VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Gandantegchinlen, Ulaanbaatar

Gandantegchinlen Monastery, Гандантэгчэнлин хийд, དགའ་ལྡན་ཐེག་ཆེན་གླིང་, Gandan Monastery, Tu viện Gandan, Đại Thừa Cực Lạc Tự, Tegüsbayaskhulangtu

Tổ đình phái Cách Lỗ trên đồi Gandan phía tây thủ đô Ulaanbaatar, nơi Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 5 dựng đạo tràng năm 1838 và tôn trí tượng Quán Thế Âm Megjid Janraisig cao 26,5 mét

Khởi dựng
1809 / 1838
Quần thể tiền thân khởi dựng năm 1809, Đức Jebtsundamba đời thứ 5 dời về đồi Gandan và đặt tên Gandantegchinlen năm 1838
Truyền thống
Phật giáo
Tổ đình tối cao của Phật giáo Tây Tạng - Mông Cổ thuộc tông Cách Lỗ (Gelugpa)
Di sản
Di tích Quốc gia
Di tích Văn hóa Lịch sử Quốc gia Mông Cổ (1961, mở rộng 1994), nơi lưu giữ hơn 70.000 bản kinh văn cổ

Đứng trên sườn đồi Gandan cao ráo nhìn xuống thung lũng sông Tuul ở phía tây trung tâm thủ đô Ulaanbaatar, người hành hương bắt gặp những mái ngói lưu ly vàng óng và tòa lầu trắng đồ sộ của điện Megjid Janraisig vươn cao giữa bầu trời xanh thẳm vùng thảo nguyên. Tiếng tù và đồng trầm hùng vang lên từ hiên đại điện Tsogchin vào mỗi buổi sớm mai, hòa cùng tiếng xoay đều của hàng trăm kinh luân bằng đồng bóng nước thời gian và làn khói bách xù thơm ngát tỏa ra từ những lư hương lớn giữa sân đá.

Mang danh hiệu đầy đủ trong tiếng Mông Cổ là Gandantegchinlen Khiid, dịch nghĩa từ tiếng Tây Tạng là Đại Thừa Cực Lạc Tự, ngôi đại tự này được Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 5 chính thức quy hoạch thành trung tâm học thuật vào năm 1838 trên nền các học viện kinh sư có từ năm 1809. Trải qua hơn hai thế kỷ thăng trầm của lịch sử vùng thảo nguyên Nội Á, quần thể trên đồi Gandan vẫn giữ trọn huyết mạch kinh viện của tông Cách Lỗ, bảo tồn pho tượng đồng Quán Thế Âm Khai Nhãn cao 26,5 mét cùng hàng vạn bộ kinh lá bối và mộc bản chữ Tây Tạng, chữ Mông Cổ quý hiếm.

Tu viện Gandantegchinlen, Ulaanbaatar
Tu viện Gandantegchinlen, Ulaanbaatar. Ảnh: Chongkian, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IDanh Hiệu Đại Thừa Cực Lạc Và Dòng Truyền Thừa Jebtsundamba

Tên gọi Gandantegchinlen bắt nguồn từ âm tiếng Tây Tạng là Ganden Tegchenling, dịch sang chữ Hán trong sử liệu thời Thanh là Đâu Suất Đại Thừa Châu (兜率大乘洲) hay Đại Thừa Cực Lạc Tự. Trong đó, Ganden là tên dịch âm của cõi trời Đâu Suất (Tushita), nơi Bồ Tát Di Lặc thuyết pháp, đồng thời lấy theo danh hiệu tổ đình Ganden do Đại sư Tông Khách Ba (Je Tsongkhapa, 1357 tới 1419) sáng lập tại Tây Tạng năm 1409. Thành tố Tegchenling mang nghĩa là Châu Đảo Của Cỗ Xe Lớn (Đại Thừa Châu). Trong tiếng Mông Cổ cổ điển, tu viện được gọi là Tegüsbayaskhulangtu, còn người dân thủ đô Ulaanbaatar thường gọi ngắn gọn bằng tên thân thuộc là Gandan Khiid.

