này. UNESCO ghi nền cố đô nằm ngay cạnh tu viện, trong cùng một vùng di sản.
- 1585Lập tu việnAbtai Sain Khan cho dựng Erdene Zuu sau khi giao hảo với Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba, vật liệu một phần lấy từ phế tích cố đô.
- 1675Điện Đạt Lai Lạt MaĐiện mang tên Đạt Lai Lạt Ma được dựng trong tường tu viện, theo viewmongolia và Magnificent Mongolia.
- 1780 hay 1875Điện LavrinĐiện kiểu Tây Tạng, nay là nơi tụng kinh hằng ngày. Escapetomongolia ghi dựng năm 1780, viewmongolia ghi năm 1875.
- 1799Bảo tháp vàngBảo tháp vàng Bodhi được dựng, viewmongolia ghi do Bogd Gegeen đời thứ tư dựng.
- Cuối thập niên 1930Phần lớn điện đài bị phá hủyPhần lớn điện và lều trong tường bị phá hủy. Ba điện chính còn lại được giữ làm nơi trưng bày. Magnificent Mongolia ghi nhiều tượng, mặt nạ và tranh thangka được người dân địa phương cất giữ.
- 1990Sinh hoạt tôn giáo trở lạiTu viện có lại tăng đoàn và lễ tụng kinh. Hàng 108 bảo tháp được phục dựng như cũ.
- 2004Di sản Thế giới UNESCOGhi danh trong Cảnh quan văn hóa thung lũng Orkhon, rộng 121.967 héc ta, theo tiêu chí ii, iii và iv.
Có hai chỗ nguồn vênh. Thứ nhất là năm dựng điện Lavrin: escapetomongolia ghi 1780, viewmongolia ghi 1875, cách nhau gần một thế kỷ, thư viện chưa có nguồn thứ ba để phân xử. Thứ hai là năm ba điện chính được dùng làm nơi trưng bày: viewmongolia ghi một năm cụ thể, pilgrimaps không ghi năm, nên thư viện không ghi năm này.
IIIKhuôn Vuông, Ba Điện Zuu Và Hàng Bảo Tháp
Pilgrimaps mô tả tu viện được bố cục như một mạn đà la tượng trưng, một vòng thiêng có tâm và có biên, bao bởi 108 bảo tháp. Viewmongolia ghi tường bao mỗi cạnh khoảng 400 mét, mỗi cạnh 25 bảo tháp, mỗi góc thêm hai, cộng lại 108, và giữa mỗi cạnh có một cổng lớn. Con số 108 là con số quen thuộc với Phật tử Việt, bằng số hạt của một tràng chuỗi và số tiếng chuông sớm chiều.
Pilgrimaps nhận xét tranh vách, tranh cuộn thangka và đồ gỗ chạm trong tu viện hòa lẫn ba nguồn Tây Tạng, Trung Hoa và Mông Cổ. Ba điện Zuu mang dáng mái ngói cong, còn điện Lavrin theo lối Tây Tạng tường dày mái bằng.
Theo viewmongolia, trong điện có ba pho tượng Phật lớn trên ba bệ: Phật Thích Ca ở giữa, một vị Phật quá khứ và Phật Di Lặc của vị lai ở hai bên, tức bộ Tam Thế Phật.
Điện thờ chính của tu viện. Viewmongolia ghi tượng Thích Ca lúc thơ ấu ở giữa, Phật A Di Đà bên phải và Phật Dược Sư (Otoch Manla) bên trái.
Giữa điện là tượng Phật Thích Ca tuổi thiếu niên, theo viewmongolia. Pilgrimaps ghi ba điện chính mỗi điện gắn với một chặng đời Đức Phật.
Điện kiểu Tây Tạng, niên đại ghi 1780 hay 1875 tùy nguồn, nay là nơi chư tăng tụng kinh hằng ngày.
Điện Đạt Lai Lạt Ma dựng năm 1675. Bảo tháp vàng Bodhi dựng năm 1799. Cả hai nằm trong tường bao.
Bảo tháp trắng nối nhau trên tường bao, được phục dựng sau năm 1990. Pilgrimaps ghi đi vòng quanh tu viện theo hàng bảo tháp là nếp quen của người hành hương.
