VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh Shiveet Ulaan

Tövkhön Khiid, Tuvkhun Monastery, Ẩn thất Tövkhön trên đỉnh Shiveet Ulaan

Ẩn thất thiền định và xưởng sáng tác nghệ thuật treo trên vách đá hoa cương đỉnh núi Shiveet Ulaan ở độ cao 2.312 mét giữa rừng thông dãy Khangai, được Đệ nhất Pháp vương Zanabazar chọn địa thế năm 1648 và khởi dựng năm 1651, nơi Ngài sáng tạo chữ Soyombo năm 1686 và là thánh địa hành hương chui qua Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii) trong vùng Di sản Thế giới UNESCO Thung lũng Orkhon.

Khởi dựng
Năm 1648 tới 1651
Đệ nhất Pháp vương Zanabazar chọn đỉnh núi đá hình ngai vàng năm 14 tuổi (1648) và dựng thất thiền định năm 1651
Dấu ấn văn hóa
Cái nôi chữ Soyombo
nơi Đức Zanabazar nhập thất sáng tạo bộ chữ Soyombo năm 1686 (biểu tượng trên quốc kỳ và quốc huy Mông Cổ)
Di sản & Thánh tích
UNESCO & Hang Lòng Mẹ
thuộc Di sản Thế giới Thung lũng Orkhon (2004), nổi tiếng với nghi thức chui qua Hang Lòng Mẹ trên vách đá cao 2.312 mét

Nếu như Tu viện Erdene Zuu và Tu viện Shankh Khiid (Tây Khố Luân) nằm trải rộng trên những thềm thảo nguyên bằng phẳng dưới lòng thung lũng để đón hàng vạn tín đồ, thì ở phía thượng nguồn sông Orkhon, có một thánh địa Phật giáo lại ẩn mình tít trên đỉnh núi đá cao vợi giữa đại ngàn thông tùng. Sau hành trình leo bộ xuyên qua những cánh rừng thông larch và tuyết tùng thơm ngát mùi nhựa gỗ trên sườn dãy núi Khangai, khách hành hương bất ngờ bước ra một vách đá hoa cương dựng đứng ở độ cao 2.312 mét so với mực nước biển: nơi những ngôi điện gỗ nhỏ nhắn của Tu viện Tövkhön Khiid bám chặt vào triền đá dưới một mỏm núi có hình dáng hệt như chiếc ngai vàng khổng lồ nhìn ra bốn phương tám hướng.

Được Đức Đệ nhất Pháp vương Jebtsundamba Khutuktu Öndör Gegeen Zanabazar (1635 tới 1723) đích thân phát hiện và chọn làm nơi ẩn tu vào năm 1648 khi mới mười bốn tuổi, rồi khởi dựng thất gỗ vào năm 1651 tới năm 1653, Tövkhön Khiid vừa là đạo tràng nhập thất mật giáo tĩnh lặng, vừa là xưởng sáng tác nghệ thuật độc nhất vô nhị trong lịch sử Nội Á. Chính tại đỉnh núi mây ngàn Shiveet Ulaan này, suốt hơn ba mươi năm tĩnh tu, Đức Zanabazar đã đúc nên những kiệt tác tượng Phật bằng đồng mạ vàng đẹp nhất thế giới Kim Cương thừa và khai sinh ra bộ chữ Soyombo vào năm 1686, mà chữ mở đầu ngày nay vẫn tỏa sáng trên quốc kỳ và quốc huy của đất nước Mông Cổ.

Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh Shiveet Ulaan
Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh Shiveet Ulaan. Ảnh: Bernard Gagnon, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

IThất Sáng Tạo Dubkhan Của Đức Zanabazar, Biểu Tượng Soyombo Và Nghi Thức Tái Sinh Nơi Hang Lòng Mẹ

Khi Đức Pháp vương Zanabazar cho dựng căn thất gỗ và đá đầu tiên trên đỉnh núi Shiveet Ulaan vào năm 1651 và mở rộng năm 1653, Ngài đặt tên cho chốn ẩn cư này theo tiếng Tây Tạng là Dubkhan (phiên âm chuẩn chữ Tạng là Grub-khang), mang hai tầng nghĩa sâu sắc: trong ngôn ngữ tu hành mật giáo, đó là Thành Tựu Thất (tịnh thất nhập định để đạt thành tựu giác ngộ tối cao); còn trong đời sống nghệ thuật, đó là Xưởng Sáng Tác (nơi người nghệ sĩ và bậc đạo sư hòa làm một để hiện thực hóa vẻ đẹp của chư Phật thành hình tướng). Qua hàng thế kỷ truyền miệng trong tiếng Mông Cổ vùng Khalkha, âm Dubkhan dần biến âm thành Tövkhön (Tövkhön Khiid), đồng thời gợi lên ý nghĩa về sự an định, cân bằng và tĩnh tại giữa trung tâm đất trời.