Lịch sử hình thành và hưng thịnh của tu viện gắn liền với dòng hóa thân Jebtsundamba Khutuktu (Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ), còn được tôn xưng là Öndör Gegeen hoặc Bogd Gegeen, ngôi vị pháp vương tối cao của Phật giáo Mông Cổ. Kể từ thế kỷ 17, thủ phủ tôn giáo của dòng Jebtsundamba là Ikh Khüree (Đại Khố Luân) vốn là một đô thị lều trại khổng lồ thường xuyên di chuyển dọc theo lưu vực các con sông Orkhon, Selenge và Tuul trước khi định cư lâu dài tại thung lũng sông Tuul vào năm 1778.

Theo giáo nghĩa

Hệ thống kinh viện Datsan của tông Cách Lỗ: Khác với những ngôi chùa chỉ chuyên lễ bái thông thường, Gandantegchinlen được kiến thiết theo mô hình đại học Phật giáo Tây Tạng - Mông Cổ gồm các học viện chuyên khoa gọi là Datsan (Trát Thương). Tăng sinh nhập chúng phải trải qua chương trình biện kinh (Choir) nghiêm ngặt về Ngũ Bộ Đại Luận gồm Nhân minh học (Pramana), Bát nhã Ba la mật đa (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamaka), Câu xá luận (Abhidharmakosha) và Luật tạng (Vinaya) kéo dài từ mười lăm tới hai mươi năm trước khi bước vào các mật viện tu tập Mật tông Kim Cương thừa và dự thi học vị Gabju (tương đương học vị Geshe tại Tây Tạng).

Tượng Quán Thế Âm Megjid Janraisig và các bậc Hóa thân

Tâm điểm tín ngưỡng của toàn bộ quần thể là pho tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đồng mạ vàng cao 26,5 mét ngự trong bảo điện Megjid Janraisig. Danh hiệu Megjid Janraisig trong tiếng Mông Cổ (bắt nguồn từ tiếng Tây Tạng là Migjed Chenrezig) có nghĩa là Đấng Quán Thế Âm Khai Nhãn, vị Bồ Tát mở rộng nhãn quan trí tuệ và chữa lành bệnh tật về mắt cho chúng sinh. Vào năm 1911, khi Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 8 (Bogd Khan, trị vì từ năm 1911 tới năm 1924) bị suy giảm thị lực nghiêm trọng, triều đình và tăng chúng đã phát nguyện đúc đại tượng Quán Thế Âm cao 80 thước mộc cổ truyền (khoảng 25,6 tới 26,5 mét) để cầu nguyện ánh sáng nhãn căn cho nhà vua và kỷ niệm nền độc lập của dân tộc Mông Cổ.

Bên cạnh điện Quán Thế Âm, các tòa chính điện của Gandantegchinlen còn tôn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại sư Tông Khách Ba cùng hai đệ tử thượng thủ là Gyaltsab Je và Khedrup Je (Tông Khách Ba Tam Tôn), Đức Kim Cương Trì (Vajradhara hay Ochirdari) và hệ thống Hộ pháp Đạt Ma (Dharmapala). Trong điện Kim Cương Trì và các bảo tháp bằng bạc chạm nổi lưu giữ linh cốt nhục thân cùng xá lợi của Đức Jebtsundamba đời thứ 5, đời thứ 7 và đời thứ 8.

Theo sử liệu

Theo biên niên sử Lịch sử Đại Khố Luân (Ikh Khüreenii Tükh) và hồ sơ lưu trữ của Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ, pho tượng đồng Kim Cương Trì (Ochirdari) tôn trí tại Gandantegchinlen là tác phẩm điêu khắc bằng bạc mạ vàng do chính tay Đệ nhất Pháp vương Zanabazar chế tác vào năm 1683, được xem là pháp khí trấn tự linh thiêng bậc nhất của Phật giáo vùng Khalkha.

IIHành Trình Hai Thế Kỷ Từ Đồi Gandan Tới Trung Tâm Phật Học Quốc Gia

Quá trình hình thành Tu viện Gandantegchinlen khởi nguồn từ sự phát triển của các học viện triết học trong lòng đô thị Ikh Khüree từ giữa thế kỷ 18. Ngay từ năm 1736 và 1739, dưới thời Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 2 (Luvsandambiydonmi, 1724 tới 1757), hai học viện lớn là Dashchoimpel Datsan và học viện mật giáo Jüd đã được thành lập. Tới năm 1809, dưới thời Đức Jebtsundamba đời thứ 4 (Luvsantüvdenwangchug, 1775 tới 1813), Hoàng tự (Shar Süm) và học viện Gungaachoilin Datsan được dựng lên trên sườn đồi Gandan ở phía tây khu chợ trung tâm, tiếp nối bằng việc xây dựng điện Lamrim vào năm 1824.

