Trang này gom hình thờ của Kỳ Na giáo: người Kỳ Na đặt hình ai trước mặt khi lễ, nhận ra từng vị bằng dấu gì, tượng của hai phái khác nhau thế nào và tượng được an vị trong đền ra sao. Thư viện dùng ảnh chụp tượng và tranh thật đang ở đền hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Tên các vị giữ theo lối viết quốc tế vì tiếng Việt chưa có cách gọi thống nhất. Một số tượng của phái Digambara không có y phục, đó là hình ảnh của hạnh buông bỏ và thư viện giữ nguyên như hiện vật.
INgười Kỳ Na Đặt Hình Ai Trước Mặt Khi Lễ
Tâm điểm của việc thờ phụng trong Kỳ Na giáo là hai mươi bốn vị Jina, nghĩa là bậc Chiến Thắng. Các Ngài còn được gọi là Tirthankara, nghĩa là bậc mở lối qua sông: người đã vượt dòng sinh tử và để lại con đường cho người sau. Theo giáo lý, mỗi chu kỳ thời gian của vũ trụ có hai mươi bốn vị như vậy. Vị đầu tiên của thời này là Rishabhanatha, vị cuối cùng là Mahavira.
Nguồn: JAINpedia, Deities. Britannica, Tirthankara. JAINpedia (Viện Jainology), Jina.Các vị Jina đã giải thoát hoàn toàn nên không còn can dự vào đời. Dự án Pluralism của Đại học Harvard ghi rõ: các vị Tirthankara không nhận lễ vật theo bất cứ nghĩa nào. Người lễ dâng hoa, nước, thức ăn trước tượng để thanh lọc chính mình, để noi theo những đức tính mà vị Jina là hiện thân và hướng tâm về giải thoát. Vì thế pho tượng Jina không tả một vị thần ban ơn. Tượng tả một người đang thiền, lặng yên, không cầm gì trong tay.
Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), Temples and Images. JAINpedia, Deities.


Không phải mọi nhánh Kỳ Na đều thờ tượng. Phái Digambara và nhánh Murtipujak của phái Shvetambara thờ tượng. Hai nhánh Sthanakvasi và Terapanth của phái Shvetambara, cùng nhánh Taran Panth của phái Digambara, thì không. Phần này được nói kỹ ở mục thứ tư.
Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), Temples and Images. JAINpedia, Digambara. JAINpedia, Śvetāmbara.IICách Nhận Ra Một Pho Tượng Jina
Chỉ có hai tư thế
Tượng Jina chỉ có hai tư thế, cả hai đều là tư thế thiền. Thế thứ nhất là ngồi xếp bằng kiểu hoa sen (padmasana), hai bàn tay ngửa đặt chồng trong lòng. Thế thứ hai là đứng thẳng, hai tay buông dọc thân mà không chạm vào thân, gọi là kayotsarga, nghĩa là buông bỏ thân xác. Hai bàn tay luôn để không. Tượng Jina không có thủ ấn ban phúc, không cầm vật gì.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. JAINpedia (Viện Jainology), Jina. Wikipedia, Tirthankara. Britannica, Tirthankara.


Dấu trên thân
Trên ngực tượng thường có dấu shrivatsa, một dấu lành cho biết đây là bậc đại nhân. Bảo tàng Metropolitan ghi thêm một điểm phân biệt với tượng Phật: tượng Jina của phái Digambara hoàn toàn không có y phục, trong khi tượng Phật luôn có y. Trên các pho trong ảnh, tai tượng dài và tóc là những lọn xoắn nhỏ. Các vị Jina được tạc giống nhau về gương mặt và thân hình, nên muốn biết vị nào phải nhìn xuống bệ.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. JAINpedia (Viện Jainology), Jina. Wikipedia, Tirthankara.
Biểu tượng dưới bệ (lanchhana)
Mỗi vị Jina có một biểu tượng riêng gọi là lanchhana, thường khắc ở bệ tượng. Rishabhanatha có con bò đực, Mahavira có con sư tử. JAINpedia ghi rằng lệ này dường như chưa có trong Kỳ Na giáo thời đầu. Britannica ghi các biểu tượng riêng xuất hiện từ khoảng thế kỷ 5. Những pho tượng sớm nhất ở Mathura được nhận ra nhờ bài minh khắc trên tượng chứ không nhờ biểu tượng.
Nguồn: JAINpedia, mục từ Lāñchana. JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions.Có hai vị nhận ra được mà không cần nhìn bệ. Parshvanatha có tán rắn thần nhiều đầu che phía trên, thường là bảy đầu. Rishabhanatha có những lọn tóc dài buông xuống hai vai.
Nguồn: JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas. JAINpedia, Ṛṣabha. Wikipedia, Tirthankara. Wikipedia, Parshvanatha.Bảng lập theo bảng của JainWorld và bảng của Wikipedia. Chỗ nào hai phái hoặc hai nguồn ghi khác nhau thì ghi cả hai. Thư viện chưa tìm được bảng đầy đủ trên JAINpedia để đối chiếu. Biểu tượng của vị thứ bảy là chữ vạn, một dấu lành cổ của Ấn Độ. Thư viện chỉ tả bằng lời và không dùng ảnh có chữ vạn làm hình chính.
IIINhững Vị Tirthankara Thường Gặp
Rishabhanatha
Adinatha, vị thứ nhấtNhận ra: Lọn tóc dài buông xuống hai vai, dưới bệ có con bò đựcVị Tirthankara đầu tiên của thời này. Màu của Ngài là vàng kim. Yaksha hầu Ngài là Gomukha, yakshi là Chakreshvari. Đền Adinatha ở Ranakpur và ngôi đền chính trên núi Shatrunjaya đều thờ Ngài.