Bên trong các ngôi điện gỗ nhỏ nhắn gắn liền với vách đá của Tövkhön Khiid, không gian thờ tự tập trung vào các vị bổn tôn hộ mệnh gắn bó mật thiết với cuộc đời tu chứng của Đức Zanabazar: Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Kim Cương Trì (Vajradhara, vị Phật nguyên thủy của dòng truyền thừa Mật tông), Đức Bồ Tát Cứu Độ Mẫu Tara (gồm Lục Độ Mẫu Green Tara và Bạch Độ Mẫu White Tara), Đức Phật Trường Thọ Vô Lượng Thọ (Ayush hay Amitayus) cùng tôn tượng Đức Öndör Gegeen Zanabazar và vị thần núi bản địa bảo hộ đỉnh Shiveet Ulaan. Đặc biệt, ngôi điện nhỏ nằm ngay phía trước hang thiền định của Đức Zanabazar được tôn kính như nơi lưu giữ hơi ấm và năng lượng gia trì trực tiếp của Ngài.

Vượt ra ngoài phạm vi các ngôi điện gỗ, toàn bộ khối núi đá hoa cương trên đỉnh Shiveet Ulaan là một thánh địa hành hương tự nhiên sống động, nơi người dân Mông Cổ thực hành các nghi thức tẩy tịnh thân tâm gắn liền với đá núi. Nổi tiếng nhất là Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii): một khe hang đá hẹp ăn sâu vào vách núi phía sau tu viện. Theo truyền thống hành hương thảo nguyên, người tín đồ cúi mình trườn vào lòng hang hẹp tới tận đáy sâu (tượng trưng cho việc trở về tử cung của người mẹ), rồi xoay mình chui ngược trở ra ngoài ánh sáng mặt trời. Người Mông Cổ tin rằng khi bước ra khỏi Hang Lòng Mẹ, con người như được sinh ra một lần nữa, rũ bỏ mọi ác nghiệp, bệnh tật và phiền não cũ để bắt đầu một cuộc đời mới thanh sạch như trẻ thơ.

Theo giáo nghĩa

Sự ra đời của biểu tượng và bộ chữ Soyombo tại đỉnh Tövkhön vào năm 1686 là kết tinh rực rỡ của triết lý Phật giáo Kim Cương thừa và vũ trụ quan Mông Cổ. Chữ Soyombo bắt nguồn từ tiếng Phạn Svayambhu (nghĩa là Tự Sinh hay Tự Tại Phát Khởi). Ở đầu bảng chữ cái, Đức Zanabazar đã thiết kế một đồ hình thiêng liêng gồm ngọn lửa ba ngọn (biểu trưng cho sự hưng thịnh quá khứ, hiện tại và tương lai), mặt trời và mặt trăng khuyết (cha trời và mẹ đất), hai hình tam giác hướng xuống (sự kiên quyết bảo vệ chánh pháp), hai thanh ngang (sự chính trực công bằng của bậc thượng nhân và hạ dân), hai cột đứng (bức tường thành đoàn kết vững chắc) bao quanh biểu tượng hai con cá xoay tròn không bao giờ nhắm mắt (sự tỉnh thức không ngừng nghỉ của trí tuệ và phương tiện). Đó là một bản mạn đà la triết học thu gọn trong một ký tự duy nhất.

Tại Tövkhön Khiid, nghệ thuật đúc tượng đồng không tách rời khỏi thiền định. Đức Zanabazar nhập định trong hang đá để quán tưởng dung mạo từ bi tuyệt mỹ của Đức Kim Cương Trì và Bồ Tát Tara, rồi ngay khi xuất định, Ngài tự tay nặn khuôn sáp ong và đúc đồng không một mối hàn. Vì vậy mỗi pho tượng sinh ra từ đỉnh Shiveet Ulaan đều mang thần thái sống động, mềm mại và tràn đầy hỷ lạc nội tâm.