Khách thường tưởng khoảng cỏ trống mênh mông trong tường là sân tu viện từ xưa. Thực ra đó là chỗ từng có hàng chục điện và hàng trăm lều ger. Những gì còn đứng hôm nay chỉ là một phần nhỏ của tu viện lúc thịnh, và các nền móng lác đác trên cỏ là dấu của phần đã mất.
IVThế Đất Và Hướng
Kim Cương thừa đặt một tu viện theo hình mạn đà la, tức một vòng thiêng vuông có cổng ở bốn phía, chứ không theo lối một mặt tiền quay về một hướng như chùa Việt. Người dựng Erdene Zuu cũng không cần tìm đất, vì họ dựng ngay bên nền cố đô, nơi đã là trung tâm của thảo nguyên. Thư viện không có tư liệu nào nói tu viện được chọn đất theo phép xem đất của người Tây Tạng hay người Mông Cổ. Phần sau đây do thư viện đọc theo phong thủy cổ truyền Việt Nam, chỉ để quý vị có một cách nhìn quen thuộc đặt cạnh một nơi xa lạ.
Điều đầu tiên con mắt Việt nhận ra là thế thung lũng. Tu viện nằm trong thung lũng sông Orkhon, đồi núi vây ở xa, lòng thung lũng rộng và bằng. Đó là một minh đường cực lớn, loại đất mà sách xưa nói là rộng rãi để khí tụ lại, không chật hẹp để khí bị ép. Dòng Orkhon chảy qua thung lũng không xa tu viện, làm phần thủy mà mọi thế đất tốt đều cần.
Thứ hai là hình vuông. Trong lối nghĩ cổ Đông Á, vuông là hình của đất, tròn là hình của trời. Một khuôn vuông lớn đặt trên thảo nguyên là cách con người đánh dấu một mảnh đất thành chỗ ở của cái thiêng. 108 ngọn bảo tháp tròn đỉnh điểm trên bờ vuông đọc theo lối Việt là trời gặp đất trên cùng một đường ranh.
Thứ ba là bốn cổng. Chùa Việt thường có một tam quan chính và một hướng chính. Ở đây, cổng mở giữa cả bốn cạnh, khí vào được từ mọi phía. Đọc theo lối cũ thì đó là thế không chọn hướng, hợp với ý của mạn đà la là cõi Phật hiện đủ mười phương.
Cuối cùng là ngũ hành của nền cũ. Tu viện dựng một phần bằng đá của một kinh thành đã đổ. Thổ và Kim của thành cũ trở thành nền của cõi thờ mới. Theo lối cũ, đất đã có người ở lâu đời là đất có duyên, và ở Erdene Zuu, cái duyên ấy nhìn thấy được bằng mắt thường, trong từng viên đá.
VLịch Lễ Của Dòng Gelug Trên Thảo Nguyên
Các nguồn thư viện đã mở không ghi một lễ riêng của tu viện Erdene Zuu. Bảng dưới vì thế ghi các ngày lễ chung của Phật Giáo Mông Cổ và của dòng Gelug, là những ngày mà một tu viện Gelug đang sinh hoạt thường làm lễ. Phật Giáo Mông Cổ tính ngày theo âm lịch Mông Cổ, gần với lịch Tây Tạng, nên ngày dương lịch thay đổi mỗi năm. Chỉ ghi ngày, không ghi giờ.
