VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Hồi Giáo

· Không hình tượng, chỉ có hướng, chữ và ánh sáng

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
40
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Vùng
15
từ Mecca tới An Giang, Hà Nội
Nguồn
60
kinh Qur'an, hadith, bảo tàng, UNESCO, tạp chí Việt Nam, Wikipedia

Hồi giáo là đạo không đặt hình tượng ở nơi thờ phượng. Thánh đường không có tượng, không có tranh thờ, không có bàn thờ. Trang này trước hết giải thích điều đó bằng nguồn của chính đạo, rồi cho thấy những gì người Muslim đặt trước mặt khi cầu nguyện: một hướng quay về Kaaba, một hốc tường để trống, chữ kinh Qur'an, hoa văn, ánh đèn và tấm thảm. Thư viện không đăng bất cứ hình nào vẽ Thượng Đế (Allah), Thiên sứ Muhammad, các vị thiên sứ khác hay các bạn đạo của Thiên sứ. Ảnh trên trang là ảnh chụp công trình và hiện vật thật. Hình vẽ duy nhất là một sơ đồ chữ.

IVì Sao Hồi Giáo Không Đặt Hình Tượng Nơi Thờ Phượng

Bước vào một thánh đường Hồi giáo, người ta không thấy tượng, không thấy tranh chân dung, không thấy bàn thờ. Người Muslim chỉ thờ phượng một Thượng Đế duy nhất là Allah, và không tạo hình Ngài. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của Việt Nam ghi rằng giáo luật Islam nghiêm cấm việc thờ cúng di ảnh hay mẫu tượng. Bảo tàng Metropolitan giải thích gốc của thái độ này: niềm tin rằng việc tạo ra sinh linh là việc riêng của Thượng Đế.

Nguồn: Nguyễn Thế Nam, Hoạt động tôn giáo của cộng đồng người Chăm theo Islam giáo ở Việt Nam hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 8 năm 2023. Bảo tàng Metropolitan, Figural Representation in Islamic Art. About Islam, Maen Khalifa trả lời câu hỏi người Muslim có thờ Kaaba không.

Kinh Qur'an và hadith nói gì

Kinh Qur'an lên án việc thờ thần tượng. Câu 22:30 dạy hãy tránh xa sự ô uế của việc thờ tượng. Các câu 21:52 tới 58 kể chuyện Thiên sứ Ibrahim hỏi cha và dân mình vì sao lại sùng bái những pho tượng. Kinh Qur'an không có câu nào cấm hẳn việc vẽ hình. Lời cấm rõ hơn nằm trong hadith, tức các lời và việc làm của Thiên sứ Muhammad (saw) được truyền lại.

Nguồn: Quran.com, kinh Qur'an 22:30, bản dịch Mustafa Khattab. Quran.com, kinh Qur'an 21:52 tới 58. Wikipedia, Aniconism in Islam. Bảo tàng Metropolitan, Figural Representation in Islamic Art.

Bộ Sahih al-Bukhari chép lời Thiên sứ rằng những người tạo hình sẽ chịu hình phạt nặng nhất nơi Allah (số 5950). Bộ này cũng chép chuyện bà Aisha treo một tấm màn có hình, Thiên sứ gỡ xuống, rồi bà cắt tấm vải ấy làm gối tựa (số 5954). Một hadith do Muslim ghi, được trang hadith tiếng Việt HadeethEnc giảng, rút ra bài học rằng việc tạo hình sinh linh bị cấm vì là đường dẫn tới thờ đa thần.

Nguồn: Sunnah.com, Sahih al-Bukhari số 5950. Sunnah.com, Sahih al-Bukhari số 5954. HadeethEnc.com, bản tiếng Việt, hadith do Muslim ghi (số 969).
Giới học giả hiểu lời cấm rộng hẹp khác nhau

Các nguồn đã đọc đồng ý ở một điểm: lời cấm rõ nhất ở nơi thờ phượng. Thánh đường và kinh Qur'an không có hình người, hình thú. Ra ngoài phạm vi ấy thì cách hiểu khác nhau theo thời và theo vùng. Britannica ghi rằng hình tượng bị cấm tuyệt đối ở thời đầu, dưới các triều Berber ở châu Phi và triều Mamluk, còn dưới triều Abbasid cùng phần lớn các triều Shia và Thổ thì hình chỉ bị loại khỏi công trình công cộng. Từ thế kỷ 9, nhiều học giả Sunni hiểu các hadith là lời cấm mọi hình sinh linh, và các nhóm Salafi giữ cách hiểu chặt nhất. Trong khi đó tranh sách của cung đình Ba Tư, Mughal và Ottoman vẫn vẽ người, ở ngoài phạm vi thờ phượng. Thư viện ghi lại các cách hiểu này và không chọn bên nào.

Nguồn: Britannica, Aniconism. Bảo tàng Metropolitan, Figural Representation in Islamic Art. Wikipedia, Aniconism in Islam.
Trong cộng đồng Shia

Theo Wikipedia, giới Shia nhìn chung có quan điểm ít nghiêm ngặt hơn về hình ảnh. Ở Iran và Nam Á có lưu hành tranh chân dung tôn kính, nhất là hình Imam Ali, treo trong nhà hoặc mang theo người. Đại giáo sĩ Sistani ở Najaf từng ra giáo lệnh rằng việc thể hiện các bậc thánh là được phép nếu làm với lòng tôn kính cao nhất. Phần lớn học giả Sunni không chấp nhận loại tranh này. Thư viện chỉ kể lại bằng lời và không đăng bức nào.

Nguồn: Wikipedia, Aniconism in Islam.

Vì lẽ trên, trang này không đăng bất cứ hình nào vẽ Thiên sứ Muhammad, các vị thiên sứ khác, các bạn đạo của Thiên sứ hay Thượng Đế, kể cả tranh cổ đã che mặt. Trang cũng không đăng ảnh lấy khuôn mặt người đang cầu nguyện làm chủ thể.

IITrong Thánh Đường Có Những Gì

Chỗ mà đạo khác đặt tượng hay bàn thờ thì thánh đường để trống. Thứ định hướng cả gian phòng là một bức tường: tường qibla, quay về phía Kaaba ở Mecca. Smarthistory gọi đây là phần thiêng nhất và thường được trang trí kỹ nhất của thánh đường. Trên bức tường ấy có một hốc lõm gọi là mihrab, bên cạnh là bục giảng minbar.

Nguồn: Smarthistory, Introduction to mosque architecture. Britannica, Qiblah.
HướngTường qiblaBức tường quay về Kaaba ở Mecca. Mọi người đứng thành hàng, cùng quay mặt về tường này
Giữa tườngMihrabHốc lõm đánh dấu hướng cầu nguyện. Trong hốc không đặt gì
Cạnh mihrabMinbarBục có bậc thang, nơi đọc bài giảng ngày thứ Sáu
Giữa phòng, ở thánh đường lớnDikkaBục cao trên cột, nơi người xướng lặp lại lời vị imam cho hàng sau nghe
Trên caoĐèn và chữĐèn treo, các dải chữ kinh Qur'an, danh Allah và tên Thiên sứ Muhammad viết bằng thư pháp
Dưới sànThảmSàn trải thảm, người cầu nguyện đứng, cúi và quỳ lạy ngay trên thảm

Sơ đồ chữ trên chỉ gom những bộ phận hay gặp. Không phải thánh đường nào cũng có đủ, và vị trí từng thứ thay đổi theo từng nơi.

Mihrab

hốc cầu nguyệnNhận ra: Một hốc lõm hình vòm trên tường qibla, bên trong để trống

Mihrab chỉ cho người cầu nguyện biết hướng Mecca. Đây không phải bàn thờ và trong hốc không đặt vật gì. Theo Britannica, mihrab xuất hiện lần đầu dưới thời vua al-Walid I triều Umayyad (năm 705 tới 715), khi các thánh đường lớn ở Medina, Jerusalem và Damascus được xây. Mihrab thường là chỗ trang trí công phu nhất. Chiếc mihrab bằng gạch men của trường Madrasa Imami ở Isfahan, nay ở Bảo tàng Metropolitan, cao 3,43 mét, khung ngoài chạy câu kinh Qur'an, khung trong là lời Thiên sứ viết bằng chữ Kufic.