Bước chuyển mình trọng đại diễn ra vào giai đoạn từ năm 1834 tới năm 1838, khi Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 5 (Luvsantüvdenchoijinyam, 1815 tới 1841) nhận thấy khu vực trung tâm Ikh Khüree ngày càng ồn ào bởi các hoạt động buôn bán thế tục. Ngài quyết định dời các học viện kinh sư và khu nội viện lên đỉnh đồi Gandan thoáng đãng, có địa thế cao ráo nhìn xuống toàn cảnh thung lũng sông Tuul, rồi chính thức ban danh hiệu Gandantegchinlen cho quần thể mới.

  • 1736 - 1809Khởi lập các học viện Datsan tiền thân
    Đức Jebtsundamba đời thứ 2 lập học viện Dashchoimpel Datsan (1736) và mật viện Jüd (1739). Năm 1809, Hoàng tự (Shar Süm) cùng học viện Gungaachoilin Datsan được dựng trên đồi Gandan, mở đầu cho việc quy tụ tăng đoàn về phía tây Ikh Khüree.
  • 1834 - 1838Đức Jebtsundamba đời thứ 5 kiến lập Gandantegchinlen
    Pháp vương đời thứ 5 cho dời khu tăng viện chính từ vùng trũng ven sông Tuul lên đồi Gandan để tách biệt khỏi khu thương mại ồn ào, dựng cung điện Didan Lavrin và chính thức đặt tên tu viện là Gandantegchinlen năm 1838.
  • 1839 - 1840Dựng đại điện Tsogchin và điện Kim Cương Trì
    Đại hùng bảo điện Tsogchin Dugan được hoàn thành năm 1839, tiếp theo là điện Kim Cương Trì (Ochirdari) năm 1840 để rước pho tượng Kim Cương Trì bằng bạc mạ vàng niên đại 1683 của Đại sư Zanabazar về phụng thờ.
  • 1904Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 dừng chân thuyết pháp
    Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 (Thubten Gyatso) trên đường lánh nạn từ Lhasa đã tới ngụ tại cung điện Didan Lavrin trong khuôn viên Gandantegchinlen và thuyết giảng giáo pháp cho hàng vạn tăng tục Mông Cổ.
  • 1911 - 1913Xây dựng bảo điện và đúc đại tượng Megjid Janraisig
    Dưới triều Đức Bogd Khan (Jebtsundamba đời thứ 8), tòa bảo điện cao nhất Mông Cổ và pho tượng đồng Quán Thế Âm Bốn Tay cao 80 thước mộc (khoảng 26 mét) được kiến tạo để cầu nguyện phục hồi thị lực cho Pháp vương và chúc phúc cho nền độc lập quốc gia.
  • 1938 - 1944Gián đoạn sinh hoạt và mở cửa trở lại
    Tu viện bị đóng cửa năm 1938 và pho tượng đồng Megjid Janraisig nguyên bản bị tháo dỡ (các nguồn sử liệu ghi nhận vào năm 1938 hoặc năm 1943). Tới tháng 1 năm 1944, dưới sự vận động của học giả Gombodorjiin Erdene và Hòa thượng Gavj Gombodoo, tu viện được phép mở cửa hoạt động trở lại.
  • 1961 - 1970Xếp hạng Di tích Quốc gia và lập Đại học Phật giáo Zanabazar
    Năm 1961, quần thể Gandantegchinlen được công nhận là Di tích Văn hóa Quốc gia. Năm 1970, Đại học Phật giáo mang tên Đại sư Zanabazar được thành lập ngay trong khuôn viên tu viện để đào tạo tăng tài cho cả vùng Mông Cổ và Buryatia.
  • 1991 - 1996Tái thiết đại tượng đồng Quán Thế Âm nặng 90 tấn
    Nhân dân và chính phủ Mông Cổ phát động quyên góp toàn quốc từ năm 1991 để đúc lại pho tượng Megjid Janraisig cao 26,5 mét, nặng 90 tấn, khánh thành trọng thể vào năm 1996.