Theo sử liệu

Sử liệu biên niên vùng Khalkha ghi chép rằng vào mùa hè năm 1648, khi mới mười bốn tuổi (một năm sau khi lập tăng doanh Baruun Khüree dưới thảo nguyên), Đức Zanabazar trong một chuyến du khảo qua dãy núi Khangai đã trèo lên đỉnh núi đá Shiveet Ulaan nằm ở ranh giới hai tỉnh Övörkhangai và Arkhangai ngày nay. Nhận thấy đỉnh núi có hình dáng một chiếc ghế bành bằng đá tự nhiên hoàn hảo quay mặt về hướng nam, bao quanh bởi rừng thông cổ thụ biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài, Ngài đã quyết định chọn nơi đây làm chốn tịnh tu riêng.

Năm 1651, sau khi trở về từ chuyến hành hương Tây Tạng lần thứ nhất, Đức Zanabazar đã tự tay vẽ thiết kế và cùng các nghệ nhân dựng ngôi thất thiền định bằng gỗ lắp mộng đầu tiên trên vách đá, rồi mở rộng thêm các điện thờ nhỏ vào năm 1653. Trong suốt giai đoạn từ năm 1653 tới cuối thập niên 1680, Tövkhön Khiid là nơi Đức Zanabazar lui về nhập thất dài ngày, sáng tác các bài kệ đạo ca bất hủ (như bài cầu nguyện Janglav Tsogzol), đúc tượng Phật và hoàn thành bộ chữ cái Soyombo vào năm 1686.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách lần đầu nghe tên Tu viện Tövkhön thường hình dung một đại tự viện đồ sộ với hàng nghìn lạt ma giống như Tu viện Amarbayasgalant hay Gandantegchinlen. Thực chất, Tövkhön Khiid chưa bao giờ là một đô thị tăng viện đông đúc: từ lúc khởi lập năm 1651 cho tới nay, nơi đây luôn giữ đúng bản chất là một ẩn thất thiền định trên đỉnh núi cao (hermitage) chỉ gồm mười bốn ngôi điện và thất gỗ nhỏ nhắn nép vào vách đá, dành riêng cho bậc đạo sư và một nhóm nhỏ hành giả mật tông nhập thất chuyên sâu.

IIBa Thế Kỷ Rưỡi Trên Đỉnh Shiveet Ulaan: Từ Xưởng Nghệ Thuật Của Đức Zanabazar Tới Di Sản Thế Giới UNESCO

Lịch sử của Tu viện Tövkhön Khiid gắn chặt với những bước ngoặt văn hóa và lịch sử của dân tộc Mông Cổ từ giữa thế kỷ 17. Sau ba thập kỷ vàng son là nơi sáng tác của Đức Zanabazar (từ năm 1651 tới năm 1686), vào năm 1688, khi cuộc chiến tranh giữa bộ tộc Oirat Dzungar (do Galdan Boshugtu cầm đầu) và các bộ tộc Khalkha nổ ra ác liệt, quân đội Dzungar đã tràn lên tấn công và làm hư hại ẩn thất trên đỉnh Shiveet Ulaan, buộc Đức Zanabazar phải tạm lánh về phương nam. Tới năm 1773, dưới sự bảo trợ của các vương công Khalkha và các đời Jebtsundamba Khutuktu kế tiếp, quần thể Tövkhön Khiid đã được đại trùng tu khôi phục nguyên trạng để làm thánh địa hành hương tưởng niệm Đức Đệ nhất Pháp vương.

Bước sang thế kỷ 20, dù nằm biệt lập trên đỉnh núi đá cao hơn hai nghìn ba trăm mét giữa rừng già, Tövkhön Khiid vẫn không tránh khỏi làn sóng hủy diệt tôn giáo cuối thập niên 1930: vào các năm 1937 tới 1939, các ngôi điện gỗ trên vách đá bị đốt phá và tháo dỡ, chỉ còn lại những bậc thềm đá, hang thiền định và hai đàn đá Ovoo trên đỉnh núi. Sau cuộc cách mạng dân chủ năm 1990, Tu viện Tövkhön được xếp hạng Bảo tồn Quốc gia năm 1992; từ năm 1997 tới năm 2001, các nghệ nhân mộc truyền thống đã dựa theo những bức ảnh tư liệu và bản vẽ khảo cổ đầu thế kỷ 20 để phục dựng hoàn chỉnh các ngôi điện gỗ lắp mộng trên vách đá mà không làm tổn hại đến cảnh quan tự nhiên, đưa nơi đây trở thành điểm nhấn của Di sản Thế giới UNESCO Cảnh quan văn hóa thung lũng Orkhon vào năm 2004.