| Ngày | Theo lịch nào | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|---|
| Mùng 1 tháng Giêng | Âm lịch Mông Cổ | Tsagaan Sar, Tết tháng trắng | Tết của người Mông Cổ, theo factsanddetails là dịp lớn nhất trong năm, nếp Phật Giáo và nếp cổ truyền đan vào nhau. |
| Mười ngày trước rằm tháng Giêng | Lịch Tây Tạng, dòng Gelug | Đại lễ cầu nguyện Monlam | Theo Nalanda Monastery, lễ do ngài Tông Khách Ba lập năm 1409, là lễ cầu nguyện lớn nhất của dòng Gelug. |
| Rằm tháng Giêng | Lịch Tây Tạng | Chötrül Düchen, ngày thần biến | Kỷ niệm Đức Phật hiện thần thông để cảm hóa những người theo ngoại đạo, khép lại mùa Monlam. |
| Rằm tháng đầu mùa hạ | Âm lịch Mông Cổ, thường rơi vào tháng 5 dương lịch | Ngày Phật, Saga Dawa Düchen | Kỷ niệm cùng lúc Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn, theo officeholidays và Nalanda Monastery. |
| 22 tháng Chín | Lịch Tây Tạng | Lhabab Düchen | Kỷ niệm Đức Phật từ cõi trời Ba Mươi Ba trở về cõi người sau khi giảng pháp cho thân mẫu. |
| 25 tháng Mười | Lịch Tây Tạng, dòng Gelug | Ngày tưởng niệm ngài Tông Khách Ba | Ngày ngài Tông Khách Ba, người lập dòng Gelug, nhập diệt. Các tu viện Gelug thắp đèn và tụng kinh. |
Người Việt sẽ thấy một chỗ khác đáng chú ý: Phật Giáo Mông Cổ và Tây Tạng gộp ba sự kiện đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn vào một ngày rằm, giống lệ Vesak của Phật Giáo Nam tông. Phật Giáo Bắc tông Việt Nam thì tách riêng: Phật Đản rằm tháng Tư, thành đạo mùng 8 tháng Chạp, nhập niết bàn rằm tháng Hai âm lịch.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Rìa thị trấn Kharkhorin, tỉnh Övörkhangai, thung lũng sông Orkhon
- Đường tới
- Tu viện ở rìa thị trấn Kharkhorin, tỉnh Övörkhangai, trong thung lũng sông Orkhon, miền trung Mông Cổ. Từ Ulaanbaatar đi đường bộ về phía tây nam tới Kharkhorin, tu viện ở ngay cạnh thị trấn.
- Toạ độ
- 47.2012, 102.841
Tu viện vừa là nơi có tăng đoàn sinh hoạt vừa là nơi trưng bày tranh tượng cổ. Lệ của tu viện theo nếp Phật Giáo Tây Tạng: đi quanh điện, quanh bảo tháp và quay bánh xe cầu nguyện theo chiều kim đồng hồ, không đi ngược. Không chỉ ngón tay vào tượng, không chạm vào tranh thangka. Khi chư tăng đang tụng kinh ở điện Lavrin, xin đứng hoặc ngồi yên phía sau, không đi ngang trước mặt.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Erdene Zuu, Kharkhorin
Contribute photos, information or video for Erdene Zuu MonasteryThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Erdene Zuu thuộc dòng Phật Giáo nào
Tu viện thuộc Phật Giáo Tây Tạng, dòng Gelug, phái mũ vàng do ngài Tông Khách Ba lập, UNESCO gọi chung là truyền thống Phật Giáo phương Bắc. Đây là Kim Cương thừa, tụng kinh bằng tiếng Tạng, khác lối Thiền Tịnh song tu của phần lớn chùa Việt Nam.
Erdene Zuu được xây năm nào và do ai
Tu viện do Abtai Sain Khan, thủ lĩnh người Khalkha, cho dựng năm 1585 sau khi giao hảo về tôn giáo với Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba. Đây là tu viện Phật Giáo sớm nhất còn lại của Mông Cổ, dựng ngay cạnh nền cố đô Kharkhorum, một phần bằng vật liệu lấy từ phế tích cố đô.
Vì sao Erdene Zuu có 108 bảo tháp
Tường bao vuông khoảng 400 mét mỗi cạnh được điểm 108 bảo tháp trắng, mỗi cạnh 25 tháp, mỗi góc thêm hai. 108 là con số thiêng trong Phật Giáo, bằng số hạt tràng chuỗi. Pilgrimaps ghi cả khuôn viên được bố cục như một mạn đà la, và đi quanh hàng bảo tháp là nếp của người hành hương.
Erdene Zuu còn tăng sĩ tu không hay chỉ là bảo tàng
Cả hai. Ba điện chính được giữ làm nơi trưng bày tranh tượng từ thế kỷ 16 tới 19, còn sinh hoạt tôn giáo trở lại từ năm 1990. Pilgrimaps ghi có một tăng đoàn nhỏ sống trong khuôn viên, viewmongolia ghi điện Lavrin vẫn có lễ tụng kinh hằng ngày.
Thung lũng Orkhon được UNESCO công nhận năm nào
Năm 2004, với tên Cảnh quan văn hóa thung lũng Orkhon, rộng 121.967 héc ta, theo tiêu chí ii, iii và iv. Vùng di sản gồm tu viện Erdene Zuu, nền cố đô Kharkhorum và nhiều di tích khác dọc sông Orkhon.