Vào đầu thế kỷ 20, Gandantegchinlen đã phát triển thành một đô thị học thuật sầm uất với chín học viện Datsan và hàng ngàn tăng sĩ thường trú. Năm 1912, học viện thứ ba chuyên về triết học là Idgaachoinzinlin Datsan được thành lập thêm để đáp ứng số lượng học tăng ngày càng đông đảo. Trong biến động cuối thập niên 1930, dù sinh hoạt tôn giáo bị đình chỉ vào năm 1938, các tòa điện gỗ cốt lõi trên đồi Gandan may mắn thoát khỏi cảnh bị triệt hạ nhờ được trưng dụng làm trụ sở hành chính của tỉnh Töv và kho lưu trữ. Theo ghi chép của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mông Cổ, pho tượng đồng Megjid Janraisig nguyên bản đã bị tháo dỡ vào năm 1938 (một số sử liệu Nga và phương Tây ghi là năm 1943 trong Thế chiến thứ hai).

Tháng 1 năm 1944, Gandantegchinlen được mở cửa trở lại dưới danh nghĩa Đạo tràng Tăng lữ Ulaanbaatar, trở thành ngôi chùa duy nhất duy trì tiếng tụng kinh liên tục tại Mông Cổ suốt hơn bốn thập kỷ cho tới năm 1990. Từ thập niên 1990 tới nay, toàn bộ hệ thống ba học viện triết học lớn (Dashchoimpel, Gungaachoilin, Idgaachoinzinlin) cùng mật viện, y viện và thời luân viện đã được phục hồi đầy đủ, quy tụ hơn chín trăm chư tăng tu học và hành đạo.

IIINghệ Thuật Kiến Trúc Tam Hợp Và Đại Tượng Đồng Nặng 90 Tấn

Quần thể kiến trúc Tu viện Gandantegchinlen là minh chứng tiêu biểu cho sự giao thoa hài hòa giữa ba truyền thống xây dựng: kết cấu khung gỗ lều tròn (Ger) của người du mục Mông Cổ, tường đá vôi trắng dày hơi thu nhỏ về phía đỉnh theo thức pháo đài Tây Tạng, và hệ mái ngói lưu ly cong vút nâng đỡ bởi các tầng đấu củng sơn son thếp vàng của kiến trúc cổ điển Trung Hoa. Toàn bộ khu nội tự được bao bọc bởi tường rào gỗ và gạch có trổ các cổng tam quan hướng về phía nam.

Nổi bật nhất trên đường chân trời đồi Gandan là tòa bảo điện Megjid Janraisig hoàn thành năm 1913. Tòa lầu có mặt bằng hình vuông kết hợp khối tháp vươn cao hơn 30 mét, phần thân dưới xây bằng gạch và đá quét vôi trắng có trổ các dãy cửa sổ viền đen hình thang đặc trưng của kiến trúc Lhasa, trong khi phần thượng lầu lợp ngói lưu ly vàng kim có gắn bánh xe Pháp luân và đôi hươu vàng chầu trên đỉnh nóc. Không gian bên trong bảo điện thông tầng từ mặt đất lên tận đỉnh mái để ôm trọn thân tượng Bồ Tát khổng lồ.

Đại tượng Quán Thế Âm Megjid Janraisig (1996)

Pho tượng đồng mạ vàng cao 26,5 mét, tổng trọng lượng khoảng 90 tấn, đúc từ 20 tấn đồng đỏ, dát 8,6 kg vàng ròng và 25 kg bạc, khảm hơn 2.100 tới 2.286 viên đá quý. Bên trong lòng tượng (tạng tượng) an vị 27 tấn thảo dược quý, 334 pho Đại Tạng Kinh Kanjur và Tanjur cùng 2 triệu cuộn chân ngôn.

Điện Kim Cương Trì (Ochirdari Dugan, 1840)

Chính điện tâm linh cổ kính nhất còn nguyên vẹn trên đồi Gandan, nơi tôn trí pho tượng Phật Kim Cương Trì bằng bạc mạ vàng do Đại sư Zanabazar đích thân chạm khắc năm 1683 cùng bảo tháp bạc chứa nhục thân các đời Pháp vương Jebtsundamba.

Cung điện Didan Lavrin (1838 - 1840)

Tòa tịnh thất gỗ hai tầng từng là nơi ngự của Đức Jebtsundamba đời thứ 5 và là hành cung của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 vào năm 1904. Công trình giữ nguyên các bức bích họa, đồ gỗ chạm lộng và pháp tòa cổ thế kỷ 19.

