VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Đạo Bön

· Tượng, tranh thangka và ban thờ Yungdrung Bön

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
26
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Nước và vùng
6
Trung Quốc (Tây Tạng, Tứ Xuyên), Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Pháp, Mexico
Nguồn
68
cơ sở Bön, bảo tàng, đại học, Himalayan Art Resources

Trang này gom hình thờ của đạo Bön, truyền thống Yungdrung Bön của Tây Tạng: thờ vị nào, nhận ra bằng dấu gì, bày trên ban thờ ra sao, giống và khác hình thờ Phật giáo Tây Tạng ở đâu. Thư viện dùng ảnh chụp tranh và tượng thật đang ở bảo tàng hay tu viện, không vẽ lại chân dung các bậc thánh. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ ban thờ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Ảnh hiện vật Bön có giấy phép mở còn rất ít, nên nhiều vị mới được tả bằng lời.

INgười Theo Đạo Bön Đặt Gì Trước Mặt Khi Lễ

Đạo Bön (Yungdrung Bön, nghĩa là Bön Vĩnh Hằng) là một truyền thống của Tây Tạng. Người theo đạo tin rằng giáo pháp do Đức Tonpa Shenrab Miwoche truyền dạy ở xứ Olmo Lungring, rồi tới vương quốc Zhang Zhung quanh núi Kailash, sau đó mới vào Tây Tạng. Đây là một đạo thờ hình rất nhiều: tượng, tranh cuộn thangka, tranh tường, thẻ vẽ nhỏ, bảo tháp và kinh sách đều có mặt trên ban thờ.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt). Shenten Dargye Ling, Le Bön. Wikipedia, Bon.

Một trang hướng dẫn của hành giả Bön giải thích ban thờ theo ba chỗ nương. Tượng và tranh thangka tượng trưng cho thân giác ngộ. Kinh sách tượng trưng cho khẩu giác ngộ. Bảo tháp (chorten) tượng trưng cho ý giác ngộ.

Nguồn: Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), Mandala of the Divine: The Yungdrung Bön Altar.

Nhìn thoáng qua, một điện thờ Bön rất giống một điện thờ Phật giáo Tây Tạng. Bảo tàng Rubin, nơi mở cuộc triển lãm đầu tiên về mỹ thuật Bön từ tháng 10 năm 2007 tới tháng 4 năm 2008, cũng nhắc người xem phải tập nhìn ra những nét riêng của Bön. Phần dưới đây đi qua từng nhóm hình, rồi chỉ ra chỗ giống và chỗ khác.

Nguồn: Bảo tàng Rubin, triển lãm Bon: The Magic Word, 2007 tới 2008. Bảo tàng Rubin, Tonpa Shenrab with Episodes from His Life, số C2006.66.610.
Giới học giả chưa thống nhất

Bön với Phật giáo quan hệ ra sao là câu hỏi còn tranh luận. Britannica mô tả Bön là tôn giáo bản địa của Tây Tạng, về sau hòa vào Phật giáo và cũng tồn tại như một đạo riêng. Per Kvaerne dùng chữ Bön cho một truyền thống thành hình từ thế kỷ 10 tới 11. David Snellgrove coi Bön là một dạng Phật giáo không chính thống. Samten Karmay thì coi trọng lời kể của chính người Bön rằng đây là một truyền thống riêng. Cả hai bên đều nhận rằng Bön và Phật giáo là hai đạo khác nhau: nguồn thẩm quyền của Bön không đi từ Ấn Độ mà từ Zhang Zhung và xứ Tazik. Thư viện ghi các ý kiến và không chọn bên nào.

Nguồn: Britannica, Bon (Tibetan religion). Wikipedia, Bon.

IIĐức Tonpa Shenrab Miwoche, Bậc Khai Sáng

Tonpa nghĩa là bậc thầy. Sự tích và các tiền kiếp của Ngài chép trong ba bộ: Dodu (một quyển, hai mươi bốn chương, được coi là cổ nhất), Zermig (hai quyển, mười tám chương, tìm thấy vào thế kỷ 10) và Ziji (mười hai quyển, sáu mươi mốt chương, do Tulku Loden Nyingpo tìm thấy vào thế kỷ 14). Theo truyện, Ngài sinh trong dòng vua, tới năm 31 tuổi thì bỏ ngôi đi tu.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Tonpa Shenrab Page. Wikipedia, Tonpa Shenrab Miwoche.

Himalayan Art Resources ghi ba dáng chính của Ngài trong tranh tượng: dáng an hòa, dáng Nampar Gyalwa và dáng Tritsug Gyalwa. Các dấu riêng để nhận ra Ngài là mũ hoa sen, cây trượng yungdrung, gậy yungdrung và thế tay trái đặt trên tay phải. Ngoài ra còn sáu dáng Ngài hiện ra để dạy chúng sinh sáu cõi, và mười hai dáng ứng với mười hai việc lớn trong đời Ngài, thường được vẽ thành một bộ mười hai bức.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon: Tonpa Shenrab Iconography.

Tritsug Gyalwa

ston pa khri gtsug rgyal baNhận ra: Dáng một vị Phật mặc y người xuất gia, thường có bốn người con đã xuất gia đứng hai bên

Đây là tên của Tonpa Shenrab về cuối đời, khi Ngài bỏ đời thế tục để làm người tu khổ hạnh. Trong dáng này Ngài mang đúng hình tướng một vị Phật. Các bức tranh đời Ngài ở Bảo tàng Rubin đều đặt dáng Tritsug Gyalwa ở giữa, các cảnh sự tích xếp chung quanh, có chữ Tây Tạng viết bằng nhũ vàng chú từng cảnh.

Đức Tonpa Shenrab ngồi giữa trong dáng một vị Phật mặc y, tay trái đỡ bát, tay phải buông xuống gối, chung quanh là các cảnh đời Ngài. Tranh thangka, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York (theo trang tệp gốc).
Đức Tonpa Shenrab ngồi giữa trong dáng một vị Phật mặc y, tay trái đỡ bát, tay phải buông xuống gối, chung quanh là các cảnh đời Ngài. Tranh thangka, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York (theo trang tệp gốc).Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Tranh kể sự tích Tonpa Shenrab bằng nhiều cảnh nhỏ nối nhau, không có hình lớn ở giữa. Tranh thangka, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York (theo trang tệp gốc).
Tranh kể sự tích Tonpa Shenrab bằng nhiều cảnh nhỏ nối nhau, không có hình lớn ở giữa. Tranh thangka, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York (theo trang tệp gốc).Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, Tritsug Gyalwa. Himalayan Art Resources, hiện vật 200020, Tonpa Shenrab Life Story (Bảo tàng Rubin).

Nampar Gyalwa

rnam par rgyal ba, Toàn ThắngNhận ra: Thân xanh lam hoặc xanh lục, tay phải giơ ngang vai, lòng tay hướng ra trước

Một mặt hai tay, vẻ an hòa hoặc hơi nghiêm. Tay trái đặt trên gối. Ngài ngồi xếp bằng trên tòa hoa, phía sau là cung điện. Truyện trong chương 50 bộ Ziji kể Ngài hiện dáng này để giúp một vị vua Trung Hoa tên Kongtse khi ngôi đền của vua bị quỷ thần phá. Bốn người con xuất gia của Ngài đứng hai bên tòa, phía trên thường có bốn vị Thiện Thệ.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Nampar Gyalwa.

Trong bộ bốn vị

ston pa gshen rab mi boNhận ra: Ngồi giữa 250 vị giác ngộ xếp hàng, tay phải chạm đất và cầm trượng

Khi được vẽ như vị thứ tư trong bốn vị Thiện Thệ, Ngài ngồi giữa hai trăm năm mươi vị giác ngộ. Kho tư liệu của Đại học Vienna tả một bức thangka mới ở tu viện Shenten Dargye Ling: thân xanh đậm, tay trái thiền định, tay phải chạm đất và cầm cây trượng có chữ vạn xoay trái.

Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 31207, Tonpa Shenrab trong bộ bốn vị. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Tönpa Shenrab Miwo.