  • Năm 1648 và năm 1651Đức Zanabazar chọn đỉnh núi Shiveet Ulaan và dựng thất Dubkhan đầu tiên
    Ở tuổi 14 (1648), Đức Zanabazar phát hiện địa thế hình ngai vàng trên đỉnh núi Shiveet Ulaan; năm 1651 (sau khi từ Tây Tạng trở về) Ngài thiết kế và dựng thất thiền định bằng gỗ đầu tiên, mở rộng vào năm 1653.
  • Giai đoạn 1653 tới 1686Ba thập kỷ nhập thất chế tác tượng đồng và sáng tạo chữ Soyombo (1686)
    Đức Zanabazar tịnh tu và làm việc tại Tövkhön, sáng tác nhiều tác phẩm điêu khắc Phật giáo kiệt xuất, viết các bài kệ cầu nguyện và hoàn thành bộ chữ cái cùng biểu tượng Soyombo vào năm 1686.
  • Năm 1688 và năm 1773Biến cố chiến tranh Khalkha - Oirat và đợt đại trùng tu thế kỷ 18
    Năm 1688 ẩn thất bị hư hại trong cuộc xung đột với quân Dzungar; năm 1773 chư tăng và vương công Khalkha trùng tu toàn bộ 14 công trình nhỏ trên vách đá làm thánh địa tưởng niệm Tổ sư.
  • Cuối thập niên 1930 (1937 tới 1939)Các ngôi điện gỗ bị phá hủy trong chiến dịch thanh trừng tôn giáo
    Các công trình kiến trúc gỗ trên sườn đá Shiveet Ulaan bị tháo dỡ và thiêu hủy, chỉ còn lại hệ thống hang đá thiền định, nền đá ghép và các dấu chân in trên đá.
  • Năm 1992 tới năm 2004Phục dựng nguyên trạng kiến trúc gỗ và ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    Nhà nước Mông Cổ xếp hạng bảo vệ đặc biệt năm 1992, phục dựng các ngôi điện gỗ truyền thống giai đoạn 1997 tới 2001 và được UNESCO công nhận Di sản Thế giới trong Cảnh quan văn hóa thung lũng Orkhon năm 2004.
Theo sử liệu

Dấu chiếc ủng của Đức Zanabazar và chiếc nôi đá trên đỉnh núi. Trong kho tàng truyền thuyết và di tích thực địa tại Tövkhön Khiid, ngoài Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii), khách hành hương còn đặc biệt thành kính trước những dấu tích gắn liền với sinh hoạt của Đức Zanabazar trên vách đá hoa cương: một vết lõm tự nhiên trên tảng đá phẳng có hình dáng hệt như dấu chiếc ủng truyền thống của Đức Zanabazar (tương truyền do năng lượng thiền định của Ngài in dấu vào đá), một hốc đá hình chiếc nôi trẻ thơ (Ölgii) ngay bên ngoài Hang Lòng Mẹ nơi người hành hương nằm vào sau khi hoàn tất nghi thức tái sinh, và những mạch nước mưa tinh khiết đọng trên hốc đá đỉnh núi được coi là nước cam lộ chữa lành bệnh mắt và bệnh dạ dày.

IIIKiến Trúc Gỗ Mộng Treo Trên Vách Đá Hoa Cương, Thất Nhập Định Và Quần Thể Hang Đá Linh Thiêng

Điểm kỳ diệu nhất trong kiến trúc của Tu viện Tövkhön Khiid là sự hòa quyện tuyệt đối giữa tự nhiên và nhân tạo: con người không san phẳng ngọn núi để xây chùa, mà nương theo từng bậc đá hoa cương lồi lõm ở độ cao 2.312 mét để ghép những ngôi điện gỗ nhỏ nhắn vào lòng vách đá dựng đứng. Toàn bộ các công trình tại đây đều được dựng bằng gỗ thông larch bản địa theo kỹ thuật ghép mộng truyền thống không dùng đinh sắt, đặt trên những bệ đá xếp khô (dry-stone masonry) khéo léo lấp đầy các khe nứt của sườn núi.