Ba đại học viện triết học (Datsan)

Gồm Dashchoimpel Datsan, Gungaachoilin Datsan và Idgaachoinzinlin Datsan, nhiều tòa trong số đó được thiết kế theo hình dáng chiếc lều Ger đa giác khổng lồ bằng gỗ và gạch, bên trong treo hàng trăm bức tranh cuộn Thangka và cờ phướn lụa.

Kho tàng 70.000 bản kinh văn và Cửu Bảo Kanjur

Thư viện tu viện lưu giữ hơn 70.000 tác phẩm viết tay và in mộc bản bằng tiếng Mông Cổ, tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn, bao gồm bộ Đại Tạng Kinh Kanjur 108 tập viết bằng mực pha từ chín loại châu báu (vàng, bạc, san hô, ngọc trai, ngọc lam, lưu ly, xà cừ, đồng và thép).

Chỗ hay hiểu lầm

Nghi thức nạp tạng (Gzungs gzhug) trong lòng đại tượng: Theo quy chuẩn Mật tông Kim Cương thừa, một pho tượng Phật chỉ thực sự trở thành pháp thân sống động sau khi hoàn tất lễ nạp tạng và khai quang điểm nhãn. Khi tái thiết tượng Megjid Janraisig từ năm 1991 tới năm 1996, các bậc cao tăng đã đặt vào trục tâm (Srog shing) bằng gỗ bách hương bên trong lòng tượng trọn bộ 108 tập Kanjur và 226 tập Tanjur in trên giấy dó, 2 triệu cuộn giấy in thần chú Lục Tự Đại Minh, 27 tấn hương liệu và dược thảo thảo nguyên cùng hàng ngàn tiểu tượng Phật đúc bằng đồng.

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Tây Tạng - Mông Cổ không sử dụng hệ thống thuật ngữ phong thủy Bát Trạch hay Huyền Không của vùng đồng bằng Trung Nguyên, mà chọn đất dựng chùa dựa trên phép quán xét địa lý Mật tông (Sa dpyad) kết hợp với tín ngưỡng thờ núi thiêng Ovoo và bầu trời xanh vĩnh cửu của người du mục thảo nguyên. Theo truyền thống ấy, một đạo tràng cát tường phải tựa lưng vào ngọn núi vững chãi ở phương bắc để che chắn gió tuyết vùng Siberia, mặt tiền mở rộng về phương nam đón ánh nắng mặt trời và nhìn xuống dòng sông chảy êm đềm. Phần dưới đây đối chiếu địa cuộc thực tế của đồi Gandan qua lăng kính hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Tọa lạc tại tọa độ 47,92306 độ vĩ Bắc và 106,89500 độ kinh Đông, Tu viện Gandantegchinlen chiếm lĩnh đỉnh gò cao nguyên đồi Gandan (Gandan Denj), một chi mạch nhô ra từ dãy núi Chingeltei và Bayanzürkh ở phía bắc thung lũng Ulaanbaatar. Toàn bộ các tòa chính điện từ điện Megjid Janraisig tới điện Kim Cương Trì và đại điện Tsogchin đều nhất loạt tọa Bắc hướng Nam, lấy sườn núi cao phía bắc làm hậu chẩm vững chãi, giúp che chắn luồng gió bấc lạnh giá thổi từ vùng bồn địa Siberia xuống thảo nguyên.

Nhìn từ trước sân đại điện về phương nam, địa hình thoải dần xuống vùng đồng bằng thung lũng trũng tạo thành nội minh đường và ngoại minh đường rộng thoáng. Dòng sông Tuul (Tuul Gol) chảy uốn lượn từ đông sang tây ở phía nam đóng vai trò là thủy giới ngọc đới ôm lấy toàn bộ thung lũng thủ đô. Cách bờ nam sông Tuul là dãy núi thiêng Bogd Khan Uul cao 2.261 mét chạy dài trùng điệp như một bức bình phong tiền án khổng lồ che chở cho huyệt trường đồi Gandan. Lý do Đức Jebtsundamba đời thứ 5 quyết định dời khu tăng viện từ vùng đất thấp lầy lội ven sông lên đỉnh đồi Gandan vào năm 1838 chính là để thoát khỏi thế đất ẩm thấp và tạp khí phố chợ, đưa đạo tràng lên vị trí cao ráo đắc dương khí, vừa thu trọn tầm nhìn hướng về dãy núi thiêng Bogd Khan Uul vừa giữ được sự tĩnh tại cho hàng ngàn học tăng tu tập.