Dáng đội mũ hoa sen cầm trượng

Nhận ra: Mũ hoa sen, y vá nhiều mảnh, bát trong tay trái, trượng yungdrung trong tay phải

Bức tranh tường mới dưới đây gom các dấu riêng mà Himalayan Art Resources liệt kê: mũ hoa sen và cây trượng yungdrung, tiếng Tây Tạng gọi là chakshing. Trên tranh, hai đầu trượng đều mang hình yungdrung.

Tonpa Shenrab đội mũ hoa sen, mặc y vá nhiều mảnh, tay trái đỡ bát, tay phải cầm cây trượng yungdrung. Tranh tường mới, ảnh chụp ngày 11 tháng 5 năm 2013. Trang tệp gốc không ghi nơi vẽ, cùng ngày tác giả có đăng ảnh tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim.
Tonpa Shenrab đội mũ hoa sen, mặc y vá nhiều mảnh, tay trái đỡ bát, tay phải cầm cây trượng yungdrung. Tranh tường mới, ảnh chụp ngày 11 tháng 5 năm 2013. Trang tệp gốc không ghi nơi vẽ, cùng ngày tác giả có đăng ảnh tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim.Ảnh: Prof Ranga Sai, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon: Tonpa Shenrab Iconography. Wikipedia, Drenpa Namkha.
Dễ lẫn với Phật Thích Ca

Bảo tàng Rubin viết rằng hình Tonpa Shenrab nhiều khi giống hệt hình Phật Thích Ca Mâu Ni. Muốn phân biệt phải đọc các cảnh nhỏ chung quanh. Ở một bức của bảo tàng, dấu quyết định là cảnh Ngài ngồi trên cỗ xe do voi kéo, đi cùng vợ con. Vì vậy thư viện chỉ gọi một bức là Tonpa Shenrab khi bảo tàng hoặc Himalayan Art Resources đã ghi như thế.

Nguồn: Bảo tàng Rubin, Tonpa Shenrab with Episodes from His Life, số C2006.66.610.

Olmo Lungring, quê hương của Ngài

Người Bön tin Tonpa Shenrab sinh ở Olmo Lungring thuộc xứ Tazik, phía tây Tây Tạng, bên ngọn núi Yungdrung Gutseg, nghĩa là núi chín tầng yungdrung. Tranh vẽ cõi này đặt ngọn núi ở giữa, bốn khu vườn lớn chung quanh, bên ngoài là các vòng đảo, hàng trên cùng là năm vị giác ngộ.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt). Himalayan Art Resources, hiện vật 200040, Olmo Lungring (Bảo tàng Rubin). Shenten Dargye Ling, Le Bön.
Olmo Lungring, cõi thanh tịnh và quê hương của Tonpa Shenrab: ngọn núi chín tầng ở giữa, bốn khu vườn chung quanh, năm vị ngồi hàng trên cùng. Tranh thangka, Tây Tạng, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York.
Olmo Lungring, cõi thanh tịnh và quê hương của Tonpa Shenrab: ngọn núi chín tầng ở giữa, bốn khu vườn chung quanh, năm vị ngồi hàng trên cùng. Tranh thangka, Tây Tạng, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons

IIIBốn Vị Thiện Thệ Và Các Vị An Hòa

Đứng đầu các vị an hòa là bốn vị Thiện Thệ (Deshek Tsozhi, tiếng Anh thường dịch là Four Transcendent Lords). Người Bön còn gọi tắt là Lhamo, Lhachen, Sidpa và Shenrab. Himalayan Art Resources ghi rằng bộ bốn bức tranh này có ở hầu như mọi điện thờ Bön, giữ vị trí giống như Phật Thích Ca với mười sáu vị La Hán trong chùa Phật giáo Tây Tạng. Mỗi vị ngồi giữa hai trăm năm mươi vị giác ngộ, cộng lại thành một nghìn vị của thời này. Hai trăm năm mươi vị quanh Satrig Ersang đều là nữ. Trong bốn vị, chỉ Tonpa Shenrab sinh ra và sống trên mặt đất.

Nguồn: Himalayan Art Resources, The Four Transcendent Lords. Himalayan Art Resources, hiện vật 31207, Tonpa Shenrab trong bộ bốn vị. Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt).
VịTên gọi tắt và vai tròCách nhận theo nguồn
Satrig ErsangLhamo, Mẹ. Vị Phật nữ của trí tuệThân màu vàng. Dạng hay gặp nhất là Sherab Chamma
Shenlha OkarLhachen, Thần. Vị của ánh sáng trí tuệ và lòng biThân trắng, hai tay thiền định, tòa có voi đỡ
Sangpo BumtriSidpa, Đấng sinh thành muôn loàiTay cầm cờ phướn hoặc lọng, tòa có chim thần đỡ
Tonpa ShenrabShenrab, Bậc thầy của thời nàyTay phải chạm đất, cầm trượng yungdrung
Nguồn: Himalayan Art Resources, The Four Transcendent Lords. Wikipedia, Bon. Himalayan Art Resources, hiện vật 86934, Shenlha Okar (Bảo tàng Brooklyn). Wikipedia, Sangpo Bumtri. Himalayan Art Resources, hiện vật 44528, Drenpa Namkha (tượng kim loại). Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Tönpa Shenrab Miwo.

Shenlha Okar

gshen lha 'od dkarNhận ra: Thân trắng, hai tay kết ấn thiền định, đội mũ miện, tòa sen có voi đỡ

Tên Ngài có nghĩa là vị thần ánh sáng trắng của các shen, tức các tu sĩ Bön. Bức thangka thế kỷ 18 ở Bảo tàng Brooklyn vẽ Ngài đeo hoa tai, vòng cổ, vòng tay, khoác khăn xanh đậm, quấn váy đỏ. Tựa lưng tòa có sư tử tuyết, rồng, thủy quái makara và chim thần. Chung quanh là hai trăm năm mươi vị giống hệt nhau xếp hàng. Dưới cùng có Tonpa Shenrab đứng và một vị hộ pháp chín đầu mười tám tay. Wikipedia còn chép một cách tả khác: tay phải cầm móc câu.

Shenlha Okar thân trắng, hai tay kết ấn thiền định, ngồi giữa 250 vị giác ngộ xếp thành hàng. Tranh thangka, màu trên vải bông, Tây Tạng, thế kỷ 18. Bảo tàng Brooklyn, New York, số 77.134.
Shenlha Okar thân trắng, hai tay kết ấn thiền định, ngồi giữa 250 vị giác ngộ xếp thành hàng. Tranh thangka, màu trên vải bông, Tây Tạng, thế kỷ 18. Bảo tàng Brooklyn, New York, số 77.134.Ảnh: Không rõ tác giả, Brooklyn Museum, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 86934, Shenlha Okar (Bảo tàng Brooklyn). Bảo tàng Brooklyn, Tanka Portraying the Bon-po Deity gSen-lha 'od-dkar, số 77.134. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Shenla Ökar. Wikipedia, Shenlha Okar.

Kunzang Akor

kun bzang a skorNhận ra: Chữ A Tây Tạng trước ngực, hai tay trong lòng cầm hai cành sen

Đây là dạng thiền quán của Shenlha Okar. Hai tay đặt trong lòng, tay trái trên tay phải, mỗi tay cầm một cành sen. Bông bên phải đỡ một yungdrung, bông bên trái đỡ một bình. Phần lớn tượng Kunzang Akor còn lại thuộc thế kỷ 14 tới 16. Bảo tàng Los Angeles ghi rằng tượng loại này thường được đặt làm để tưởng niệm người đã khuất.

Kunzang Akor, dạng thiền quán của Shenlha Okar: chữ A Tây Tạng trước ngực, hai tay thiền định cầm hai cành sen. Đồng thau mạ vàng khảm ngọc lam và san hô, miền trung Tây Tạng, thế kỷ 16, cao khoảng 15,6 cm. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles, số M.83.191.
Kunzang Akor, dạng thiền quán của Shenlha Okar: chữ A Tây Tạng trước ngực, hai tay thiền định cầm hai cành sen. Đồng thau mạ vàng khảm ngọc lam và san hô, miền trung Tây Tạng, thế kỷ 16, cao khoảng 15,6 cm. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles, số M.83.191.Ảnh: Không rõ tác giả, Los Angeles County Museum of Art, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, Kunzang Akor. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles, The Bon Meditational Deity Kunzang Akor, số M.83.191.