Mihrab từ trường Madrasa Imami, Isfahan, Iran, năm 1354 tới 1355. Gạch men cắt ghép, cao 3,43 mét, quanh khung là câu kinh Qur'an và lời Thiên sứ. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Metropolitan, New York.
Mihrab từ trường Madrasa Imami, Isfahan, Iran, năm 1354 tới 1355. Gạch men cắt ghép, cao 3,43 mét, quanh khung là câu kinh Qur'an và lời Thiên sứ. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Metropolitan Museum of Art, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Mihrab của Đại thánh đường Córdoba, Tây Ban Nha, thế kỷ 10: vòm móng ngựa, khảm mosaic vàng và các dải chữ Ả Rập. Công trình nay là nhà thờ chính tòa.
Mihrab của Đại thánh đường Córdoba, Tây Ban Nha, thế kỷ 10: vòm móng ngựa, khảm mosaic vàng và các dải chữ Ả Rập. Công trình nay là nhà thờ chính tòa.Ảnh: R Prazeres, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Mihrab và minbar gỗ của Đại thánh đường Kairouan, Tunisia, thế kỷ 9. Phía trên treo đèn chùm.
Mihrab và minbar gỗ của Đại thánh đường Kairouan, Tunisia, thế kỷ 9. Phía trên treo đèn chùm.Ảnh: IssamBarhoumi, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Mihrab. Smarthistory, Introduction to mosque architecture. Bảo tàng Metropolitan, Mihrab (Prayer Niche), Isfahan, số 39.20.

Minbar

bục giảngNhận ra: Một cầu thang hẹp có tay vịn, dẫn lên một chỗ ngồi nhỏ, đặt cạnh mihrab

Minbar là nơi vị imam đọc bài giảng (khutbah) trong buổi cầu nguyện tập thể ngày thứ Sáu. Britannica kể rằng lúc đầu Thiên sứ Muhammad (saw) đứng tựa vào một thân cây chà là mà giảng, về sau mới dùng một chiếc ghế gỗ có bậc. Minbar sớm nhất có ba bậc, các đời sau làm cao dần, có khi có cửa và mái che. Minbar gỗ tếch ở Kairouan, làm khoảng năm 862, được coi là chiếc cổ nhất còn giữ được. Minbar của thánh đường Kutubiyya làm tại Córdoba từ năm 1137, dài 3,46 mét, cao 3,86 mét, khảm xương và nhiều loại gỗ.

Minbar của thánh đường Kutubiyya, gỗ khảm, làm tại Córdoba từ năm 1137. Hiện vật trưng bày trong cung El Badi, Marrakesh, Maroc, không còn đặt trong thánh đường.
Minbar của thánh đường Kutubiyya, gỗ khảm, làm tại Córdoba từ năm 1137. Hiện vật trưng bày trong cung El Badi, Marrakesh, Maroc, không còn đặt trong thánh đường.Ảnh: إيان (Minor retouching by Robert Prazeres), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Mihrab ở giữa và minbar đá hoa bên phải ảnh trong thánh đường Sultan Ahmed (Thánh đường Xanh), Istanbul, năm 1609 tới 1616.
Mihrab ở giữa và minbar đá hoa bên phải ảnh trong thánh đường Sultan Ahmed (Thánh đường Xanh), Istanbul, năm 1609 tới 1616.Ảnh: R Prazeres, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Minbar. Wikipedia, Great Mosque of Kairouan. Wikipedia, Minbar of the Kutubiyya Mosque.

Dikka

Thổ Nhĩ Kỳ gọi là müezzin mahfiliNhận ra: Một bục cao đặt trên hàng cột, đứng riêng giữa phòng hoặc làm thành ban công

Dikka là bục để xướng kinh Qur'an và để người muezzin lặp lại lời vị imam, giúp những hàng ở xa mihrab nghe được. Chỉ thánh đường lớn mới có. Ảnh dưới là dikka trong thánh đường Sultan Hasan ở Cairo.

Dikka, bục cao đặt trên hàng cột, trong thánh đường Sultan Hasan, Cairo. Phía sau là tường qibla với dải chữ Kufic.
Dikka, bục cao đặt trên hàng cột, trong thánh đường Sultan Hasan, Cairo. Phía sau là tường qibla với dải chữ Kufic.Ảnh: Sailko, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Dikka. Wikipedia, Mosque-Madrasa of Sultan Hasan.

Kệ kinh Qur'an

rahle, rehalNhận ra: Hai tấm gỗ cài chéo nhau thành hình chữ X, gấp lại được

Kinh Qur'an không đặt xuống sàn mà đặt trên kệ. Kiểu kệ gấp hình chữ X đã được dùng qua nhiều thế kỷ để đỡ những cuốn Qur'an lớn khi xướng đọc, và thường được chạm chữ cùng hoa lá. Chiếc kệ trong ảnh ghi năm 1360.

Kệ gỗ chạm hình chữ X để đặt kinh Qur'an, ghi năm 761 lịch Hồi giáo, tức năm 1360. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Kệ gỗ chạm hình chữ X để đặt kinh Qur'an, ghi năm 761 lịch Hồi giáo, tức năm 1360. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Zain Hasan Sulaiman Isfahani, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Rehal (book rest).

Đèn thánh đường

Nhận ra: Bình thủy tinh thân tròn, cổ loe, treo bằng dây xích

Đèn dầu bằng thủy tinh tráng men, thếp vàng là đồ quý của các thánh đường thế kỷ 13 tới 14, làm nhiều ở Cairo, Aleppo và Damascus. Trên đèn thường viết phần đầu Câu Ánh Sáng của kinh Qur'an (24:35) cùng tên hoặc huy hiệu người dâng cúng. Người dâng thường cúng cả một bộ đèn.

Đèn thánh đường bằng thủy tinh tráng men và thếp vàng, mang tên Sultan al-Malik al-Nasir, khoảng năm 1340, thời Mamluk. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Đèn thánh đường bằng thủy tinh tráng men và thếp vàng, mang tên Sultan al-Malik al-Nasir, khoảng năm 1340, thời Mamluk. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Mihrab ốp đá hoa nhiều màu và các ngọn đèn treo trong thánh đường kiêm trường học Sultan Hasan, Cairo, Ai Cập, năm 1356 tới 1363, thời Mamluk.
Mihrab ốp đá hoa nhiều màu và các ngọn đèn treo trong thánh đường kiêm trường học Sultan Hasan, Cairo, Ai Cập, năm 1356 tới 1363, thời Mamluk.Ảnh: Djehouty, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Mosque lamp.

IIIChữ Và Hoa Văn Thay Cho Hình

Bảo tàng Metropolitan gom trang trí không dùng hình của nghệ thuật Hồi giáo vào ba loại: thư pháp, hoa lá và hình học. Cả ba cùng có mặt trên tường thánh đường, trên trang kinh, trên đèn và trên thảm.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Geometric Patterns in Islamic Art.

Thư pháp

Nhận ra: Chữ Ả Rập viết thành dải, thành ô tròn hoặc thành cả một bức

Bảo tàng Metropolitan gọi thư pháp là yếu tố được quý trọng nhất và căn bản nhất của nghệ thuật Hồi giáo, vì kinh Qur'an được truyền xuống bằng tiếng Ả Rập. Trên tường thánh đường, chữ được viết là câu kinh Qur'an, danh Allah, tên Thiên sứ Muhammad và câu tuyên xưng đức tin. Trong Hagia Sophia ở Istanbul có tám tấm tròn lớn do nhà thư pháp Kazasker Mustafa Izzet Efendi viết trong đợt trùng tu năm 1847 tới 1849, ghi danh Allah, tên Thiên sứ Muhammad, bốn vị khalip đầu tiên cùng hai người cháu ngoại của Thiên sứ là Hasan và Husayn. Người Hồi giáo Trung Hoa có lối chữ riêng gọi là Sini, viết chữ Ả Rập bằng bút lông nên nét đậm nhạt và thuôn nhọn như thư pháp chữ Hán.

Tấm tròn lớn viết danh Allah bằng chữ vàng trên nền sẫm trong Hagia Sophia, Istanbul. Một trong tám tấm treo trong đợt trùng tu năm 1847 tới 1849.
Tấm tròn lớn viết danh Allah bằng chữ vàng trên nền sẫm trong Hagia Sophia, Istanbul. Một trong tám tấm treo trong đợt trùng tu năm 1847 tới 1849.Ảnh: Adam Kliczek, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Câu tuyên xưng "không có thần linh nào ngoài Allah" viết bằng bút lông theo lối chữ Sini của người Hồi giáo Trung Hoa. Chụp tại Đại thánh đường Tây An.
Câu tuyên xưng "không có thần linh nào ngoài Allah" viết bằng bút lông theo lối chữ Sini của người Hồi giáo Trung Hoa. Chụp tại Đại thánh đường Tây An.Ảnh: Connorboyle, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Calligraphy in Islamic Art. Wikipedia, Hagia Sophia. Wikipedia, Sini (script).