Khuôn viên tu viện được chia làm hai tầng không gian rõ rệt: tầng thềm đá bên dưới (nơi có cổng gỗ, giếng nước cổ, bốn ngôi điện gỗ sơn màu nâu đỏ và vàng ấm áp cùng hang thiền định của Đức Zanabazar) và tầng đỉnh đá hoa cương cao vút phía trên (nơi khách hành hương phải leo qua các khe đá dốc để tới Hang Lòng Mẹ, các hốc đá chữa bệnh và hai đàn tế Ovoo ngắm toàn cảnh biển rừng Khangai).

Điện Sáng Tác (Büteeliin Süm) và Điện Chính (Tsogchin Dugan)

Những ngôi điện gỗ nhỏ nhắn có mái hiên cong truyền thống nằm trên thềm đá bằng phẳng lưng chừng vách núi, nơi tôn trí tượng Phật Thích Ca, Đức Zanabazar và là chỗ chư tăng tụng kinh cầu an cho khách hành hương.

Hang Thiền định của Đức Zanabazar và Điện Tưởng niệm (Öndör Gegeenii Süm)

Một hốc hang đá nhỏ ăn sâu vào vách núi hoa cương được che chắn phía trước bởi một ngôi điện gỗ nhỏ sơn trang nhã; chính trong lòng hang đá tĩnh mịch này, Đức Zanabazar đã ngồi nhập định hàng tháng trời và thai nghén chữ Soyombo.

Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii) và Tảng Đá Chiếc Nôi (Ölgii)

Nằm trên vách đá phía trên khu điện thờ, Hang Lòng Mẹ là một đường hầm đá tự nhiên hẹp chỉ vừa một người trườn qua rồi xoay người ở đáy hang để chui ra, ngay bên ngoài là hốc đá hình chiếc nôi tượng trưng cho sự chào đời mới mẻ.

Tảng đá in dấu ủng của Đức Zanabazar và các Hốc đá trị liệu

Dọc theo lối mòn trên vách đá hoa cương có phiến đá lưu giữ vết lõm hình chiếc ủng của Tổ sư Zanabazar cùng các vách đá nhẵn bóng nơi người hành hương áp lưng, vai hoặc bụng vào đá lạnh để cầu tiêu trừ bệnh tật.

Hai đàn đá Ovoo trên đỉnh tuyệt đối của núi Shiveet Ulaan

Vượt qua đoạn vách đá dốc trên cùng là đỉnh cao nhất của ngọn núi (2.312 mét), nơi dựng hai đàn đá Ovoo phủ đầy khăn lụa Khadag xanh biếc, mở ra tầm nhìn 360 độ bao quát trọn vẹn rừng thông Khangai và thung lũng Orkhon.

Các thông số lịch sử, độ cao địa lý và cấu trúc kiến trúc của Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh núi Shiveet Ulaan. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (Mã số 1081), Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ và Wikidata (Q1923446)..
Hạng mụcThông số lịch sử và kiến trúcNguồn kiểm chứng
Tên gọi và nguyên nghĩaTövkhön Khiid (bắt nguồn từ tiếng Tây Tạng Dubkhan / Grub-khang: Thành Tựu Thất hay Xưởng Sáng Tác)Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 1081, Wikidata Q1923446
Niên đại khởi dựngChọn đất năm 1648; dựng thất gỗ đầu tiên năm 1651 tới 1653; trùng tu năm 1773 và giai đoạn 1997 tới 2001Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ, Biên niên sử Zanabazar
Độ cao thực địaKhoảng 2.300 tới 2.312 mét trên mực nước biển (trên đỉnh núi đá Shiveet Ulaan)Khảo sát địa hình Vườn Quốc gia Thung lũng Orkhon
Thành tựu văn hóaNơi Đức Zanabazar sáng tạo bộ chữ Soyombo năm 1686 và chế tác các tác phẩm điêu khắc đồng mạ vàngBảo tàng Mỹ thuật Zanabazar, UNESCO
Cấu trúc quần thểHệ thống 4 điện gỗ chính (trong tổng thể 14 hạng mục lịch sử), Hang Thiền định, Hang Lòng Mẹ và 2 đàn Ovoo đỉnh núiCơ quan Quản lý Di sản Văn hóa Mông Cổ