Satrig Ersang và Sherab Chamma

sa trig er sangs, shes rab byams maNhận ra: Vị nữ thân vàng. Sherab Chamma cầm hoa sen và bình nước, có khi cầm bình và gương

Sherab Chamma nghĩa là Mẹ Từ Bi Trí Tuệ, vị nữ chính của đạo Bön và là dạng hiện chính của Satrig Ersang. Một bức thangka mới ở Shenten Dargye Ling vẽ Bà thân vàng óng, tay cầm hoa sen và bình nước, tòa có hai con sư tử. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của hai vị này.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Sherab Chamma. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Sherab Chamma. Wikipedia, Bon.

Sangpo Bumtri

sangs po 'bum khriNhận ra: Tay cầm cờ phướn, tòa có chim thần đỡ

Ngài là vị đưa muôn loài vào đời và có vai lớn trong các truyện sáng thế của Bön. Wikipedia tả Ngài thân trắng bạc, tay phải cầm cờ chiến thắng hoặc lọng, tay trái thiền định, tòa có sư tử tuyết hoặc chim garuda đỡ. Himalayan Art Resources nhắc rằng Ngài dễ bị lẫn với Drenpa Namkha vì cả hai cùng cầm cờ phướn: Sangpo Bumtri ngồi tòa chim, Drenpa Namkha ngồi tòa sư tử. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở.

Nguồn: Wikipedia, Sangpo Bumtri. Himalayan Art Resources, hiện vật 44528, Drenpa Namkha (tượng kim loại). Himalayan Art Resources, Drenpa Namkha.

Kuntu Zangpo

kun tu bzang poNhận ra: Dạng trần không trang sức, hoặc dạng có trang sức và thiên y

Vị an hòa này có hai cách vẽ. Một là thân trần, không trang sức. Hai là có trang sức và y phục cõi trời. Cả hai cách đều có thể vẽ kèm phối ngẫu. Dạng trần của Kuntu Zangpo trong Bön và trong Phật giáo (Phổ Hiền của dòng Nyingma) gần như giống hệt nhau. Trên bức tranh Sanggye Lingpa ở Bảo tàng Rubin, Ngài được vẽ nhỏ ở đỉnh tranh: thân đen, trần, ngồi thiền.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Kuntu Zangpo (Bon). Himalayan Art Resources, hiện vật 200002, Sanggye Lingpa (Bảo tàng Rubin).

Kunzang Gyalwa Dupa

kun bzang rgyal ba 'dus paNhận ra: Dáng an hòa, nhiều mặt chồng lên nhau, nhiều tay

Tên Ngài nghĩa là nơi hội tụ các bậc chiến thắng. Ngài tượng trưng cho sức mạnh của mọi vị lớn trong Bön và là dạng an hòa của ba vị phẫn nộ dữ nhất: Welse Ngampa, Trowo Tsochog Khagying và Lhago Togpa.

Kunzang Gyalwa Dupa nhiều mặt nhiều tay, tượng đồng khảm bạc. Người chụp ghi theo nhãn: miền tây Tây Tạng, khoảng năm 1300. Bảo tàng Nghệ thuật Á châu San Francisco.
Kunzang Gyalwa Dupa nhiều mặt nhiều tay, tượng đồng khảm bạc. Người chụp ghi theo nhãn: miền tây Tây Tạng, khoảng năm 1300. Bảo tàng Nghệ thuật Á châu San Francisco.Ảnh: Mary Harrsch from Springfield, Oregon, USA, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 73121, Kunzang Gyalwa Dupa.

IVBổn Tôn Phẫn Nộ Và Hộ Pháp

Đạo Bön chia các vị thành hai nhóm lớn: an hòa và phẫn nộ. Nhóm phẫn nộ gồm các bổn tôn (yidam) dùng trong thiền quán Mật pháp và các vị hộ pháp. Dáng dữ ở đây không mang nghĩa ác. Nguồn mô tả vũ khí và lửa quanh thân là hình ảnh của trí tuệ cắt đứt tham, sân và si.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon Deities Page. Himalayan Art Resources, Sipai Gyalmo.

Welse Ngampa

dbal gsas rngam paNhận ra: Thân xanh đen, chín mặt, mười tám tay, tay giữa cầm cây phurba trước ngực

Ngài thuộc nhóm năm vị bổn tôn của pháp đài Se, gồm Welse Ngampa, Lhago Togpa, Tsochog Khagying, Walchen Gekho và Purba Drugse Chempa. Ba mặt chính màu xanh, trắng và đỏ, mỗi mặt ba mắt. Phía trên là mặt hổ, sư tử, báo, rồng, chim khyung và thủy quái. Ngài ôm phối ngẫu màu xanh lục, đứng chân trái co chân phải duỗi, chung quanh là lửa.

Welse Ngampa, một trong năm vị bổn tôn của pháp đài Se, dáng phẫn nộ, ôm phối ngẫu. Mực, vàng và màu trên vải, Tây Tạng, đầu thế kỷ 15. Bảo tàng Metropolitan, New York, số 1994.527.
Welse Ngampa, một trong năm vị bổn tôn của pháp đài Se, dáng phẫn nộ, ôm phối ngẫu. Mực, vàng và màu trên vải, Tây Tạng, đầu thế kỷ 15. Bảo tàng Metropolitan, New York, số 1994.527.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, Walse Ngampa. Himalayan Art Resources, Five Excellent Ones of the Se Fortress. Bảo tàng Metropolitan, The Wrathful Bon Deity Walse Ngampa, số 1994.527.

Trowo Tsochog Khagying

khro bo gtso mchog mkha' 'gyingNhận ra: Dáng phẫn nộ, ôm phối ngẫu Khala Dugmo

Tên Ngài nghĩa là Đấng Phẫn Nộ Tối Thượng Sừng Sững Giữa Trời. Bảo tàng Metropolitan ghi Ngài là một trong năm vị bổn tôn của pháp đài, gắn với các Mật điển Cha của Bön. Như nhiều vị của Bön, Ngài còn gắn với việc dẫn dắt người đã khuất.

Trowo Tsochog Khagying cùng phối ngẫu Khala Dugmo, chung quanh là quyến thuộc. Màu keo, mực và vàng trên vải, Tây Tạng, thế kỷ 15. Bảo tàng Metropolitan, New York, số 2018.890.
Trowo Tsochog Khagying cùng phối ngẫu Khala Dugmo, chung quanh là quyến thuộc. Màu keo, mực và vàng trên vải, Tây Tạng, thế kỷ 15. Bảo tàng Metropolitan, New York, số 2018.890.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Trowo Tsochog Khagying, the Bon Deity, số 2018.890. Himalayan Art Resources, Five Excellent Ones of the Se Fortress.

Sipai Gyalmo

srid pa'i rgyal mo, Nữ Vương Của Thế GianNhận ra: Thân đen, ba mặt, sáu tay, cưỡi la đỏ hoặc la đen

Bà vừa là bổn tôn vừa là hộ pháp, và là vị hộ pháp chính của đạo Bön. Bà là dạng phẫn nộ nhất của Sherab Chamma. Ba tay phải cầm cờ chiến thắng, kiếm lửa và cọc phurba. Ba tay trái cầm đinh ba, gậy yungdrung và bát sọ. Bà có sáu dạng theo sáu màu (trắng, vàng, đỏ, đen, xanh, nâu sẫm) và hai mươi tám vị tùy tùng. Có dạng cưỡi chim, có dạng trăm mặt nghìn tay. Bà dễ bị lẫn với Shri Devi (Palden Lhamo) của Phật giáo Tây Tạng. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở mà bảo tàng xác nhận là Sipai Gyalmo.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Sipai Gyalmo. Himalayan Art Resources, Bon Protectors List.

Takla Mebar

stag la me 'barNhận ra: Thân đỏ (hoặc đen), một mặt hai tay, tay phải cầm bánh xe vàng, tay trái cầm chín thanh kiếm

Tên Ngài nghĩa là Thần Hổ Rực Lửa. Ngài là dáng phẫn nộ của một đệ tử trực tiếp của Tonpa Shenrab. Ba mắt tròn, tóc dựng như lửa, đội mũ năm sọ khô, quấn váy da hổ, đứng chân phải co chân trái duỗi giữa vòng lửa.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Tagla Membar.