Hilye

hilya, hilye-i şerifNhận ra: Một bức thư pháp có ô tròn ở giữa, bốn góc là tên bốn vị khalip

Hilye là bức thư pháp chép lời tả dung mạo và đức tính của Thiên sứ Muhammad (saw), dựa trên các hadith. Người xem đọc lời tả chứ không nhìn một bức chân dung. Kiểu bố cục thành tấm treo tường được cho là do nhà thư pháp Ottoman Hafız Osman (1642 tới 1698) định hình: phần đầu là lời chúc phúc, ô tròn giữa chứa lời tả chính, bốn góc ghi tên bốn vị khalip, bên dưới là một câu kinh Qur'an. Hilye được treo trong nhà và trong thánh đường.

Tấm hilye của Hafız Osman, năm 1691 tới 1692, mực, vàng và màu trên giấy. Toàn bộ là chữ, không có hình người. Thư viện Chester Beatty, Dublin.
Tấm hilye của Hafız Osman, năm 1691 tới 1692, mực, vàng và màu trên giấy. Toàn bộ là chữ, không có hình người. Thư viện Chester Beatty, Dublin.Ảnh: Hafız Osman, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Hilya.

Hoa văn hình học

Nhận ra: Ngôi sao và đa giác lặp lại, đan vào nhau không dứt

Các mẫu phức tạp đều dựng từ mấy hình gốc: hình tròn, hình vuông, ngôi sao và đa giác nhiều cạnh. Hình gốc vốn có từ người Hy Lạp, La Mã và Sasan, tới thế giới Hồi giáo thì được đẩy lên tới đỉnh cao. Bảo tàng Metropolitan nhận xét rằng lối lặp lại này gợi khả năng nối dài vô tận.

Hoa văn dây đan hình học với ngôi sao mười cánh, bên trong lấp hoa lá. Gạch men ở quần thể lăng Shah-i Zinda, Samarkand, Uzbekistan. Đây là lăng mộ, không phải thánh đường.
Hoa văn dây đan hình học với ngôi sao mười cánh, bên trong lấp hoa lá. Gạch men ở quần thể lăng Shah-i Zinda, Samarkand, Uzbekistan. Đây là lăng mộ, không phải thánh đường.Ảnh: User:Patrickringgenberg, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Tường trường Bou Inania, Fes, Maroc: gạch men ghép hình học (zellij) ở dưới, dải chữ Ả Rập và thạch cao chạm ở trên.
Tường trường Bou Inania, Fes, Maroc: gạch men ghép hình học (zellij) ở dưới, dải chữ Ả Rập và thạch cao chạm ở trên.Ảnh: JasmineartGallery, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Geometric Patterns in Islamic Art. Wikipedia, Shah-i-Zinda.

Hoa lá uốn lượn

arabesqueNhận ra: Dây lá và cành cuốn vào nhau, không có chim thú hay người

Britannica ghi rằng kiểu trang trí dây lá có gốc từ thợ thủ công Hy Lạp hóa ở Tiểu Á và ban đầu có cả chim. Khi thợ Muslim tiếp nhận vào khoảng năm 1000, mẫu được cách điệu cao và vì lý do tôn giáo mà bỏ hẳn chim, thú và người.

Lòng vòm thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, đầu thế kỷ 17: các ô hoa lá nhỏ dần về đỉnh vòm.
Lòng vòm thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, đầu thế kỷ 17: các ô hoa lá nhỏ dần về đỉnh vòm.Ảnh: Phillip Maiwald (Nikopol), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Arabesque. Wikipedia, Sheikh Lotfollah Mosque.

Muqarnas

Nhận ra: Nhiều hốc nhỏ xếp chồng lên nhau, trông như tổ ong hay nhũ đá

Muqarnas là những hốc nhỏ đua ra, chồng tầng tầng lên nhau, dùng ở vòm, cửa, hốc tường và ban công tháp. Theo Britannica, kiểu trang trí này lan khắp thế giới Hồi giáo từ khoảng đầu thế kỷ 12 và thịnh nhất ở thế kỷ 14 tới 15. Vòm mihrab thánh đường Tinmal ở Maroc cũng là một vòm muqarnas.

Vòm muqarnas trong cung Alhambra, Granada, Tây Ban Nha. Đây là cung điện, không phải thánh đường. Ảnh dùng để chỉ kiểu trang trí.
Vòm muqarnas trong cung Alhambra, Granada, Tây Ban Nha. Đây là cung điện, không phải thánh đường. Ảnh dùng để chỉ kiểu trang trí.Ảnh: Sharon Mollerus, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Mihrab thánh đường Tinmal, dãy Atlas, Maroc, thế kỷ 12, thời Almohad. Ảnh chụp tháng 1 năm 2022, trước trận động đất tháng 9 năm 2023 làm công trình hư hại nặng.
Mihrab thánh đường Tinmal, dãy Atlas, Maroc, thế kỷ 12, thời Almohad. Ảnh chụp tháng 1 năm 2022, trước trận động đất tháng 9 năm 2023 làm công trình hư hại nặng.Ảnh: Drugstore95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Stalactite work (muqarnas). Wikipedia, Tinmal Mosque.

IVKaaba Và Tấm Kiswah

Kaaba là ngôi đền hình khối đứng gần giữa Đại thánh đường ở Mecca. Người Muslim khắp nơi quay về phía ấy trong năm lần cầu nguyện mỗi ngày, và mong được hành hương tới đó. Hướng này gọi là qibla. Britannica ghi rằng sau khi dời về Medina năm 622, Thiên sứ Muhammad (saw) lúc đầu lấy Jerusalem làm qibla rồi đổi sang Mecca. Kinh Qur'an 2:144 dạy hãy quay mặt về Thánh đường Linh thiêng, dù đang ở bất cứ đâu.

Nguồn: Britannica, Kaaba. Britannica, Qiblah. Quran.com, kinh Qur'an 2:144, bản dịch Mustafa Khattab.
Hướng cầu nguyện, không phải vật để thờ

Người ngoài đạo đôi khi tưởng người Muslim thờ Kaaba. Các tác giả Muslim nói rõ là không. Ông Maen Khalifa viết trên trang About Islam rằng Kaaba không đại diện cho thần tính mà chỉ hợp nhất mọi người Muslim về một hướng, và rằng người hành hương đi vòng quanh Kaaba không phải để thờ nó mà để tôn vinh Allah. Smarthistory kể thêm rằng khi trở lại Mecca, Thiên sứ đã dọn sạch các thần tượng có từ trước trong và quanh ngôi đền.

Nguồn: About Islam, Maen Khalifa trả lời câu hỏi người Muslim có thờ Kaaba không. Smarthistory, The Kaaba.
Kaaba phủ tấm kiswah giữa sân Đại thánh đường Mecca. Ảnh in albumen của Muhammad Sadiq Bey, ghi năm 1297 lịch Hồi giáo, tức năm 1880. Bộ sưu tập Khalili.
Kaaba phủ tấm kiswah giữa sân Đại thánh đường Mecca. Ảnh in albumen của Muhammad Sadiq Bey, ghi năm 1297 lịch Hồi giáo, tức năm 1880. Bộ sưu tập Khalili.Ảnh: Khalili Collections, Public domain, Wikimedia Commons
Dải chữ thêu chỉ vàng trên tấm kiswah đen của Kaaba, Mecca. Ảnh chụp năm 2016, đã cắt lấy phần dải chữ.
Dải chữ thêu chỉ vàng trên tấm kiswah đen của Kaaba, Mecca. Ảnh chụp năm 2016, đã cắt lấy phần dải chữ.Ảnh: Abdullah Shakoor from Pixabay, CC0, Wikimedia Commons
Màn che cửa Kaaba, vải thêu chỉ kim loại, làm tại Ai Cập năm 1903 tới 1904. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo, Qatar.
Màn che cửa Kaaba, vải thêu chỉ kim loại, làm tại Ai Cập năm 1903 tới 1904. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo, Qatar.Ảnh: Không rõ tác giả, Ai Cập, Public domain, Wikimedia Commons

Tấm vải phủ Kaaba gọi là kiswah. Đó là gấm đen thêu chỉ vàng câu tuyên xưng đức tin cùng một dải chữ kinh Qur'an. Tục phủ vải có từ trước thời Islam. Theo báo Arab News của Ả Rập Xê Út, tấm kiswah nay được dệt tại Tổ hợp Vua Abdul Aziz ở Mecca và thay mỗi năm vào ngày 9 tháng Dhul Hijjah. Tấm vải dùng 670 kilôgam lụa tự nhiên nhuộm đen, 120 kilôgam chỉ vàng và 100 kilôgam chỉ bạc, cao 14 mét, rộng tổng cộng 658 mét vuông, gồm bốn mảnh phủ bốn mặt và một tấm màn che cửa cao 6,5 mét.