IVThế Đất Và Hướng

Trong toàn bộ các di tích Phật giáo tại Mông Cổ, hiếm có nơi nào sở hữu một thế đất kỳ vĩ và chuẩn xác như đỉnh Shiveet Ulaan nơi Đức Zanabazar đã chọn năm 1648: một chiếc ngai đá khổng lồ đặt trên đỉnh núi cao hơn hai nghìn ba trăm mét giữa đại ngàn. Phần dưới đây phân tích địa thế của Tövkhön Khiid theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét về long mạch và hình thế núi tại tọa độ 47,0128 độ vĩ bắc, 102,2575 độ kinh đông, núi Shiveet Ulaan là một nhánh sơn mạch đá hoa cương đỏ sẫm vươn lên từ dãy núi Khangai hùng vĩ ở miền trung Mông Cổ. Điểm đặc biệt nhất của ngọn núi này là phần đỉnh phía bắc nhô cao thành một bức vách đá dựng đứng liên hoàn chạy vòng sang hai bên tả hữu, tạo thành hình dáng một chiếc ghế bành của bậc đế vương (Kim Giao Đẳng hay Long Ngai trong phép xem hình thế cổ truyền). Toàn bộ các ngôi điện gỗ của Tövkhön Khiid nằm gọn ngay trên mặt phẳng thềm đá ở chính giữa lòng ghế ấy: phía sau lưng có vách đá hoa cương cao gần hai mươi mét làm Huyền Vũ che chắn tuyệt đối gió lạnh phương Bắc; hai bên tả hữu có hai mỏm đá nhô ra như hai tay vịn Thanh Long và Bạch Hổ ôm giữ không cho khí bị gió núi thổi tán.

Xét về tọa hướng và tầm nhìn Minh Đường, tu viện mở mặt theo trục tọa Bắc hướng Nam (hơi chếch Đông Nam), nhìn thẳng ra một biển rừng thông larch và tuyết tùng xanh thẳm trải dài hàng chục kilômét xuống lưu vực thung lũng sông Orkhon ở phía nam. Đứng từ thềm chùa nhìn ra phía trước, hàng lớp đồi núi thấp dần ở đằng xa trông như muôn trùng sóng triều bái phục trước ngai đá (vạn sơn triều củng). Sự kết hợp giữa thế núi ngai vàng độc tôn ở độ cao 2.312 mét, bầu không khí tinh khiết của rừng thông đại ngàn và tầm nhìn bao quát cả một vùng trời đất mênh mông giải thích vì sao Đức Zanabazar lại chọn đúng điểm huyệt này làm nơi khai mở trí tuệ để sáng tạo nên biểu tượng quốc gia Soyombo.

VHành Hương Mùa Hạ Lên Đỉnh Shiveet Ulaan, Lễ Kỷ Niệm Đức Zanabazar Và Nghi Thức Hang Lòng Mẹ

Do nằm trên đỉnh núi cao 2.312 mét với mùa đông tuyết phủ dày đặc, mùa hành hương nhộn nhịp nhất tại Tu viện Tövkhön Khiid diễn ra từ cuối mùa xuân qua suốt mùa hạ sang mùa thu. Vào những ngày cát tường theo âm lịch Mông Cổ, hàng trăm gia đình từ khắp mọi miền đất nước lại cùng nhau leo bộ năm kilômét đường rừng dốc đứng để lên đỉnh Shiveet Ulaan lễ Phật, chui qua Hang Lòng Mẹ và dâng khăn lụa trên đàn tế Ovoo. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ tiết và sinh hoạt tâm linh chính tại tu viện.