Midu và Nyipangse

Nhận ra: Nyipangse thân đỏ, cưỡi ngựa đỏ

Hai vị này thuộc nhóm hộ pháp thế gian trong danh sách của Himalayan Art Resources, cùng với các thần núi như Amnye Machen. Nguồn tả Nyipangse (cũng viết Nyipangtsen) thân đỏ, cưỡi ngựa đỏ. Về Midu, nguồn đã đọc chỉ ghi tên, chưa tả hình.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon Protectors List. Himalayan Art Resources, hiện vật 73143, Nyipangtsen.

VCác Bậc Thầy Được Thờ

Hình các bậc thầy của Bön có đủ dáng: cư sĩ, tu sĩ và hành giả khổ hạnh. Tranh thầy thường thuộc bốn loại: ba dòng truyền Dzogchen, dòng tu viện với Nyamme Sherab Gyaltsen ở giữa, dòng Mật điển Mẹ, và ruộng quy y. Phần lớn hình các vị thầy còn lại nằm trong các bộ thẻ quán đảnh và thẻ truyền thừa.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Bon Teachers.

Nyamme Sherab Gyaltsen

mnyam med shes rab rgyal mtshanNhận ra: Mũ lạt ma Bön có hai dải đỏ buông xuống vai, hai tay trước ngực cầm hai cành sen đỡ kiếm và sách

Ngài sinh ở miền đông Tây Tạng vào thế kỷ 14 và lập tu viện Menri năm 1405. Trong tranh, Ngài mặc y vá màu cam và đỏ, ngồi trên tòa sen và đĩa trăng. Thanh kiếm trí tuệ ở bông sen bên phải và quyển kinh ở bông sen bên trái là vật của vị Mawe Sengge, ý nói Ngài được ban biện tài và trí tuệ. Bức ở Bảo tàng Rubin vẽ quanh Ngài sáu mươi chín vị lạt ma, gần hết đội cùng kiểu mũ. Truyện kể Ngài bay cao tới mức mũ bị nắng mặt trời làm cháy sém. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở mà bảo tàng xác nhận là Ngài.

Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 200010, Nyamme Sherab Gyaltsen (Bảo tàng Rubin). Himalayan Art Resources, Nyamme Sherab Gyaltsen. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Nyamme Sherab Gyaltsen. Wikipedia, Menri Monastery.

Drenpa Namkha

dran pa nam mkha'Nhận ra: Tay giơ cao một lá cờ phướn (lọng), ngồi tòa sư tử

Ngài được tin là sống vào thời vua Trisong Detsen, thế kỷ 8, lúc Bön bị chèn ép, và là người cất giấu nhiều kinh Bön. Truyền thống Bön kể Ngài có hai con trai là Tsewang Rigdzin và Pema Tongdrol. Wikipedia còn chép một cách tả khác: tay phải cầm trượng yungdrung, lòng bàn chân có một con mắt. Bức thangka thế kỷ 14 dưới đây vẽ Ngài thân xanh.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Drenpa Namkha. Himalayan Art Resources, hiện vật 44528, Drenpa Namkha (tượng kim loại). Himalayan Art Resources, hiện vật 57059, Drenpa Namka, 1300 tới 1399. Wikipedia, Drenpa Namkha. Wikipedia, Bon.

Tapihritsa

ta pi hri tsaNhận ra: Thân trắng trong như pha lê, trần, không trang sức, ngồi thiền giữa vòng cầu vồng

Ngài sinh trong một nhà du mục ở Zhang Zhung, sống vào thế kỷ 7 hoặc 8. Sau chín năm tu ở Senge Tap gần núi Kailash, Ngài đạt thân cầu vồng. Ngài là vị thầy của dòng Dzogchen truyền khẩu Zhang Zhung Nyen Gyu và đã truyền pháp cho Nangzher Lopo trong dáng một cậu bé. Thân trần không trang sức nói về trạng thái tỉnh giác nguyên sơ. Thư viện chưa tìm được ảnh hiện vật có giấy phép mở.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Tapihritsa. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Tapihritsa. Wikipedia, Tapihritsa.

Sanggye Lingpa và dòng Bön Mới

Nhận ra: Mũ vàng có chày kim cương trên chóp và một yungdrung phía trước

Sanggye Lingpa (1705 tới 1735) thuộc dòng Bön Mới, dòng tìm cách hòa Bön với Phật giáo. Chiếc mũ của Ngài mang dấu của cả hai đạo. Tay phải cầm cành sen đỡ kiếm và sách, tay trái trong lòng đỡ một bánh xe. Trên bàn trước mặt có trống tay và một chiếc chuông dẹt. Hai đệ tử ngồi hai bên đều gắn với Gyalrong, một vùng Bön lớn ở miền đông.

Lạt ma Sanggye Lingpa (1705 tới 1735) của dòng Bön Mới, đội mũ vàng, tay phải cầm cành sen đỡ kiếm và sách. Tranh thangka, vùng Gyalrong, miền đông Tây Tạng, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York, số C2006.66.598.
Lạt ma Sanggye Lingpa (1705 tới 1735) của dòng Bön Mới, đội mũ vàng, tay phải cầm cành sen đỡ kiếm và sách. Tranh thangka, vùng Gyalrong, miền đông Tây Tạng, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin, New York, số C2006.66.598.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 200002, Sanggye Lingpa (Bảo tàng Rubin). Bảo tàng Rubin, Bon Lama Sanggye Lingpa (1705-1735), số C2006.66.598.

Tranh truyền thừa và thẻ tsakli

Tsakli là những lá thẻ vẽ nhỏ dùng trong lễ quán đảnh. Lá dưới đây thuộc một bộ thẻ Bön thế kỷ 15, vẽ một vị đứng giữa vòng hào quang nhiều màu.

Nguồn: Himalayan Art Resources, hiện vật 32781, Initiation Cards. Himalayan Art Resources, Bon Teachers.
Một lá thẻ quán đảnh (tsakli) của đạo Bön: một vị đứng trong vòng hào quang nhiều màu. Màu khoáng trên giấy, Tây Tạng, thế kỷ 15, sưu tập tư nhân. Himalayan Art Resources, hiện vật số 32781.
Một lá thẻ quán đảnh (tsakli) của đạo Bön: một vị đứng trong vòng hào quang nhiều màu. Màu khoáng trên giấy, Tây Tạng, thế kỷ 15, sưu tập tư nhân. Himalayan Art Resources, hiện vật số 32781.Ảnh: Unknown painter, card from 15th century Tibet, Public domain, Wikimedia Commons
Tranh truyền thừa: một vị thầy mặc y tu sĩ ngồi giữa, các vị thầy khác xếp chung quanh. Trang tệp gốc ghi đây là các vị thầy dòng truyền khẩu Zhang Zhung, sưu tập tư nhân ở Đức. Thư viện chưa đối chiếu được với một bảo tàng.
Tranh truyền thừa: một vị thầy mặc y tu sĩ ngồi giữa, các vị thầy khác xếp chung quanh. Trang tệp gốc ghi đây là các vị thầy dòng truyền khẩu Zhang Zhung, sưu tập tư nhân ở Đức. Thư viện chưa đối chiếu được với một bảo tàng.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons

VINhận Ra Một Hình Thờ Của Đạo Bön

Per Kvaerne viết rằng thoạt nhìn, Bön gần như không phân biệt được với Phật giáo về giáo lý, nếp tu viện, nghi lễ và thiền tập. Tranh tượng cũng vậy: cùng tòa sen, hào quang, y vá của tu sĩ, cùng cách chia vị an hòa và vị phẫn nộ. Các vị của Bön giống các vị của Phật giáo Đại thừa ở nhiều điểm, nhưng có tên riêng, hình tướng riêng và thần chú riêng.