Nguồn: Britannica, Kiswah. Arab News (Ả Rập Xê Út), Kaaba's replacement cloth fitted in record time.

Bài của Britannica còn ghi rằng kiswah được làm ở Ai Cập mỗi năm rồi do người hành hương mang tới Mecca. Điều đó đúng với lịch sử, như tấm màn cửa làm tại Ai Cập năm 1903 tới 1904 trong ảnh. Nguồn Ả Rập Xê Út cho biết ngày nay kiswah được dệt ngay tại Mecca.

Bức ảnh Kaaba ở trên do Muhammad Sadiq Bey chụp năm 1880. Ông là kỹ sư quân đội Ai Cập, giữ quỹ cho đoàn hành hương, và là người đầu tiên chụp ảnh Mecca, Đại thánh đường và Kaaba.

Nguồn: Wikipedia, Muhammad Sadiq (photographer).

Medina và khu Rawdah

Ở Thánh đường của Thiên sứ tại Medina có một khoảng gọi là Rawdah, nằm giữa bục minbar và gian mộ của Thiên sứ Muhammad (saw) dưới vòm xanh. Truyền thống coi đây là một trong những khu vườn của Thiên đàng. Trước kia khu này trải thảm xanh để phân biệt với thảm đỏ ở phần còn lại. Mihrab mang tên Thiên sứ ở dạng hiện nay do sultan Qaitbay dựng năm 1484, và minbar đá hoa hiện nay do sultan Murad III cho làm năm 1590. Thư viện chỉ tả bằng lời và không đăng ảnh khu này.

Nguồn: Wikipedia, Prophet's Mosque.

VKinh Qur'an, Vật Thiêng Nhất Trong Thánh Đường

Nếu phải chỉ ra một vật được người Muslim nâng niu như đạo khác nâng niu tượng thánh, thì đó là cuốn kinh Qur'an. Người ta không thờ cuốn sách, nhưng dồn vào đó tất cả tay nghề: chữ viết, vàng, màu, bìa và kệ đỡ. Bảo tàng Metropolitan nhắc tới bộ Qur'an Xanh như ví dụ về trang kinh được tôn lên bằng nền và khung trang trí. Trang kinh không bao giờ có hình người hay thú.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Calligraphy in Islamic Art. Bảo tàng Metropolitan, Figural Representation in Islamic Art.

Qur'an Xanh

Nhận ra: Chữ Kufic bằng vàng trên nền da nhuộm xanh chàm

Bộ Qur'an này viết chữ vàng trên da nhuộm chàm, là kiểu rất hiếm. Niên đại và nơi làm còn tranh luận, các học giả đặt vào khoảng thế kỷ 8 tới 10, có thuyết cho là Ba Tư, có thuyết cho là Bắc Phi, có thuyết cho là Tây Ban Nha. Bộ kinh từng có trong kho của Đại thánh đường Kairouan vào khoảng năm 1300. Nay còn khoảng 100 trang, nằm rải ở nhiều bảo tàng.

Một trang của bộ Qur'an Xanh: chữ Kufic bằng vàng trên da nhuộm chàm. Thư viện Chester Beatty, Dublin.
Một trang của bộ Qur'an Xanh: chữ Kufic bằng vàng trên da nhuộm chàm. Thư viện Chester Beatty, Dublin.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Blue Quran.

Qur'an thời Mamluk

Nhận ra: Khổ lớn, trang mở đầu kín hoa văn hình học thếp vàng

Bộ Qur'an của Sultan Baybars chép tại Cairo năm 1304 tới 1306, do Muhammad ibn al-Wahid viết chữ và một nhóm thợ trang trí thếp vàng. Một bộ khác do quan amir Arghun Shah đặt làm ở Cairo khoảng năm 1369 tới 1372, còn kèm giấy cúng dường mang tên ông. Trang mở đầu của bộ này kín hoa văn sao và đa giác.

Hai trang chương mở đầu Al-Fatiha trong bộ Qur'an của Sultan Baybars, Cairo, năm 1304 tới 1306. Thư viện Anh, London.
Hai trang chương mở đầu Al-Fatiha trong bộ Qur'an của Sultan Baybars, Cairo, năm 1304 tới 1306. Thư viện Anh, London.Ảnh: Muhammad Ibn al-Wahid / Aydughdi ibn 'Abdallah al-Badri / Abu Bakr Sandal, Public domain, Wikimedia Commons
Chi tiết trang mở đầu một bộ Qur'an thời Mamluk, Cairo, khoảng năm 1369 tới 1372. Trang trí hình học và hoa lá, không có hình người. Thư viện Quốc gia Ai Cập.
Chi tiết trang mở đầu một bộ Qur'an thời Mamluk, Cairo, khoảng năm 1369 tới 1372. Trang trí hình học và hoa lá, không có hình người. Thư viện Quốc gia Ai Cập.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons

Một trang kinh thường ngày

Nhận ra: Chữ đen, dấu đọc màu, vòng tròn vàng đánh dấu câu

Trang kinh ở Bảo tàng Metropolitan trong ảnh viết trên giấy vào cuối thế kỷ 11 tới thế kỷ 12. Dấu nguyên âm màu đỏ, các ký hiệu khác màu vàng, xanh và đen. Vòng tròn vàng lớn ghi chữ "100 câu", đánh dấu chỗ bắt đầu câu thứ 100 của chương 6.

Một trang kinh Qur'an trên giấy, cuối thế kỷ 11 tới thế kỷ 12: chữ đen, dấu đọc màu đỏ, các vòng tròn vàng đánh dấu câu. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Một trang kinh Qur'an trên giấy, cuối thế kỷ 11 tới thế kỷ 12: chữ đen, dấu đọc màu đỏ, các vòng tròn vàng đánh dấu câu. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons

Chi tiết về trang kinh ở Bảo tàng Metropolitan và về hai bộ Qur'an thời Mamluk lấy từ lời mô tả đi kèm tệp ảnh trên Wikimedia Commons, do bảo tàng và thư viện giữ hiện vật cung cấp.

VIThảm Cầu Nguyện Và Viên Đất Turbah

Ngoài thánh đường, người Muslim cầu nguyện ở bất cứ chỗ sạch nào, thường trên một tấm thảm nhỏ. Tiếng Ả Rập gọi là sajjada, tiếng Ba Tư gọi là namazlik. Dấu riêng của thảm cầu nguyện là hình mihrab, một vòm cong hoặc nhọn ở một đầu thảm. Khi trải thảm, đầu có vòm phải quay về Mecca. Như vậy mỗi tấm thảm là một mihrab mang theo người.

Nguồn: Britannica, Prayer rug.

Thảm vùng Anatolia có vòm nhọn và bậc thang, thảm Ba Tư có vòm cong mềm. Trong vòm đôi khi dệt một ngọn đèn, nhắc tới đèn thánh đường. Lược và bình nước nhắc việc tẩy rửa trước khi cầu nguyện. Loại thảm dài nhiều ô cho cả hàng người gọi là saff.

Nguồn: Britannica, Prayer rug. Britannica, Mihrab.
Thảm cầu nguyện, Iran, cuối thế kỷ 16. Giữa thảm là hình vòm mihrab, viền quanh là các ô chữ. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Thảm cầu nguyện, Iran, cuối thế kỷ 16. Giữa thảm là hình vòm mihrab, viền quanh là các ô chữ. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Thảm cầu nguyện ba vòm, vùng Konya, Thổ Nhĩ Kỳ, cuối thế kỷ 18. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Thảm cầu nguyện ba vòm, vùng Konya, Thổ Nhĩ Kỳ, cuối thế kỷ 18. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Viên đất turbah của người Shia

Người Shia Mười Hai Imam khi quỳ lạy đặt trán lên một viên đất nung nhỏ gọi là turbah, tiếng Ba Tư gọi là mohr. Imam Ja'far al-Sadiq dạy rằng phải quỳ lạy trên đất sạch hoặc trên thứ mọc từ đất. Đất được quý nhất là đất Karbala, nơi Imam Husayn tử đạo. Nhiều người Sunni không chấp nhận tục này và coi là điều thêm vào sau. Viên đất không phải vật để thờ mà là chỗ đặt trán. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở chụp rõ một viên turbah nên chỉ tả bằng lời.

Nguồn: Wikipedia, Turbah.

VIIThánh Đường Qua Các Vùng

Cùng một bức tường qibla và một hốc mihrab, mỗi vùng dựng thánh đường bằng vật liệu và tay nghề của mình. Dưới đây là mấy nơi tiêu biểu, xếp từ Ả Rập đi ra.

Ả Rập

Mecca có Kaaba và Đại thánh đường bao quanh. Medina có Thánh đường của Thiên sứ. Đây là hai nơi mọi người Muslim hướng về, và cũng là hai nơi sớm nhất được chụp ảnh: Muhammad Sadiq Bey chụp Medina năm 1861 và Mecca năm 1880.