Các kỳ lễ tiết Phật giáo và nghi thức hành hương núi thiêng hằng năm tại Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh Shiveet Ulaan. Nguồn: Ban Quản lý Di sản Thế giới Thung lũng Orkhon và Tu viện Tövkhön Khiid..
Thời gianHệ lịchTên lễ tiếtNghi thức và sinh hoạt tại Tu viện Tövkhön Khiid
Mùng 1 tới Rằm tháng GiêngÂm lịch Mông CổLễ Cầu an Đầu xuân Tết Tháng Trắng (Tsagaan Sar) và Đảnh lễ Đỉnh núiNhững người hành hương dũng cảm vượt đường rừng tuyết trắng lên đỉnh Shiveet Ulaan vào những ngày đầu năm mới để đón ánh mặt trời đầu xuân trên đàn Ovoo đỉnh núi và cầu nguyện phước lành trọn năm.
Rằm tháng đầu mùa hạ (tháng Tư âm lịch)Âm lịch Mông CổĐại lễ Phật Đản Tam Hợp (Ikh Düchen) và Khai mùa Hành hương Núi ThiêngKhi băng tuyết trên dãy Khangai tan hết và rừng thông đâm chồi xanh biếc, chư tăng cử hành đại lễ kỷ niệm Đức Phật Thích Ca, mở đầu mùa hành hương cao điểm lên Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii).
Mùa hạ và Mùa thu (tháng Sáu tới tháng Chín)Âm lịch Mông CổNghi thức Hành hương Tái sinh qua Hang Lòng Mẹ và Lễ Tế Ovoo Đỉnh núiHàng ngày khách hành hương thực hiện nghi thức trườn qua Hang Lòng Mẹ để tẩy tịnh nghiệp chướng, nằm vào tảng đá Chiếc Nôi, ướm chân vào dấu ủng Đức Zanabazar và đi vòng quanh hai đàn đá Ovoo trên đỉnh núi.
Tháng Chín hoặc tháng Mười âm lịchÂm lịch Mông CổLễ Tưởng niệm Đức Đệ nhất Pháp vương Öndör Gegeen ZanabazarTrì tụng bài nguyện Janglav Tsogzol do chính Đức Zanabazar trước tác, dâng đèn bơ tại Hang Thiền định của Ngài và tri ân công đức sáng tạo chữ Soyombo cùng nghệ thuật Phật giáo Mông Cổ.
Ngày 25 tháng MườiÂm lịch Mông CổLễ hội Thắp Đèn Bơ Tưởng niệm Đại sư Tông Khách Ba (Zulyn Khural)Chư tăng giữ thất trên đỉnh núi thắp sáng đèn bơ yak trong các ngôi điện gỗ giữa sương mù và gió lạnh đầu đông, hồi hướng công đức cho muôn loài trên thảo nguyên.

Bước chân lặng lẽ xuyên rừng thông và nụ cười khi chui ra khỏi Hang Lòng Mẹ. Không giống những ngôi chùa có thể đi xe tới tận cổng, để chạm tay vào thềm gỗ của Tövkhön Khiid, mỗi người đều phải bỏ lại xe cơ giới dưới chân núi để tự mình đi bộ hoặc cưỡi ngựa leo dốc suốt hơn một giờ đồng hồ qua rừng thông Khangai. Chính quãng đường leo núi thở gấp trong hương thông ngai ngái ấy lại là một cuộc hành thiền tự nhiên giúp gột rửa mọi xao động đời thường trước khi bước lên ngai đá.

Khi đứng trên đỉnh cao nhất của Shiveet Ulaan bên cạnh đàn đá Ovoo phủ đầy lụa xanh bay phần phật trong gió, phóng tầm mắt nhìn xuống biển rừng xanh thẳm nơi Đức Zanabazar từng ngồi ngắm mây trời hơn ba thế kỷ trước, mỗi người hành hương đều cảm nhận rõ rệt sự hòa điệu kỳ diệu giữa tâm thức con người và sự tĩnh lặng vĩnh cửu của thiên nhiên đại ngàn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đỉnh núi đá Shiveet Ulaan (cao 2.312 mét), ranh giới huyện Bat-Ölzii (tỉnh Övörkhangai) và huyện Khotont (tỉnh Arkhangai), thung lũng Orkhon, Mông Cổ
Đường tới
Tu viện Tövkhön Khiid nằm trên đỉnh núi Shiveet Ulaan ở ranh giới giữa huyện Bat-Ölzii (tỉnh Övörkhangai) và huyện Khotont (tỉnh Arkhangai), cách thị trấn Kharkhorin khoảng 50 tới 65 km về phía tây nam (nằm giữa cung đường từ Kharkhorin đi thác nước Orkhon / Ulaan Tsutgalan). Từ Kharkhorin, du khách đi xe địa hình 4WD theo đường mòn thung lũng khoảng 2 giờ để tới bãi đỗ xe dưới chân núi Shiveet Ulaan; từ chân núi, du khách đi bộ xuyên rừng thông (hoặc thuê ngựa của các gia đình mục dân địa phương) leo dốc khoảng 1 tới 1,5 giờ (dài khoảng 3,5 tới 5 km) để lên tới cổng tu viện trên vách đá.
Toạ độ
47.0128, 102.2575
Khi tới nơi