Nguồn: Wikipedia, Bon.
Dấu hiệuTrong đạo BönGhi chú
Biểu tượng của sự bền vữngYungdrung, chữ vạn xoay trái, nghĩa là vĩnh hằng, không gì phá hủy đượcGiữ vai trò như chày kim cương trong Phật giáo Tây Tạng
Vật cầm của bậc khai sángCây trượng yungdrung (chakshing)Tonpa Shenrab cầm ở tay phải
Chiều đi nhiễuNgược chiều kim đồng hồNguồn đã đọc ghi rõ điều này ở núi Kailash
MũMũ hoa sen của Tonpa Shenrab, mũ lạt ma Bön có hai dải buông xuống vaiTrong ảnh ngày nay, mũ của tu sĩ có hai màu xanh và trắng
Thế tay thiền địnhTay trái đặt trên tay phảiHimalayan Art Resources ghi ở Tonpa Shenrab và Kunzang Akor
Chữ trên ngựcChữ A Tây TạngDấu riêng của Kunzang Akor
Tên các vịShenlha Okar, Satrig Ersang, Sangpo Bumtri, Sipai Gyalmo, Welse NgampaKhông có trong danh sách các vị của Phật giáo
Nguồn: Wikipedia, Bon. Himalayan Art Resources, Bon: Tonpa Shenrab Iconography. Wikipedia, Mount Kailash. Himalayan Art Resources, hiện vật 200010, Nyamme Sherab Gyaltsen (Bảo tàng Rubin). Himalayan Art Resources, Kunzang Akor. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles, The Bon Meditational Deity Kunzang Akor, số M.83.191.

Yungdrung là dấu hiệu của Bön về cái vĩnh hằng. Hình của nó là một chữ vạn bốn nhánh xoay về bên trái. Nó xuất hiện trên trượng của Tonpa Shenrab, trên bông sen của Kunzang Akor, trên mũ của các vị thầy và trong tên ngọn núi chín tầng ở Olmo Lungring. Thư viện tả biểu tượng này bằng lời và không đăng ảnh riêng của nó.

Nguồn: Wikipedia, Bon. Himalayan Art Resources, Kunzang Akor. Himalayan Art Resources, hiện vật 200002, Sanggye Lingpa (Bảo tàng Rubin). Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt).
Các tu sĩ Bön trong một buổi lễ ngoài trời, nhiều vị đội mũ hoa sen hai màu xanh và trắng. Trang tệp gốc không ghi nơi chụp.
Các tu sĩ Bön trong một buổi lễ ngoài trời, nhiều vị đội mũ hoa sen hai màu xanh và trắng. Trang tệp gốc không ghi nơi chụp.Ảnh: Dereck Camacho, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Những cặp hay bị lẫn

Himalayan Art Resources lập hẳn danh mục các chỗ dễ lẫn. Tritsug Gyalwa lẫn với Phật Thích Ca. Nampar Gyalwa giơ tay lẫn với Kim Cương Thủ. Sipai Gyalmo lẫn với Shri Devi (Palden Lhamo). Takla Mebar lẫn với Mã Đầu Minh Vương. Kuntu Zangpo dạng trần gần như giống hệt Phổ Hiền của dòng Nyingma. Vì vậy một bức tranh không có bài minh, không rõ xuất xứ thì rất khó khẳng định là của Bön.

Nguồn: Himalayan Art Resources, Tritsug Gyalwa. Himalayan Art Resources, Nampar Gyalwa. Himalayan Art Resources, Sipai Gyalmo. Himalayan Art Resources, Tagla Membar. Himalayan Art Resources, Kuntu Zangpo (Bon).

VIIBan Thờ Và Điện Thờ Của Đạo Bön

Trang hướng dẫn của một hành giả Bön tả thứ bậc trên ban thờ như sau. Kinh sách đặt ở chỗ cao nhất, không để vật gì cao hơn. Kế đó là tượng các vị và torma của bổn tôn. Hình các vị thầy đặt thấp hơn. Các lớp dưới dành cho vòng mandala đựng lúa mạch hoặc gạo và năm phẩm cúng hằng ngày. Đây là lời của một người thực hành, thư viện chưa đối chiếu được với văn bản của tu viện Menri.

Nguồn: Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), Mandala of the Divine: The Yungdrung Bön Altar.
Cao nhấtKinh sáchTượng trưng cho khẩu giác ngộ. Không đặt vật gì cao hơn kinh
Lớp kếTượng, tranh thangka và torma của bổn tônTượng trưng cho thân giác ngộ. Bảo tháp tượng trưng cho ý giác ngộ
Lớp dướiHình các vị thầyĐặt thấp hơn tượng các vị
Thấp nhấtVòng mandala và năm phẩm cúngĐèn bơ, hương, nước sạch, thức ăn và hoa

Sơ đồ vẽ theo lời tả của một nguồn duy nhất. Mỗi tu viện và mỗi nhà có thể bày khác.

Ban thờ chính của tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: tượng trong các khám gỗ sơn, bàn cúng phía trước. Trang tệp gốc ghi tu viện lập năm 1980 và không ghi tên từng pho tượng.
Ban thờ chính của tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: tượng trong các khám gỗ sơn, bàn cúng phía trước. Trang tệp gốc ghi tu viện lập năm 1980 và không ghi tên từng pho tượng.Ảnh: Anjan Kumar Kundu, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Pho tượng giữa ban thờ tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, có đội mũ miện, phía trước là hoa, đèn và phẩm cúng. Trang tệp gốc không ghi tên vị được thờ.
Pho tượng giữa ban thờ tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, có đội mũ miện, phía trước là hoa, đèn và phẩm cúng. Trang tệp gốc không ghi tên vị được thờ.Ảnh: Anjan Kumar Kundu, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Bên trong chính điện tu viện Bön ở Dolanji, Ấn Độ, nhìn từ cửa vào: pho tượng lớn thếp vàng ở cuối gian, hai dãy ghế tụng kinh hai bên. Ảnh chụp năm 2012.
Bên trong chính điện tu viện Bön ở Dolanji, Ấn Độ, nhìn từ cửa vào: pho tượng lớn thếp vàng ở cuối gian, hai dãy ghế tụng kinh hai bên. Ảnh chụp năm 2012.Ảnh: Amrit Thapa, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Chính điện tu viện Sog Yungdrung Ling ở Yangang, Sikkim, Ấn Độ: tranh thangka treo trên cao, hàng ghế tụng kinh, trống lớn. Trang tệp gốc ghi tu viện lập năm 2013.
Chính điện tu viện Sog Yungdrung Ling ở Yangang, Sikkim, Ấn Độ: tranh thangka treo trên cao, hàng ghế tụng kinh, trống lớn. Trang tệp gốc ghi tu viện lập năm 2013.Ảnh: Amitabha Gupta, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Năm phẩm cúng hằng ngày

Năm phẩm cúng ngoài gồm đèn bơ, nước sạch, thức ăn, hương và hoa, dâng lên ban thờ vào lúc rạng sáng. Theo nguồn này, lệ thường là bảy ngọn đèn bơ, bảy chén nước bằng kim loại xếp thành một hàng, cách nhau bằng bề ngang một hạt gạo, và bảy torma nặn bằng bột lúa mạch rang. Nước được rót từ trái sang phải vào buổi sáng và đổ đi từ phải sang trái vào buổi chiều. Mỗi phẩm cúng ứng với việc dứt khổ của một cõi: đèn cho cõi địa ngục, hương cho cõi ngạ quỷ, nước cho cõi súc sinh, thức ăn cho cõi người, hoa cho cõi a tu la.

Nguồn: Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), The Five External Daily Offerings.

Tranh, thẻ vẽ, torma và bảo tháp

Tranh thangka của Bön vẽ bằng màu khoáng trên vải bông, cùng kỹ thuật với thangka Phật giáo. Bộ tranh hay gặp nhất trong điện thờ là bốn vị Thiện Thệ, thường kèm bức thứ năm vẽ mandala chung của cả bốn. Torma là hình nặn bằng bột và bơ, mỗi vị có kiểu torma riêng. Nhóm nghiên cứu của Đại học Vienna đã chụp và chú giải khoảng sáu mươi hình torma trên một ban thờ Bön ở Kathmandu năm 2015. Truyện Tonpa Shenrab kể Ngài dạy dùng hình nặn bằng bột lúa mạch thay cho việc giết con vật để cúng.

Nguồn: Himalayan Art Resources, The Four Transcendent Lords. Himalayan Art Resources, hiện vật 86934, Shenlha Okar (Bảo tàng Brooklyn). Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: ban thờ và torma, Kathmandu 2015. Wikipedia, Bon.