VChu Kỳ Pháp Hội Và Nghi Lễ Thường Niên Trên Đồi Gandan

Nhịp sống tâm linh tại Tu viện Gandantegchinlen vận hành theo bộ lịch âm dương Mông Cổ (Tögs Buyant), một biến thể bản địa hóa từ lịch Thời Luân (Kalachakra) của Tây Tạng do các nhà thiên văn học Phật giáo vùng Khalkha biên soạn từ thế kỷ 18. Hàng ngày, khóa lễ tụng kinh sáng (Tsogchin Khural) bắt đầu từ khoảng chín giờ sáng tại các đại điện, thu hút đông đảo cư sĩ tới đi nhiễu quanh chùa theo chiều kim đồng hồ (Goroo), xoay kinh luân và lễ lạy trên các tấm ván gỗ dài đặt trước hiên chùa.

Trong năm, tu viện cử hành nhiều đại pháp hội kéo dài từ ba tới mười lăm ngày, gắn liền với các mốc kỷ niệm cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại sư Tông Khách Ba và truyền thống rước Phật Di Lặc tuần du để cầu mưa thuận gió hòa cho đồng cỏ thảo nguyên.

Các ngày lễ tại Gandantegchinlen được tính theo lịch cổ truyền Mông Cổ (Tögs Buyant), thường chênh lệch từ một ngày tới một tháng so với lịch Tây Tạng và lịch nông nghiệp Trung Hoa tùy theo năm nhuận. Nguồn: Tổng hợp từ lịch nghi lễ chính thức của Tu viện Gandantegchinlen (gandan.mn) và Đại học Phật giáo Zanabazar..
Thời điểm (Lịch Mông Cổ)Tên đại lễNghi thức chính tại Tu viện Gandantegchinlen
Mùng 1 tới ngày 15 tháng Giêng (Lịch Mông Cổ)Đại lễ Tsagaan Sar và Pháp hội Đại Thần Biến (Chötrül Düchen)Tết Nguyên đán Mông Cổ (Tháng Trắng) kết hợp kỷ niệm 15 ngày Đức Phật thị hiện thần thông tại thành Xá Vệ. Chư tăng cử hành khóa lễ cầu an đầu năm suốt 15 ngày đêm và treo bức tranh thêu Thangka khổng lồ.
Rằm tháng 4 (Tháng Đầu Mùa Hè - Lịch Mông Cổ)Đại lễ Их Дүйчэн Өдөр (Ikh Düichen Ödör / Saga Dawa)Kỷ niệm ba sự kiện trọng đại của Đức Phật Thích Ca (Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết bàn). Tăng tín đồ giữ giới bát quan trai, đi nhiễu quanh đồi Gandan và phóng sinh.
Mùa thu (tháng 8 hoặc tháng 9 Dương lịch)Lễ rước Phật Di Lặc (Maidar Ergekh) và Vũ điệu TsamTôn tượng Đức Phật Di Lặc đặt trên cỗ xe ngựa xanh được chư tăng và cư sĩ rước đi nhiễu một vòng lớn quanh khuôn viên đồi Gandan để cầu nguyện thời đại từ bi sớm hiển hiện.
Ngày 22 tháng 9 (Lịch Mông Cổ)Lễ Đức Phật Từ Cung Trời Đạo Lợi Hạ Phàm (Lhabab Düchen)Kỷ niệm ngày Đức Phật trở về nhân gian sau ba tháng thuyết pháp báo hiếu thân mẫu nơi cõi trời Đạo Lợi. Các học viện Datsan tổ chức hội biện kinh lớn giữa các khóa tăng sinh.
Ngày 25 tháng 10 (Lịch Mông Cổ)Lễ Thắp Đèn Tưởng Niệm Đại Sư Tông Khách Ba (Zulyn Khural / Ganden Ngamchö)Kỷ niệm ngày viên tịch của Tổ sư Tông Khách Ba. Hàng vạn ngọn đèn bơ (Zul) được thắp sáng rực rỡ trên khắp các bệ thờ và mái hiên đồi Gandan trong tiếng tụng bài cầu nguyện Migtsema.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Gandan Hill, Bayangol District, Ulaanbaatar 16040, Mongolia (Улаанбаатар хот, Баянгол дүүрэг, Гандангийн дэнж)
Đường tới
Từ Quảng trường Sükhbaatar ở trung tâm thủ đô Ulaanbaatar, du khách đi dọc theo Đại lộ Hòa Bình (Peace Avenue / Enkhtaivny Örgön Chölöö) về hướng tây khoảng 2,5 km rồi rẽ phải lên dốc đồi Gandan thuộc quận Bayangol là tới cổng chính của tu viện.
Toạ độ
47.92306, 106.895
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Tu viện Gandantegchinlen, quý vị cần mặc trang phục kín đáo, che kín vai và đầu gối, đồng thời tháo mũ khi bước qua ngưỡng cửa các tòa bảo điện. Tại Mông Cổ, mọi lộ trình đi nhiễu quanh bảo tháp, điện thờ Megjid Janraisig và thao tác xoay kinh luân đều phải thực hiện thuận theo chiều kim đồng hồ (từ trái sang phải). Bên trong các điện thờ cổ đang có chư tăng cử hành khóa lễ tụng kinh, quý vị cần giữ im lặng, không bước dẫm lên bậc thềm gỗ của cửa ra vào và không tự ý chụp ảnh khi chưa được phép của ban quản tự.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Gandantegchinlen, Ulaanbaatar