Kaaba phủ tấm kiswah giữa sân Đại thánh đường Mecca. Ảnh in albumen của Muhammad Sadiq Bey, ghi năm 1297 lịch Hồi giáo, tức năm 1880. Bộ sưu tập Khalili.
Kaaba phủ tấm kiswah giữa sân Đại thánh đường Mecca. Ảnh in albumen của Muhammad Sadiq Bey, ghi năm 1297 lịch Hồi giáo, tức năm 1880. Bộ sưu tập Khalili.Ảnh: Khalili Collections, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Kaaba. Wikipedia, Muhammad Sadiq (photographer). Wikipedia, Prophet's Mosque.

Tunisia

Đại thánh đường Kairouan được xây lại vào thế kỷ 9 và thành khuôn mẫu cho nhiều thánh đường vùng Maghreb. Mihrab ở dạng hiện nay có từ năm 862 tới 863, ốp 28 tấm đá hoa chạm và quanh hốc là gạch men ánh kim. Minbar gỗ tếch bên cạnh là chiếc cổ nhất còn giữ được.

Mihrab và minbar gỗ của Đại thánh đường Kairouan, Tunisia, thế kỷ 9. Phía trên treo đèn chùm.
Mihrab và minbar gỗ của Đại thánh đường Kairouan, Tunisia, thế kỷ 9. Phía trên treo đèn chùm.Ảnh: IssamBarhoumi, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Kairouan. Wikipedia, Great Mosque of Kairouan.

Ai Cập

Thánh đường kiêm trường học của Sultan Hasan ở Cairo xây năm 1356 tới 1363, thời Mamluk. Mihrab ốp đá hoa nhiều màu, minbar bằng đá với cửa đồng, và một dải chữ Kufic lớn chép chương Al-Fath chạy suốt gian qibla trên nền hoa lá. Bốn góc là bốn trường dạy bốn trường phái luật Sunni.

Mihrab ốp đá hoa nhiều màu và các ngọn đèn treo trong thánh đường kiêm trường học Sultan Hasan, Cairo, Ai Cập, năm 1356 tới 1363, thời Mamluk.
Mihrab ốp đá hoa nhiều màu và các ngọn đèn treo trong thánh đường kiêm trường học Sultan Hasan, Cairo, Ai Cập, năm 1356 tới 1363, thời Mamluk.Ảnh: Djehouty, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Dikka, bục cao đặt trên hàng cột, trong thánh đường Sultan Hasan, Cairo. Phía sau là tường qibla với dải chữ Kufic.
Dikka, bục cao đặt trên hàng cột, trong thánh đường Sultan Hasan, Cairo. Phía sau là tường qibla với dải chữ Kufic.Ảnh: Sailko, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Đèn thánh đường bằng thủy tinh tráng men và thếp vàng, mang tên Sultan al-Malik al-Nasir, khoảng năm 1340, thời Mamluk. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Đèn thánh đường bằng thủy tinh tráng men và thếp vàng, mang tên Sultan al-Malik al-Nasir, khoảng năm 1340, thời Mamluk. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Mosque-Madrasa of Sultan Hasan.

Tây Ban Nha

Đại thánh đường Córdoba khởi công khoảng năm 785 và được nới rộng suốt ba thế kỷ. Năm 1236 một nhà thờ chính tòa được đặt vào bên trong. UNESCO gọi đây là công trình tiêu biểu nhất của kiến trúc tôn giáo Hồi giáo ở phương Tây. Hốc mihrab thế kỷ 10 vẫn còn nguyên.

Mihrab của Đại thánh đường Córdoba, Tây Ban Nha, thế kỷ 10: vòm móng ngựa, khảm mosaic vàng và các dải chữ Ả Rập. Công trình nay là nhà thờ chính tòa.
Mihrab của Đại thánh đường Córdoba, Tây Ban Nha, thế kỷ 10: vòm móng ngựa, khảm mosaic vàng và các dải chữ Ả Rập. Công trình nay là nhà thờ chính tòa.Ảnh: R Prazeres, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Historic Centre of Cordoba.

Maroc

Thánh đường Tinmal trong dãy Atlas dựng giữa thế kỷ 12, thời Almohad. Mihrab có vòm muqarnas và thạch cao chạm hoa văn đan. Trận động đất tháng 9 năm 2023 làm công trình hư hại nặng và đang được phục dựng. Ở Marrakesh, minbar Kutubiyya nay trưng bày trong cung El Badi. Tường trường Bou Inania ở Fes cho thấy lối ghép gạch men zellij.

Mihrab thánh đường Tinmal, dãy Atlas, Maroc, thế kỷ 12, thời Almohad. Ảnh chụp tháng 1 năm 2022, trước trận động đất tháng 9 năm 2023 làm công trình hư hại nặng.
Mihrab thánh đường Tinmal, dãy Atlas, Maroc, thế kỷ 12, thời Almohad. Ảnh chụp tháng 1 năm 2022, trước trận động đất tháng 9 năm 2023 làm công trình hư hại nặng.Ảnh: Drugstore95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Minbar của thánh đường Kutubiyya, gỗ khảm, làm tại Córdoba từ năm 1137. Hiện vật trưng bày trong cung El Badi, Marrakesh, Maroc, không còn đặt trong thánh đường.
Minbar của thánh đường Kutubiyya, gỗ khảm, làm tại Córdoba từ năm 1137. Hiện vật trưng bày trong cung El Badi, Marrakesh, Maroc, không còn đặt trong thánh đường.Ảnh: إيان (Minor retouching by Robert Prazeres), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tường trường Bou Inania, Fes, Maroc: gạch men ghép hình học (zellij) ở dưới, dải chữ Ả Rập và thạch cao chạm ở trên.
Tường trường Bou Inania, Fes, Maroc: gạch men ghép hình học (zellij) ở dưới, dải chữ Ả Rập và thạch cao chạm ở trên.Ảnh: JasmineartGallery, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Tinmal Mosque. Wikipedia, Minbar of the Kutubiyya Mosque.

Thổ Nhĩ Kỳ

Thánh đường Ottoman dùng vòm lớn và gạch men Iznik. Thánh đường Rüstem Pasha do Mimar Sinan thiết kế có khoảng 2.300 viên gạch theo chừng 80 mẫu, phủ gần kín tường. Thánh đường Sultan Ahmed, xây năm 1609 tới 1616, có hơn 20.000 viên gạch Iznik vẽ hoa, cây và họa tiết trừu tượng, cùng một minbar đá hoa chạm.

Mihrab và tường qibla ốp gạch men Iznik trong thánh đường Rüstem Pasha, Istanbul, khoảng năm 1561 tới 1563.
Mihrab và tường qibla ốp gạch men Iznik trong thánh đường Rüstem Pasha, Istanbul, khoảng năm 1561 tới 1563.Ảnh: R Prazeres, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Mihrab ở giữa và minbar đá hoa bên phải ảnh trong thánh đường Sultan Ahmed (Thánh đường Xanh), Istanbul, năm 1609 tới 1616.
Mihrab ở giữa và minbar đá hoa bên phải ảnh trong thánh đường Sultan Ahmed (Thánh đường Xanh), Istanbul, năm 1609 tới 1616.Ảnh: R Prazeres, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tấm tròn lớn viết danh Allah bằng chữ vàng trên nền sẫm trong Hagia Sophia, Istanbul. Một trong tám tấm treo trong đợt trùng tu năm 1847 tới 1849.
Tấm tròn lớn viết danh Allah bằng chữ vàng trên nền sẫm trong Hagia Sophia, Istanbul. Một trong tám tấm treo trong đợt trùng tu năm 1847 tới 1849.Ảnh: Adam Kliczek, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Rüstem Pasha Mosque. Britannica, Blue Mosque.

Iran

Quảng trường Meidan Emam ở Isfahan do Shah Abbas I dựng đầu thế kỷ 17. Thánh đường Sheikh Lotfollah ở cạnh đông là thánh đường riêng của hoàng gia, không có tháp và không có sân. Lòng vòm là các ô hoa lá nhỏ dần về đỉnh. Mihrab ốp gạch men hoa trên nền xanh thẫm, và chữ trên tường do nhà thư pháp Ali Reza Abbasi viết.