Bảo tháp (chorten) có mặt cả trên ban thờ, dưới dạng tháp nhỏ, lẫn ngoài sân tu viện. Ba ngọn tháp trắng ở Kewzing dưới đây là kiểu đặt ngoài sân. Thư viện chưa đọc được nguồn của chính đạo Bön tả các kiểu tháp riêng của Bön, nên không tả chi tiết.

Nguồn: Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), Mandala of the Divine: The Yungdrung Bön Altar.
Ba ngọn bảo tháp (chorten) trắng trong khuôn viên tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ.
Ba ngọn bảo tháp (chorten) trắng trong khuôn viên tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ.Ảnh: Anjan Kumar Kundu, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: bảo tháp trắng bên trái, chính điện phía sau. Ảnh chụp năm 2013.
Tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: bảo tháp trắng bên trái, chính điện phía sau. Ảnh chụp năm 2013.Ảnh: Prof Ranga Sai, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bên trong tự viện Bön ở Ringmo, Dolpo, Nepal: tượng trong khám sơn màu, bàn cúng bằng gỗ, tràng phan treo trước ban thờ. Ảnh chụp năm 2019.
Bên trong tự viện Bön ở Ringmo, Dolpo, Nepal: tượng trong khám sơn màu, bàn cúng bằng gỗ, tràng phan treo trước ban thờ. Ảnh chụp năm 2019.Ảnh: Rucksackschule-dresden, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

VIIITổ Đình, Thánh Địa Và Đạo Bön Qua Từng Nước

Năm 2019 giới nghiên cứu ước có khoảng 400.000 người theo Bön trên cao nguyên Tây Tạng. Trước năm 1950 có hơn 300 tu viện Bön ở Tây Tạng và miền tây Trung Quốc. Kinh điển Bön cũng chia hai phần như Phật giáo Tây Tạng: bộ Kangyur gồm 179 quyển lời dạy của Tonpa Shenrab, và bộ Katen gồm các luận giải.

Nguồn: Wikipedia, Bon. Wikipedia, Bön Kangyur and Tengyur.

Tây Tạng: Menri, Yungdrung Ling và núi Kailash

Menri, nghĩa là núi thuốc, là tổ đình của Bön. Tu viện tiền thân Yeru Wensakha lập năm 1072 và bị lũ cuốn năm 1386. Năm 1405 Nyamme Sherab Gyaltsen dựng Menri trên sườn núi Shari Phowa ở Topgyel, vùng Tsang. Vị trụ trì Menri được coi là người đứng đầu đạo Bön. Năm 1959 Menri có khoảng 400 tới 500 tu sĩ. Wikipedia tiếng Đức ghi tu viện bị phá hoàn toàn năm 1959. Yungdrung Ling, cũng ở Tsang, do Nangton Dawa Gyaltsen lập năm 1836, từng có 300 tới 500 tu sĩ. Núi Kailash, người Bön gọi là Tise, là trung tâm của Zhang Zhung xưa. Kinh Bön gọi núi bằng nhiều tên, trong đó có núi chín tầng yungdrung. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của Menri cũ và Yungdrung Ling.

Mặt bắc núi Kailash, miền tây Tây Tạng. Người theo đạo Bön gọi núi là Tise và đi nhiễu quanh núi ngược chiều kim đồng hồ.
Mặt bắc núi Kailash, miền tây Tây Tạng. Người theo đạo Bön gọi núi là Tise và đi nhiễu quanh núi ngược chiều kim đồng hồ.Ảnh: Jean-Marie Hullot, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Menri Monastery. Wikipedia tiếng Đức, Menri. Wikipedia tiếng Đức, Yungdrung Ling. Wikipedia, Mount Kailash. Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt).

Amdo và Gyalrong (Tứ Xuyên, Trung Quốc)

Nangzhig ở Ngawa là tu viện Bön lớn nhất, với khoảng 800 tới 1.000 tu sĩ. Tu viện do Nyimadzin lập vào đầu thế kỷ 12 và dời về chỗ hiện nay năm 1754. Gyalrong là quê của Nyamme Sherab Gyaltsen và của nhiều vị trụ trì Menri sau Ngài. Bảo tàng Rubin gọi vùng này là một trung tâm văn hóa Bön quan trọng ở rìa đông Amdo và Kham.

Tu viện Nangzhig (dân trong vùng gọi là Narshi) ở Ngawa, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ảnh chụp tháng 2 năm 2003.
Tu viện Nangzhig (dân trong vùng gọi là Narshi) ở Ngawa, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ảnh chụp tháng 2 năm 2003.Ảnh: Jialiang Gao (peace-on-earth.org), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Nangzhik Gompa. Wikipedia tiếng Đức, Nangshig-Kloster. Wikipedia, Menri Monastery. Bảo tàng Rubin, Bon Lama Sanggye Lingpa (1705-1735), số C2006.66.598.

Ấn Độ: Dolanji và Sikkim

Năm 1967 Menri được dựng lại ở Dolanji, bang Himachal Pradesh, do Lungtok Tenpai Nyima và Lopon Tenzin Namdak chủ trì. Lungtok Tenpai Nyima trở thành vị Menri Trizin thứ 33. Tu viện có hơn hai trăm tu sĩ và mở lại chương trình đào tạo geshe. Ở Sikkim có hai tu viện Bön được chụp ảnh nhiều: Kewzing và Sog Yungdrung Ling ở Yangang.

Tu viện Menri dựng lại ở Dolanji, bang Himachal Pradesh, Ấn Độ. Ảnh chụp tháng 2 năm 2016.
Tu viện Menri dựng lại ở Dolanji, bang Himachal Pradesh, Ấn Độ. Ảnh chụp tháng 2 năm 2016.Ảnh: Unpurrceivable, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bên trong chính điện tu viện Bön ở Dolanji, Ấn Độ, nhìn từ cửa vào: pho tượng lớn thếp vàng ở cuối gian, hai dãy ghế tụng kinh hai bên. Ảnh chụp năm 2012.
Bên trong chính điện tu viện Bön ở Dolanji, Ấn Độ, nhìn từ cửa vào: pho tượng lớn thếp vàng ở cuối gian, hai dãy ghế tụng kinh hai bên. Ảnh chụp năm 2012.Ảnh: Amrit Thapa, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: bảo tháp trắng bên trái, chính điện phía sau. Ảnh chụp năm 2013.
Tu viện Bön ở Kewzing, Sikkim, Ấn Độ: bảo tháp trắng bên trái, chính điện phía sau. Ảnh chụp năm 2013.Ảnh: Prof Ranga Sai, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Menri Monastery. Wikipedia, Dolanji. Wikipedia, Bon.

Nepal: Triten Norbutse, Dolpo và Mustang

Tu viện Triten Norbutse nằm ở Nagarjun, rìa tây Kathmandu, gắn với Yongdzin Tenzin Namdak Rinpoche. Cùng với Menri ở Dolanji, đây là một trong hai nơi còn chương trình geshe của Bön. Dolpo là vùng núi cao giữ được nhiều tranh Bön cổ: Himalayan Art Resources có những bộ bốn vị Thiện Thệ từ Dolpo, trong đó một bức Tonpa Shenrab thế kỷ 17 hoặc 18. Hai ảnh dưới đây chụp một tự viện Bön ở Ringmo và làng Lupra ở Mustang, tên và mô tả theo người chụp.

Ngôi tự viện Bön bên hồ ở Ringmo, vùng Dolpo, Nepal. Ảnh chụp năm 2019, tên gọi theo người chụp.
Ngôi tự viện Bön bên hồ ở Ringmo, vùng Dolpo, Nepal. Ảnh chụp năm 2019, tên gọi theo người chụp.Ảnh: Rucksackschule-dresden, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Làng Lupra ở Mustang, Nepal. Người chụp ghi đây là một làng theo đạo Bön nằm trong hẻm núi giữa Kagbeni và Jomsom. Ảnh chụp năm 2014.
Làng Lupra ở Mustang, Nepal. Người chụp ghi đây là một làng theo đạo Bön nằm trong hẻm núi giữa Kagbeni và Jomsom. Ảnh chụp năm 2014.Ảnh: Jean-Marie Hullot from France, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Tu viện Triten Norbutse, trang chính. Wikipedia, Dolanji. Wikipedia, Bon. Himalayan Art Resources, The Four Transcendent Lords. Himalayan Art Resources, hiện vật 100650, Tonpa Shenrab, vùng Dolpo.