Đường lên Tu viện Tövkhön Khiid đòi hỏi phải leo bộ đường rừng dốc dài khoảng 3 tới 5 km ở độ cao trên 2.200 mét, cộng thêm việc leo qua các bậc đá hoa cương dốc đứng để lên Hang Lòng Mẹ và đỉnh Ovoo; vì vậy quý vị cần đi giày leo núi có độ bám tốt, mang theo áo khoác chắn gió (vì trên đỉnh núi cao gió luôn mát lạnh ngay cả giữa mùa hè) và nước uống. Khi vào các ngôi điện gỗ nhỏ và Hang Thiền định của Đức Zanabazar, xin cởi mũ, giữ trật tự và đi theo chiều kim đồng hồ. Lưu ý theo phong tục truyền thống của người Mông Cổ, khu vực hai đàn tế Ovoo trên mỏm đá cao nhất của đỉnh núi có quy định riêng về nghi thức hành lễ, quý vị nên quan sát biển chỉ dẫn hoặc hỏi hướng dẫn viên địa phương trước khi leo lên mỏm đá đỉnh cùng.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Tövkhön Khiid trên đỉnh Shiveet Ulaan

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tu viện Tövkhön Khiid được xây dựng vào năm nào, do ai sáng lập và tên gọi ban đầu là gì?

Tu viện do Đức Đệ nhất Pháp vương Jebtsundamba Khutuktu Öndör Gegeen Zanabazar (1635 tới 1723) chọn địa thế vào năm 1648 khi Ngài 14 tuổi và khởi dựng thất gỗ đầu tiên vào năm 1651 (mở rộng năm 1653). Ban đầu Ngài đặt tên nơi đây theo tiếng Tây Tạng là Dubkhan (Grub-khang, nghĩa là Thành Tựu Thất hoặc Xưởng Sáng Tác), về sau âm đọc tiếng Mông Cổ biến đổi thành Tövkhön Khiid.

Vì sao Tu viện Tövkhön Khiid được coi là cái nôi của biểu tượng quốc gia Mông Cổ?

Chính trong thời gian nhập thất thiền định và sáng tác tại Tövkhön Khiid trên đỉnh núi Shiveet Ulaan, vào năm 1686, Đức Pháp vương Zanabazar đã sáng tạo ra bộ chữ cái và biểu tượng Soyombo (bắt nguồn từ chữ Phạn Svayambhu nghĩa là Tự Sinh). Ký hiệu mở đầu của chữ Soyombo với ngọn lửa, nhật nguyệt và âm dương ngày nay là biểu tượng thiêng liêng nằm trên Quốc kỳ và Quốc huy của nhà nước Mông Cổ.

Nghi thức chui qua Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii) tại Tu viện Tövkhön có ý nghĩa gì?

Hang Lòng Mẹ (Ehiin Khevlii) là một hốc hang đá hoa cương hẹp tự nhiên nằm trên vách núi phía trên các ngôi điện gỗ. Người hành hương trườn người vào sâu trong lòng hang hẹp rồi tự xoay người chui ngược trở ra ánh sáng, sau đó nằm vào hốc đá hình Chiếc Nôi (Ölgii) bên ngoài; nghi thức này tượng trưng cho việc trở về lòng mẹ và được tái sinh một lần nữa với thân tâm hoàn toàn thanh sạch, rũ bỏ mọi nghiệp chướng và bệnh tật cũ.

Địa thế tự nhiên của đỉnh núi Shiveet Ulaan nơi đặt Tu viện Tövkhön có gì đặc biệt?

Tu viện nằm ở độ cao 2.312 mét trên đỉnh núi Shiveet Ulaan thuộc dãy Khangai. Vách đá hoa cương phía bắc nhô cao và vòng sang hai bên tạo thành hình dáng một chiếc ngai đá khổng lồ (chiếc ghế bành tự nhiên) che chắn gió lạnh phương Bắc, trong khi mặt trước mở rộng về hướng Nam nhìn xuống biển rừng thông nguyên sinh và toàn cảnh thung lũng sông Orkhon.

Tu viện Tövkhön Khiid được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm nào?

Sau khi được các nghệ nhân phục dựng nguyên trạng các ngôi điện gỗ truyền thống vào giai đoạn 1997 tới 2001 trên nền đá cổ thế kỷ 17, năm 2004 Tu viện Tövkhön Khiid đã được UNESCO chính thức ghi danh là thành phần cốt lõi của Di sản Thế giới Cảnh quan văn hóa thung lũng Orkhon (mã số 1081).

›Đọc Tiếp