Bên trong thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, năm 1603 tới 1619. Mihrab nằm ở vách cuối, quanh tường là gạch men và các dải chữ.
Bên trong thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, năm 1603 tới 1619. Mihrab nằm ở vách cuối, quanh tường là gạch men và các dải chữ.Ảnh: Amirpashaei, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Lòng vòm thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, đầu thế kỷ 17: các ô hoa lá nhỏ dần về đỉnh vòm.
Lòng vòm thánh đường Sheikh Lotfollah, Isfahan, Iran, đầu thế kỷ 17: các ô hoa lá nhỏ dần về đỉnh vòm.Ảnh: Phillip Maiwald (Nikopol), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Mihrab từ trường Madrasa Imami, Isfahan, Iran, năm 1354 tới 1355. Gạch men cắt ghép, cao 3,43 mét, quanh khung là câu kinh Qur'an và lời Thiên sứ. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Metropolitan, New York.
Mihrab từ trường Madrasa Imami, Isfahan, Iran, năm 1354 tới 1355. Gạch men cắt ghép, cao 3,43 mét, quanh khung là câu kinh Qur'an và lời Thiên sứ. Hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Metropolitan Museum of Art, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Meidan Emam, Esfahan. Wikipedia, Sheikh Lotfollah Mosque.

Nam Á thời Mughal

Thánh đường Wazir Khan ở Lahore xây năm 1634 tới 1641 dưới thời hoàng đế Shah Jahan. Bên ngoài ốp gạch men ghép nhiều màu, bên trong vẽ tranh tường hoa lá. Tường còn có các ô chữ Ả Rập và Ba Tư, trong đó có câu kinh Qur'an.

Trần và tường phòng cầu nguyện thánh đường Wazir Khan, Lahore, Pakistan, năm 1634 tới 1641, thời Mughal. Tranh tường hoa lá và ô chữ.
Trần và tường phòng cầu nguyện thánh đường Wazir Khan, Lahore, Pakistan, năm 1634 tới 1641, thời Mughal. Tranh tường hoa lá và ô chữ.Ảnh: Aizad Sayid, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Wazir Khan Mosque.

Trung Quốc

Đại thánh đường Tây An theo truyền thống lập năm 742, phần lớn công trình hiện nay có từ thời Minh trở đi. Thánh đường gồm năm lớp sân xếp theo trục đông tây, cửa ở phía đông, điện cầu nguyện ở phía tây là hướng Mecca. Không có vòm tròn, không có tháp kiểu Ả Rập. Chữ Ả Rập viết theo lối Sini cùng chữ Hán có khắp nơi, và kinh Qur'an được khắc lên vách điện. Thánh đường Ngưu Nhai ở Bắc Kinh cũng mang dáng ngoài Trung Hoa với thư pháp Ả Rập bên trong.

Điện cầu nguyện của Đại thánh đường Tây An, Trung Quốc: nhà gỗ mái ngói kiểu Trung Hoa, không có vòm tròn.
Điện cầu nguyện của Đại thánh đường Tây An, Trung Quốc: nhà gỗ mái ngói kiểu Trung Hoa, không có vòm tròn.Ảnh: Gaius Cornelius, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Câu tuyên xưng "không có thần linh nào ngoài Allah" viết bằng bút lông theo lối chữ Sini của người Hồi giáo Trung Hoa. Chụp tại Đại thánh đường Tây An.
Câu tuyên xưng "không có thần linh nào ngoài Allah" viết bằng bút lông theo lối chữ Sini của người Hồi giáo Trung Hoa. Chụp tại Đại thánh đường Tây An.Ảnh: Connorboyle, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bên trong thánh đường Ngưu Nhai (Niujie), Bắc Kinh: chữ Ả Rập thếp vàng trên các ô gỗ sơn kiểu Trung Hoa. Ảnh chụp năm 2002.
Bên trong thánh đường Ngưu Nhai (Niujie), Bắc Kinh: chữ Ả Rập thếp vàng trên các ô gỗ sơn kiểu Trung Hoa. Ảnh chụp năm 2002.Ảnh: Omar Ansari from The Bay Area, USA, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Great Mosque of Xi'an. Wikipedia, Sini (script). Wikipedia, Niujie Mosque.

Indonesia và Malaysia

Thánh đường cổ ở Java không có vòm tròn. Đại thánh đường Demak, thế kỷ 15, làm bằng gỗ, mái nhiều tầng đặt trên bốn cột tếch chính. Thánh đường Menara Kudus lập năm 1549 có tháp gạch theo lối Hindu Java, trong tháp treo trống lớn để gọi giờ cầu nguyện. Thánh đường Kampung Laut ở Kelantan là một trong những thánh đường cổ nhất Malaysia, cũng bằng gỗ, mái nhiều tầng.

Đại thánh đường Demak, Java, Indonesia: mái nhiều tầng kiểu Java, không có vòm tròn. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2016.
Đại thánh đường Demak, Java, Indonesia: mái nhiều tầng kiểu Java, không có vòm tròn. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2016.Ảnh: Hastosuprayogo, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tháp gạch của thánh đường Menara Kudus, Java, Indonesia, lập năm 1549. Dáng tháp theo lối kiến trúc Hindu Java có trước.
Tháp gạch của thánh đường Menara Kudus, Java, Indonesia, lập năm 1549. Dáng tháp theo lối kiến trúc Hindu Java có trước.Ảnh: PL09Puryono, CC0, Wikimedia Commons
Thánh đường Kampung Laut, Kelantan, Malaysia: nhà gỗ mái nhiều tầng theo lối bản địa.
Thánh đường Kampung Laut, Kelantan, Malaysia: nhà gỗ mái nhiều tầng theo lối bản địa.Ảnh: asrol affandi, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Demak Great Mosque. Wikipedia, Menara Kudus Mosque. Wikipedia, Kampung Laut Mosque.

Tây Phi

Djenné ở Mali là trung tâm truyền bá Islam lớn vào thế kỷ 15 tới 16. Đại thánh đường xây hoàn toàn bằng đất, dựng lại năm 1906 tới 1907, với dáng vươn cao và các trụ ốp tường đặc trưng của kiến trúc đất vùng này. Nghề xây đất được phường thợ địa phương truyền qua nhiều đời.

Đại thánh đường Djenné, Mali, xây bằng đất, dựng lại năm 1906 tới 1907. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2005.
Đại thánh đường Djenné, Mali, xây bằng đất, dựng lại năm 1906 tới 1907. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2005.Ảnh: Ruud Zwart, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Old Towns of Djenné.

VIIIThánh Đường Hồi Giáo Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phần lớn người theo Hồi giáo là người Chăm, sống từ Nam Trung Bộ tới Đông và Tây Nam Bộ. Theo tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, mỗi làng (palei) hay cộng đồng ở đô thị (jamaah) có ít nhất một thánh đường. Thánh đường chính gọi là masjid, tiểu thánh đường của từng xóm gọi là surao. Thánh đường không chỉ là nơi cầu nguyện mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.

Nguồn: Nguyễn Thế Nam, Hoạt động tôn giáo của cộng đồng người Chăm theo Islam giáo ở Việt Nam hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 8 năm 2023.

Người Chăm Islam ở An Giang

Thánh đường của người Chăm Islam ở An Giang phân bố trên 9 đơn vị hành chính cấp xã, có màu sắc và lối trang trí riêng. Thánh đường Mubarak bên bờ sông Hậu được công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 5 tháng 12 năm 1989. Báo VietnamPlus tả thánh đường có màu chủ đạo xanh và trắng, bên trong rộng với tám cột, tường trang trí họa tiết và các dòng chữ trích từ kinh, và không có tượng hay ảnh. Thánh đường Jamiul Azhar ở Châu Phong lập năm 1959, bên cạnh có nghĩa trang của cộng đồng.

Phòng cầu nguyện một thánh đường của người Chăm ở Đa Phước, An Phú, An Giang: hốc mihrab ở vách cuối, thảm trải kín sàn, không có tượng hay ảnh. Ảnh chụp năm 2011.
Phòng cầu nguyện một thánh đường của người Chăm ở Đa Phước, An Phú, An Giang: hốc mihrab ở vách cuối, thảm trải kín sàn, không có tượng hay ảnh. Ảnh chụp năm 2011.Ảnh: dalbera from Paris, France, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Thánh đường Jamiul Azhar của cộng đồng Chăm, Châu Phong, An Giang. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2009.
Thánh đường Jamiul Azhar của cộng đồng Chăm, Châu Phong, An Giang. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2009.Ảnh: Adam Jones from Kelowna, BC, Canada, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Nguyễn Trọng Nhân, Thánh đường của người Chăm Islam ở tỉnh An Giang dưới góc nhìn địa lí, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022. VietnamPlus, Đến thăm thánh đường Hồi giáo Mubarak nằm bên bờ sông Hậu. Wikipedia, Jamiul Azhar Mosque.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thánh đường Jamia Al Muslimin trên đường Đông Du xây từ ngày 21 tháng 12 năm 1934 và xong năm 1935. Người đứng ra xây là ông J. M. Mohamed Ismael, một thương nhân Muslim người Tamil từ Ấn Độ tới Sài Gòn năm 1903. Thánh đường có bốn tháp.