Bhutan

Một nhóm kinh Bön tìm thấy được gọi là Kho Tàng Phương Nam, phát lộ ở Bhutan và miền nam Tây Tạng. Ngày nay ở Bhutan chủ yếu có dạng mà giới nghiên cứu gọi là Bön của người Phật tử: người theo Phật giáo giữ thêm một số lễ Bön nhưng coi Phật giáo là chính. Thư viện chưa tìm được ảnh hình thờ Bön ở Bhutan.

Nguồn: Wikipedia, Bon.

Phương Tây

Shenten Dargye Ling ở Blou, miền tây nước Pháp, do Yongdzin Lopon Tenzin Namdak Rinpoche lập đầu năm 2001 để gìn giữ, nghiên cứu, giảng dạy và thực hành Yungdrung Bön. Nơi đây treo một bộ thangka mới vẽ ở Kathmandu mà Đại học Vienna đã chụp và chú giải. Ligmincha International, tổ chức gắn với Tenzin Wangyal Rinpoche, có trang riêng cho từng nước. Trang của tổ chức này nhắc tới Đại Bảo tháp vì Hòa bình Thế giới ở Chamma Ling, Valle de Bravo, Mexico.

Đại Bảo tháp Bön vì Hòa bình Thế giới ở Valle de Bravo, Mexico. Công trình mới, ảnh chụp năm 2018.
Đại Bảo tháp Bön vì Hòa bình Thế giới ở Valle de Bravo, Mexico. Công trình mới, ảnh chụp năm 2018.Ảnh: E.dronism, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Shenten Dargye Ling, Présentation de Shenten. Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Shenla Ökar. Ligmincha International, Bön Buddhism. Ligmincha International, trang Mexico. Wikipedia tiếng Tây Ban Nha, Gran estupa Bön.
Được nhìn nhận là truyền thống thứ năm

Người Bön lưu vong từng bị đứng ngoài trong nhiều năm. Wikipedia tiếng Anh ghi năm 1979 Bön được công nhận chính thức là một nhóm tôn giáo với quyền ngang các tông phái Phật giáo, và năm 1987 Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nhắc lại điều này, cấm kỳ thị người Bön. Wikipedia tiếng Đức ghi năm 1977. Trang của Shenten Dargye Ling viết rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn nhận Yungdrung Bön là truyền thống thứ năm của Tây Tạng, bên cạnh bốn truyền thống Phật giáo.

Nguồn: Wikipedia, Bon. Wikipedia tiếng Đức, Bön. Shenten Dargye Ling, Le Bön.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc nguồn qua mạng. Hai cuốn sách nền của ngành là The Bon Religion of Tibet của Per Kvaerne và các công trình của Samten Karmay chưa được đọc trực tiếp, chỉ đọc qua Himalayan Art Resources, Bảo tàng Rubin và Wikipedia. Lượt tìm kiếm trên mạng của đợt soạn này cũng có giới hạn.
·Tonpa Shenrab sống vào lúc nào: Himalayan Art Resources ghi 8.000 năm trước, chỗ khác ghi 8.000 tới 18.000 năm. Ligmincha ghi hơn 17.000 năm. Shenten Dargye Ling ghi hơn 9.000 năm. Wikipedia chép thêm nhiều mốc khác và dẫn lời giới nghiên cứu rằng chưa có tư liệu nào trước thế kỷ 10 xác lập được niên đại của Ngài. Trang này không chọn mốc nào.
·Năm mất của Nyamme Sherab Gyaltsen: Himalayan Art Resources ghi 1356 tới 1415, Wikipedia tiếng Anh ghi 1356 tới 1416.
·Menri ở Dolanji: Wikipedia ghi dựng lại năm 1967, bài Dolanji của Wikipedia lại ghi xây năm 1969. Nangzhig: Wikipedia tiếng Anh ghi lập năm 1108, bản tiếng Đức ghi 1107. Tu viện Bön ở Kewzing: trang ảnh ghi năm 1980, một bài Wikipedia về tu viện Kewzing ghi năm 1974 và có thể đang nói về một tu viện khác trong cùng làng.
·Năm lập tu viện Triten Norbutse ở Kathmandu: thư viện chưa mở được trang nào của tu viện ghi rõ năm, nên không ghi. Núi Bönri ở Kongpo được nhiều tài liệu nhắc là thánh địa của Bön nhưng thư viện chưa đọc được nguồn đủ tin, nên chưa đưa vào.
·Con số 108 ngọn đèn bơ: thư viện chưa tìm được nguồn của đạo Bön ghi con số này. Nguồn đã đọc ghi lệ thường là bảy ngọn đèn và bảy chén nước.
·Cách bày ban thờ và năm phẩm cúng dựa trên hai bài của một hành giả Bön phương Tây, chưa phải văn bản của tu viện Menri hay Triten Norbutse.
·Ảnh thangka Tonpa Shenrab ở Bảo tàng Rubin: trang tệp gốc không ghi số hiện vật, nên thư viện chưa khớp được từng bức với trang của bảo tàng. Bức tranh truyền thừa do một người tự quét và đăng, không ghi sách gốc. Tượng Kunzang Gyalwa Dupa: niên đại theo lời người chụp, chưa đối chiếu với nhãn bảo tàng. Bức tranh tường Tonpa Shenrab: trang tệp không ghi nơi vẽ.
·Bảo tháp ở Valle de Bravo: Wikipedia tiếng Tây Ban Nha viết tháp thuộc một trung tâm của dòng Kagyu, còn trang của Ligmincha nhắc tới tháp như một nơi tu của Bön ở Chamma Ling. Bảng tên trong loạt ảnh gốc ghi Stupa Bön. Thư viện ghi theo Ligmincha và loạt ảnh, và để ngỏ điểm này.
·Chưa có ảnh giấy phép mở mà bảo tàng xác nhận cho các vị sau: Satrig Ersang, Sherab Chamma, Sangpo Bumtri, Sipai Gyalmo, Takla Mebar, Tapihritsa, Nyamme Sherab Gyaltsen. Các vị này mới được tả bằng lời.
·Tên các pho tượng trên ban thờ ở Kewzing, Dolanji, Ringmo và Sog Yungdrung Ling: trang tệp gốc không ghi, thư viện không đoán.

Bạn là người theo đạo Bön, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Tonpa Shenrab - Life Story 19th century, Collection of Rubin Museum of Art..jpg · Không rõ tác giả · Public domain
2Tonpa Shenrab - Life Story 19th century Collection of Rubin Museum of Art.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
3Homeland of Tonpa Shenrab Miwo Olmo Lungring. Tibet, 19th century, Rubin Museum of Art.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
4GShan-rab founder of Bon religion.jpg · Prof Ranga Sai · CC BY-SA 4.0
5Brooklyn Museum - Tanka Portraying the Bon-po Deity gSen-lha 'od-dkar.jpg · Không rõ tác giả, Brooklyn Museum · Public domain
6The Bonpo Deity Kunzang Akor LACMA M.83.191 (1 of 2).jpg · Không rõ tác giả, Los Angeles County Museum of Art · Public domain
7The Bonpo deity Kunsang Galwa Dupa 1300 CE Western Tibet Bronze with silver inlay (399887906).jpg · Mary Harrsch from Springfield, Oregon, USA · CC BY 2.0
8The Wrathful Bon Deity Walse Ngampa, One of the Five Fortress Meditational Deities MET DP146431.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
9Bon Deity Trowo Tsochog Khagying MET DP-19026-001.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
10Sanggye Lingpa (1705-1735). Tibet, 19th century, Rubin Museum of Art..jpg · Không rõ tác giả · Public domain
11Lineage Lamas of the Oral Tradition from Shangshung Shangshaung Nyangyu Lagyu. Private Coll., Germany.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
1215th century Bön initiation card.jpg · Unknown painter, card from 15th century Tibet · Public domain
13Interiors of Bon Monastery 01.jpg · Anjan Kumar Kundu · CC BY 4.0
14Interiors of Bon Monastery 11.jpg · Anjan Kumar Kundu · CC BY 4.0
15Yang Drung Bon Monastery.jpg · Prof Ranga Sai · CC BY-SA 4.0
16Stupas in the premises of Bon Monastery.jpg · Anjan Kumar Kundu · CC BY 4.0
17Interiors of Sog Yungdrung Ling Bon Monastery, Yangang, South Sikkim 17.jpg · Amitabha Gupta · CC BY 4.0
18Menri Feb 2016.jpg · Unpurrceivable · CC BY-SA 4.0
19The Bon Monastery Entrance, Dolanji.jpg · Amrit Thapa · CC BY-SA 3.0
20Yungdrup Bon Lamas.jpg · Dereck Camacho · CC BY-SA 4.0
21Narshi Gonpa Ngawa Sichuan China.jpg · Jialiang Gao (peace-on-earth.org) · CC BY-SA 3.0
22Bön Gompa in Ringmo.jpg · Rucksackschule-dresden · CC BY-SA 4.0
23Im Inneren des Bön Gompa in Ringmo.jpg · Rucksackschule-dresden · CC BY-SA 4.0
24Lupra, a traditional Bön village in Mustang (15570421377).jpg · Jean-Marie Hullot from France · CC BY 2.0
25KailashNorth.jpg · Jean-Marie Hullot · CC BY-SA 4.0
26Exterior de la Estupa Bön para la paz mundial.jpg · E.dronism · CC BY-SA 4.0