Contribute photos, information or video for Gandantegchinlen Monastery

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Gandantegchinlen có ý nghĩa là gì?

Danh hiệu Gandantegchinlen bắt nguồn từ tiếng Tây Tạng là Ganden Tegchenling, dịch nghĩa là Đại Thừa Cực Lạc Tự hay Đâu Suất Đại Thừa Châu. Tên gọi này ghép từ danh hiệu cõi trời Đâu Suất (cũng là tên tổ đình Ganden của tông Cách Lỗ tại Tây Tạng) với cụm từ mang nghĩa châu đảo của giáo pháp Đại thừa.

Pho tượng đồng trong điện Megjid Janraisig cao bao nhiêu mét?

Pho tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Megjid Janraisig) hiện diện trong bảo điện cao 26,5 mét và nặng khoảng 90 tấn. Tượng được tái thiết từ năm 1991 tới năm 1996 bằng 20 tấn đồng đỏ, dát 8,6 kg vàng, 25 kg bạc và khảm hơn 2.100 viên đá quý để thay thế cho pho tượng nguyên bản năm 1913 đã bị tháo dỡ vào thập niên 1930 - 1940.

Ai là người sáng lập Tu viện Gandantegchinlen trên đồi Gandan?

Các học viện tiền thân trên đồi Gandan bắt đầu hình thành từ năm 1809, nhưng người chính thức quy hoạch quần thể thành trung tâm học thuật độc lập và ban danh hiệu Gandantegchinlen vào năm 1838 là Đức Jebtsundamba Khutuktu đời thứ 5 (Luvsantüvdenchoijinyam, 1815 tới 1841), bậc pháp vương tối cao của Phật giáo Mông Cổ thời bấy giờ.

Bảo vật cổ xưa nhất đang được lưu giữ tại tu viện là gì?

Bảo vật quý giá bậc nhất tại tu viện là pho tượng Phật Kim Cương Trì (Ochirdari / Vajradhara) bằng bạc mạ vàng được chính tay Đệ nhất Pháp vương Zanabazar chế tác vào năm 1683, hiện tôn trí tại điện Ochirdari xây năm 1840, cùng bộ Đại Tạng Kinh Kanjur 108 tập viết bằng mực pha chín loại châu báu.

Nghi thức đi nhiễu Goroo tại đồi Gandan được thực hiện như thế nào?

Người hành hương đi bộ một vòng lớn thuận chiều kim đồng hồ quanh khuôn viên đồi Gandan, vừa đi vừa niệm chú Lục Tự Đại Minh và dùng tay phải xoay các dãy kinh luân bằng đồng, sau đó dừng lại trước các tấm ván gỗ trước đại điện để thực hiện nghi thức ngũ thể đầu địa (lễ lạy toàn thân).

›Đọc Tiếp