Thánh đường Jamia Al Muslimin, đường Đông Du, Thành phố Hồ Chí Minh, xây năm 1934 tới 1935. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2014.
Thánh đường Jamia Al Muslimin, đường Đông Du, Thành phố Hồ Chí Minh, xây năm 1934 tới 1935. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2014.Ảnh: Anilakeo, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Saigon Central Mosque.

Hà Nội

Thánh đường Al-Noor ở số 12 phố Hàng Lược do một nhóm người Ấn từ Bombay góp tiền dựng, khởi công năm 1885 và hoạt động từ năm 1890. Thánh đường đóng cửa trong những năm chiến tranh và mở lại năm 1990. Nhà quay về hướng tây là hướng Mecca. Đây là thánh đường duy nhất ở Hà Nội và miền Bắc.

Bên trong thánh đường Al-Noor, phố Hàng Lược, Hà Nội: hốc mihrab, bục minbar và mấy khung chữ trên tường trắng. Ảnh chụp năm 2017.
Bên trong thánh đường Al-Noor, phố Hàng Lược, Hà Nội: hốc mihrab, bục minbar và mấy khung chữ trên tường trắng. Ảnh chụp năm 2017.Ảnh: Richard Mortel from Riyadh, Saudi Arabia, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Al-Noor Mosque (Hanoi).

Người Chăm Bani ở Ninh Thuận và Bình Thuận

Người Chăm Bani giữ một dạng Hồi giáo đã hòa với tục thờ tổ tiên và thần làng. Nhà nghiên cứu Yasuko Yoshimoto ghi rằng mỗi làng thường có một ngôi thang magik, đóng cửa gần như quanh năm và mở vào tháng Ramawan, khi các vị acar vào ở trong đó. Thang magik không có tháp. Bên trong nổi bật là bục minbar gỗ sơn đỏ, quay về hướng tây là hướng Mecca. Bà cũng ghi trên bục có hình rồng và một cây gậy đỏ quấn vải trắng. Nhiều người Chăm Bani không tự coi mình là người Muslim. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở của bên trong thang magik.

Một thánh đường Hồi giáo ở Ninh Phước, Ninh Thuận. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2010. Trang ảnh gốc không ghi tên thánh đường.
Một thánh đường Hồi giáo ở Ninh Phước, Ninh Thuận. Ảnh chụp bên ngoài, năm 2010. Trang ảnh gốc không ghi tên thánh đường.Ảnh: Đông Sơn, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Yasuko Yoshimoto, A Study of the Hồi giáo Religion in Vietnam: With a Reference to Islamic Religious Practices of Cham Bani, Southeast Asian Studies tập 1 số 3, Đại học Kyoto.

Về cách gọi: trang Chân lý Islam của người Muslim viết tiếng Việt dùng "Allah", "Đấng Thượng Đế" và "Thiên sứ Muhammad (saw)". Chữ (saw) viết tắt lời cầu xin Allah ban bình an cho Người, đặt sau tên Thiên sứ. Trang này theo cách viết ấy ở những chỗ kể về Thiên sứ.

Nguồn: Chân lý Islam, trang tiếng Việt của người Muslim.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc nguồn qua mạng. Trang của Ban Tôn giáo Chính phủ về Hồi giáo không mở được vào lúc soạn, nên phần Việt Nam dựa vào hai bài tạp chí khoa học trong nước, một bài báo VietnamPlus, bài nghiên cứu của Yasuko Yoshimoto và Wikipedia. Thư viện cũng chưa đọc được tài liệu của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo.
·Số tín đồ Hồi giáo ở Việt Nam và số thánh đường: các nguồn đã mở không cho một con số thống nhất, nên trang không ghi.
·Chăm Bani: mô tả bên trong thang magik (bục minbar sơn đỏ, hình rồng, cây gậy đỏ quấn vải trắng) chỉ dựa vào một nguồn là bài của Yasuko Yoshimoto. Bà ghi cây gậy tượng trưng cho Thiên sứ Muhammad, thư viện chưa đối chiếu được với nguồn của chính cộng đồng Bani. Tên gọi thang magik cũng có nơi viết khác.
·Ảnh thánh đường ở Ninh Phước, Ninh Thuận: trang ảnh gốc không ghi tên thánh đường và không nói thuộc cộng đồng Chăm Islam hay Chăm Bani.
·Ảnh phòng cầu nguyện ở An Giang: người chụp ghi là thánh đường ở Đa Phước, An Phú, không ghi tên. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở của bên trong thánh đường Mubarak và thánh đường Jamia Al Muslimin.
·Thánh đường Mubarak: năm xây và các lần trùng tu chưa được nguồn đã mở ghi rõ, nên trang chỉ ghi ngày công nhận di tích.
·Kursi, chiếc ghế hoặc bục lớn để đặt và đọc kinh Qur'an trong thánh đường Mamluk: thư viện chưa mở được nguồn tả riêng vật này, nên chỉ trình bày chiếc kệ gấp hình chữ X.
·Dikka ở thánh đường Sultan Hasan: Wikipedia tả là bục để xướng kinh, nhưng ghi chất liệu và vị trí không khớp hẳn với ảnh. Trang chỉ ghi điều nhìn thấy trong ảnh.
·Tranh chân dung tôn kính trong cộng đồng Shia (nguồn đã đọc nêu hình Imam Ali, chưa thấy nguồn nêu riêng hình Imam Husayn) và giáo lệnh của Đại giáo sĩ Sistani: thư viện mới đọc qua Wikipedia, chưa đọc văn bản gốc.
·Tấm kiswah: số liệu về lụa, chỉ vàng, chỉ bạc lấy từ một bài của báo Arab News, có thể thay đổi theo từng năm. Britannica còn ghi kiswah làm ở Ai Cập, là thông tin của thời trước.
·Qur'an Xanh: niên đại và nơi làm còn tranh luận giữa các học giả. Trang ghi cả ba thuyết và không chọn thuyết nào.
·Mihrab ở Córdoba: UNESCO không tả riêng hốc mihrab. Niên đại thế kỷ 10 theo lời ghi trên các tệp ảnh ở Wikimedia Commons.
·Khu Rawdah ở Medina và các mihrab của Thánh đường của Thiên sứ: thư viện mới đọc qua Wikipedia, chưa đọc nguồn chính thức của Ả Rập Xê Út.