XINguồn

1Himalayan Art Resources, Bon Religion Main Page (Jeff Watt)
2Himalayan Art Resources, Tonpa Shenrab Page
3Himalayan Art Resources, Bon: Tonpa Shenrab Iconography
4Himalayan Art Resources, Tritsug Gyalwa
5Himalayan Art Resources, Nampar Gyalwa
6Himalayan Art Resources, The Four Transcendent Lords
7Himalayan Art Resources, hiện vật 200020, Tonpa Shenrab Life Story (Bảo tàng Rubin)
8Himalayan Art Resources, hiện vật 200040, Olmo Lungring (Bảo tàng Rubin)
9Himalayan Art Resources, hiện vật 31207, Tonpa Shenrab trong bộ bốn vị
10Himalayan Art Resources, hiện vật 86934, Shenlha Okar (Bảo tàng Brooklyn)
11Bảo tàng Brooklyn, Tanka Portraying the Bon-po Deity gSen-lha 'od-dkar, số 77.134
12Himalayan Art Resources, Kunzang Akor
13Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles, The Bon Meditational Deity Kunzang Akor, số M.83.191
14Himalayan Art Resources, Sherab Chamma
15Himalayan Art Resources, Kuntu Zangpo (Bon)
16Himalayan Art Resources, hiện vật 73121, Kunzang Gyalwa Dupa
17Himalayan Art Resources, Bon Deities Page
18Himalayan Art Resources, Walse Ngampa
19Himalayan Art Resources, Five Excellent Ones of the Se Fortress
20Bảo tàng Metropolitan, The Wrathful Bon Deity Walse Ngampa, số 1994.527
21Bảo tàng Metropolitan, Trowo Tsochog Khagying, the Bon Deity, số 2018.890
22Himalayan Art Resources, Sipai Gyalmo
23Himalayan Art Resources, Bon Protectors List
24Himalayan Art Resources, hiện vật 73143, Nyipangtsen
25Himalayan Art Resources, Tagla Membar
26Himalayan Art Resources, Bon Teachers
27Himalayan Art Resources, Nyamme Sherab Gyaltsen
28Himalayan Art Resources, hiện vật 200010, Nyamme Sherab Gyaltsen (Bảo tàng Rubin)
29Himalayan Art Resources, Drenpa Namkha
30Himalayan Art Resources, hiện vật 57059, Drenpa Namka, 1300 tới 1399
31Himalayan Art Resources, hiện vật 44528, Drenpa Namkha (tượng kim loại)
32Himalayan Art Resources, Tapihritsa
33Himalayan Art Resources, hiện vật 200002, Sanggye Lingpa (Bảo tàng Rubin)
34Himalayan Art Resources, hiện vật 32781, Initiation Cards
35Himalayan Art Resources, hiện vật 100650, Tonpa Shenrab, vùng Dolpo
36Bảo tàng Rubin, Tonpa Shenrab with Episodes from His Life, số C2006.66.610
37Bảo tàng Rubin, Bon Lama Sanggye Lingpa (1705-1735), số C2006.66.598
38Bảo tàng Rubin, triển lãm Bon: The Magic Word, 2007 tới 2008
39Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Tönpa Shenrab Miwo
40Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Shenla Ökar
41Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Sherab Chamma
42Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Nyamme Sherab Gyaltsen
43Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: thangka Tapihritsa
44Đại học Vienna (CIRDIS), kho tư liệu Bön: ban thờ và torma, Kathmandu 2015
45Britannica, Bon (Tibetan religion)
46Ligmincha International, Bön Buddhism
47Ligmincha International, trang Mexico
48Shenten Dargye Ling, Le Bön
49Shenten Dargye Ling, Présentation de Shenten
50Tu viện Triten Norbutse, trang chính
51Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), Mandala of the Divine: The Yungdrung Bön Altar
52Raven Cypress Wood (trang Nine Ways của một hành giả Bön), The Five External Daily Offerings
53Wikipedia, Bon
54Wikipedia, Tonpa Shenrab Miwoche
55Wikipedia, Shenlha Okar
56Wikipedia, Sangpo Bumtri
57Wikipedia, Tapihritsa
58Wikipedia, Drenpa Namkha
59Wikipedia, Menri Monastery
60Wikipedia, Dolanji
61Wikipedia, Nangzhik Gompa
62Wikipedia, Mount Kailash
63Wikipedia, Bön Kangyur and Tengyur
64Wikipedia tiếng Đức, Menri
65Wikipedia tiếng Đức, Yungdrung Ling
66Wikipedia tiếng Đức, Nangshig-Kloster
67Wikipedia tiếng Đức, Bön
68Wikipedia tiếng Tây Ban Nha, Gran estupa Bön

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đạo Bön có thờ tượng không

Có. Điện thờ Bön có tượng, tranh thangka, tranh tường, thẻ vẽ tsakli, kinh sách và bảo tháp. Bộ tranh hay gặp nhất là bốn vị Thiện Thệ: Satrig Ersang, Shenlha Okar, Sangpo Bumtri và Tonpa Shenrab.

Tonpa Shenrab có phải là Phật Thích Ca không

Không. Tonpa Shenrab Miwoche là bậc khai sáng đạo Bön, theo truyền thống sinh ở Olmo Lungring. Hình Ngài trong dáng Tritsug Gyalwa giống Phật Thích Ca tới mức Bảo tàng Rubin phải dựa vào các cảnh sự tích chung quanh để phân biệt.

Làm sao phân biệt hình thờ Bön với hình thờ Phật giáo Tây Tạng

Tìm yungdrung, tức chữ vạn xoay trái, ở chỗ Phật giáo dùng chày kim cương. Tìm cây trượng yungdrung, mũ hoa sen, chữ A trước ngực Kunzang Akor và tên riêng của các vị. Nhiều hình rất giống nhau, nên bài minh và xuất xứ vẫn là căn cứ chắc nhất.

Vì sao người Bön đi nhiễu ngược chiều kim đồng hồ

Nguồn đã đọc chỉ ghi sự việc: ở núi Kailash, người Bön đi ngược chiều kim đồng hồ, còn người theo Ấn Độ giáo, Phật giáo và Kỳ Na giáo đi thuận chiều. Chiều này khớp với chiều xoay trái của yungdrung. Thư viện chưa đọc được lời giải thích của chính đạo Bön.

Trên ban thờ Bön dâng những gì

Năm phẩm cúng hằng ngày là đèn bơ, nước sạch, thức ăn, hương và hoa. Một nguồn của hành giả Bön ghi lệ thường là bảy ngọn đèn, bảy chén nước và bảy torma bằng bột lúa mạch.

Vì sao trang này không có ảnh riêng của biểu tượng yungdrung

Thư viện tả yungdrung bằng lời: một chữ vạn bốn nhánh xoay trái, dấu hiệu của sự vĩnh hằng trong đạo Bön. Biểu tượng vẫn hiện ra như một chi tiết nhỏ trên trượng, mũ và hoa sen trong các ảnh hiện vật.

›Đọc Tiếp