Bạn là người Muslim, vị imam, hakim hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp bên trong thánh đường muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Cordoba mihrab DSCF6101.jpg · R Prazeres · CC BY-SA 4.0
2Mihrab (Prayer Niche) dated 755 AH (1354-55 CE) Madrasa Imami, Isfahan (Abu Ishaq, Injuid period). Metropolitan Museum of Art.jpg · Metropolitan Museum of Art · CC BY-SA 4.0
3Détails du Mihrab 33.jpg · IssamBarhoumi · CC BY-SA 4.0
4Sultan-Hassan-Moschee 2015-11-14s.jpg · Djehouty · CC BY-SA 4.0
5Moschea del sultano hasan, 1362, interno, dikka.JPG · Sailko · CC BY 3.0
6المنبر المرابطي 21 44 29 915000 (retouched).jpg · إيان (Minor retouching by Robert Prazeres) · CC BY-SA 4.0
7Stand for a Qur'an Manuscript MET DP231243.jpg · Zain Hasan Sulaiman Isfahani · CC0
8Istanbul, Hagia Sophia, Allah.jpg · Adam Kliczek · CC BY-SA 3.0
9Šahādaḧ Calligraphy at Great Mosque of Xi'an.jpg · Connorboyle · CC BY-SA 4.0
10Hilye by Hafiz Osman, 1691-1692. Chester Beatty Library T 559.4.jpg · Hafız Osman · Public domain
11Zellij Decoration Bou Inania Madrasa Fes.jpg · JasmineartGallery · CC0
12Samarkand Shah-i Zinda Tuman Aqa complex cropped2.jpg · User:Patrickringgenberg · CC BY 3.0
13Isfahan Lotfollah mosque ceiling symmetric.jpg · Phillip Maiwald (Nikopol) · CC BY-SA 3.0
14Muqarnas Dome, Alhambra, Granada 6 30 11 -architecture -islamic -palace (25092731377).jpg · Sharon Mollerus · CC BY 2.0
15Mosque Lamp Bearing the Name of the Mamluk Sultan al-Malik al-Nasir MET DP252016.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
16Khalili Collection Hajj and Arts of Pilgrimage arc.pp 0211.04.jpg · Khalili Collections · Public domain
17Kiswah, Kaaba - 7 May 2016 (cropped-01).jpg · Abdullah Shakoor from Pixabay · CC0
18Unknown, Egypt - Ka'aba Door Curtain - Google Art Project.jpg · Không rõ tác giả, Ai Cập · Public domain
19Folio from a Qur'an Manuscript MET sf18-26-4r.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
20Folio from the Blue Qur'an (CBL Is 1405A, f. 1b).jpg · Không rõ tác giả · Public domain
21Detail of illuminated frontispiece from the Mamluk Quran (Egyptian National Library Masahif Rasid 54, f.1v detail).jpg · Không rõ tác giả · Public domain
22Double page from the Sultan Baybars Qur'an. Sura Al-Fatiha (BL Add Ms 22406, ff.2v-3r).jpg · Muhammad Ibn al-Wahid / Aydughdi ibn 'Abdallah al-Badri / Abu Bakr Sandal · Public domain
23Prayer Rug - Iran - 16th century - MET - Inventory number 17.120.124.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
24Prayer Rug with Triple Arch Design - Konya (Turkey) - 18th century - MET - Inventory number 2009.458.11.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
25Rüstem Pasha Mosque mihrab DSCF2405.jpg · R Prazeres · CC BY-SA 4.0
26Blue Mosque mihrab DSCF4884.jpg · R Prazeres · CC BY-SA 4.0
27Sheikh Lotfollah Mosque2, Isfahan, Iran.jpg · Amirpashaei · CC BY-SA 4.0
28Wazir Khan Mosque prayer hall Aizad Sayid.jpg · Aizad Sayid · CC BY-SA 4.0
29Great Mosque of Xi'an, prayer hall.JPG · Gaius Cornelius · CC BY-SA 3.0
30Flickr - Omar A. - Inside the Nuijie Mosque.jpg · Omar Ansari from The Bay Area, USA · CC BY-SA 2.0
31Djenne great mud mosque.jpg · Ruud Zwart · CC BY-SA 3.0
32The Tinmal Mosque, also known as the Grand Mosque of Tinmal, is situated in the village of Tinmel in the High Atlas Mountains of Morocco.jpg · Drugstore95 · CC BY-SA 4.0
33Masjid Agung Demak.jpg · Hastosuprayogo · CC BY-SA 4.0
34Masjid Menara Kudus.jpg · PL09Puryono · CC0
35Masjid Kampung Laut, Nilampuri, Kelantan, Malaysia.jpg · asrol affandi · CC BY 2.0
36Salle de prière de la Mosquée de la communauté cham (Chau Doc, Vietnam) (6620621645).jpg · dalbera from Paris, France · CC BY 2.0
37Mosque of Cham Community (Jamiul Azhar) - Chau Doc - Vietnam (3774712446).jpg · Adam Jones from Kelowna, BC, Canada · CC BY-SA 2.0
38Mosque in Ho Chi Minh City.jpg · Anilakeo · CC BY-SA 4.0
39Al-Noor Mosque, Hanoi, early 20th century (4) (37780538144).jpg · Richard Mortel from Riyadh, Saudi Arabia · CC BY 2.0
40Nhà thờ Hồi giáo ở Ninh Phước, Ninh Thuận.JPG · Đông Sơn · CC BY-SA 3.0

XINguồn

1Bảo tàng Metropolitan, Figural Representation in Islamic Art
2Britannica, Aniconism
3Wikipedia, Aniconism in Islam
4Quran.com, kinh Qur'an 22:30, bản dịch Mustafa Khattab
5Quran.com, kinh Qur'an 21:52 tới 58
6Quran.com, kinh Qur'an 2:144, bản dịch Mustafa Khattab
7Sunnah.com, Sahih al-Bukhari số 5950
8Sunnah.com, Sahih al-Bukhari số 5954
9HadeethEnc.com, bản tiếng Việt, hadith do Muslim ghi (số 969)
10Chân lý Islam, trang tiếng Việt của người Muslim
11Nguyễn Thế Nam, Hoạt động tôn giáo của cộng đồng người Chăm theo Islam giáo ở Việt Nam hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 8 năm 2023
12Nguyễn Trọng Nhân, Thánh đường của người Chăm Islam ở tỉnh An Giang dưới góc nhìn địa lí, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022
13Yasuko Yoshimoto, A Study of the Hồi giáo Religion in Vietnam: With a Reference to Islamic Religious Practices of Cham Bani, Southeast Asian Studies tập 1 số 3, Đại học Kyoto
14VietnamPlus, Đến thăm thánh đường Hồi giáo Mubarak nằm bên bờ sông Hậu
15Wikipedia, Saigon Central Mosque
16Wikipedia, Jamiul Azhar Mosque
17Wikipedia, Al-Noor Mosque (Hanoi)
18Smarthistory, Introduction to mosque architecture
19Britannica, Mihrab
20Britannica, Minbar
21Britannica, Qiblah
22Bảo tàng Metropolitan, Mihrab (Prayer Niche), Isfahan, số 39.20
23Wikipedia, Dikka
24Wikipedia, Rehal (book rest)
25Wikipedia, Mosque lamp
26Wikipedia, Mosque-Madrasa of Sultan Hasan
27Wikipedia, Minbar of the Kutubiyya Mosque
28Wikipedia, Great Mosque of Kairouan
29UNESCO, Kairouan
30Bảo tàng Metropolitan, Calligraphy in Islamic Art
31Bảo tàng Metropolitan, Geometric Patterns in Islamic Art
32Britannica, Arabesque
33Britannica, Stalactite work (muqarnas)
34Wikipedia, Hilya
35Wikipedia, Hagia Sophia
36Wikipedia, Sini (script)
37Wikipedia, Shah-i-Zinda
38Britannica, Kaaba
39Smarthistory, The Kaaba
40About Islam, Maen Khalifa trả lời câu hỏi người Muslim có thờ Kaaba không
41Britannica, Kiswah
42Arab News (Ả Rập Xê Út), Kaaba's replacement cloth fitted in record time
43Wikipedia, Muhammad Sadiq (photographer)
44Wikipedia, Prophet's Mosque
45Wikipedia, Blue Quran
46Britannica, Prayer rug
47Wikipedia, Turbah
48UNESCO, Historic Centre of Cordoba
49Wikipedia, Tinmal Mosque
50Wikipedia, Rüstem Pasha Mosque
51Britannica, Blue Mosque
52UNESCO, Meidan Emam, Esfahan
53Wikipedia, Sheikh Lotfollah Mosque
54Wikipedia, Wazir Khan Mosque
55Wikipedia, Great Mosque of Xi'an
56Wikipedia, Niujie Mosque
57Wikipedia, Demak Great Mosque
58Wikipedia, Menara Kudus Mosque
59Wikipedia, Kampung Laut Mosque
60UNESCO, Old Towns of Djenné

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao thánh đường Hồi giáo không có tượng hay tranh thờ

Người Muslim chỉ thờ phượng một Thượng Đế duy nhất là Allah và không tạo hình Ngài. Kinh Qur'an lên án việc thờ thần tượng, còn các hadith chép lời Thiên sứ Muhammad (saw) cảnh báo người tạo hình. Vì vậy nơi thờ phượng chỉ có hướng cầu nguyện, chữ kinh và hoa văn.

Mihrab có phải là bàn thờ không

Không. Mihrab là một hốc lõm trên bức tường quay về Mecca, cho người cầu nguyện biết hướng. Trong hốc không đặt tượng, ảnh hay lễ vật.

Người Muslim có thờ Kaaba không

Không. Kaaba là hướng mà mọi người Muslim cùng quay về khi cầu nguyện. Các tác giả Muslim viết rằng Kaaba không đại diện cho thần tính, và người hành hương đi vòng quanh là để tôn vinh Allah chứ không thờ ngôi đền.

Hồi giáo có cấm mọi hình vẽ không

Các nguồn không thống nhất. Lời cấm rõ nhất ở nơi thờ phượng và trong kinh Qur'an. Ngoài phạm vi ấy, có thời và có vùng cấm rất chặt, có thời và có vùng vẫn vẽ người trong tranh sách cung đình. Thư viện ghi các cách hiểu và không chọn bên nào.

Hilye là gì

Là một bức thư pháp chép lời tả dung mạo và đức tính của Thiên sứ Muhammad (saw), có từ thời Ottoman. Người xem đọc lời tả bằng chữ, không có hình vẽ nào.

Vì sao trang này không có hình Thiên sứ Muhammad

Vì đạo Hồi không dùng hình trong thờ phượng, và các hadith cảnh báo việc tạo hình sinh linh. Thư viện tôn trọng điều đó nên không đăng hình nào vẽ Thiên sứ, kể cả các bức tranh cổ đã che mặt.

›Đọc Tiếp