Parshvanatha
vị thứ hai mươi baNhận ra: Tán rắn thần nhiều đầu che phía trên, thường là bảy đầuHình Ngài luôn đi cùng rắn thần. Truyền thống kể rắn thần Dharanendra và nữ thần Padmavati đã che cho Ngài lúc Ngài thiền. Giới sử học thường coi Ngài là vị Tirthankara sớm nhất có thật trong lịch sử. Cần phân biệt với Suparshvanatha, vị thứ bảy, cũng có tán rắn nhưng chỉ năm đầu.



Mahavira
Vardhamana, vị thứ hai mươi bốnNhận ra: Con sư tử dưới bệVị Tirthankara cuối cùng của thời này. JAINpedia ghi màu của Ngài là vàng, yaksha là Matanga, yakshi là Siddhayika. Tượng Digambara tả Ngài không y phục, ngồi kiểu hoa sen, mắt nhắm hoặc nhìn xuống, không mũ miện, không trang sức, có dấu shrivatsa trên ngực. Hình của Shvetambara có trang sức và dấu tilaka trên trán.


Neminatha
Arishtanemi, vị thứ hai mươi haiNhận ra: Con ốc tù và dưới bệ, thường có nữ thần Ambika hầuMàu của Ngài là đen. Yakshi hầu Ngài là Ambika. Đền Luna Vasahi ở Dilwara thờ Ngài.

Shantinatha
vị thứ mười sáuNhận ra: Con hươu dưới bệỞ Khajuraho có pho tượng Shantinatha nguyên khối cao 4,6 mét, bài minh ghi năm tương ứng khoảng 971. Ở Deogarh, đền Shantinatha là ngôi đền Kỳ Na nổi tiếng nhất trong thành.

Mallinatha
vị thứ mười chínNhận ra: Bình nước (kalasha) dưới bệHai phái nói khác nhau về vị này. Phái Shvetambara tin Ngài là nữ, tên là Malli. Phái Digambara tả Ngài là nam. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở phù hợp của tượng Mallinatha.
Nguồn: Wikipedia, Mallinatha. JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị).Bốn mặt nhìn ra bốn hướng
Một kiểu tượng riêng của Kỳ Na giáo là khối thờ bốn mặt, gọi là chaumukha: bốn vị Jina, hoặc bốn hình của một vị, quay lưng vào nhau và nhìn ra bốn hướng. Kiểu này gắn với samavasarana, hội giảng pháp của vị Tirthankara: kinh sách kể rằng Ngài ngồi quay về hướng đông nhưng muôn loài ở hướng nào cũng thấy Ngài nhìn về mình. Ở Kankali Tila, Mathura, đã có tượng bốn mặt từ khoảng thế kỷ 1. Chính điện của đền Ranakpur thờ một tượng Adinatha bốn mặt bằng cẩm thạch trắng.
Nguồn: Wikipedia, Samavasarana. Wikipedia, Jain sculpture. Wikipedia, Ranakpur Jain temple.

IVTượng Của Hai Phái Và Các Nhánh Không Thờ Tượng
Kỳ Na giáo có hai phái lớn. Digambara nghĩa là lấy trời làm áo: tu sĩ nam của phái này không mặc y phục. Shvetambara nghĩa là áo trắng: tu sĩ mặc y trắng. Khác biệt ấy hiện rõ trên tượng thờ.
Nguồn: Britannica, Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.Tượng của phái Digambara
Nhận ra: Không y phục, mắt nhắm hoặc nhìn xuống, không trang sứcJAINpedia tả tượng Digambara là trần, tạc rất giản dị, mắt nhắm, không đeo trang sức, có thể có dấu trên trán và dấu shrivatsa trên ngực. Sự giản dị ấy nói lên lý tưởng buông bỏ. Khi lễ, người Digambara tắm tượng nhưng không trang hoàng tượng. Dự án Pluralism ghi rằng người Digambara chuộng tượng không điểm hoa và bột đàn hương.


Tượng của phái Shvetambara
Nhận ra: Mắt mở, có nét chỉ tấm khố, thường được tô màu và trang sứcJAINpedia tả tượng Shvetambara có mắt mở, có khố, thường được tô màu và đặt trong khám thờ chạm lộng lẫy. Vị Jina được tả với trang sức, ngồi trên ngai. Britannica ghi người Shvetambara còn trang hoàng tượng bằng y phục và đồ trang sức khi lễ. Theo Britannica, pho tượng Tirthankara sớm nhất có tạc y phần dưới thân là một pho từ Akota, Gujarat, được định vào cuối thế kỷ 5 hoặc thế kỷ 6.



Các nhánh không thờ tượng
Sthanakvasi
một nhánh của ShvetambaraNhận ra: Không tượng, không đền. Hành lễ ở nhà hội (sthanak)Britannica ghi nhánh này do Lava ở Surat lập vào thế kỷ 17, tách từ dòng Lonka trước đó, một phong trào cũng không thờ tượng. Lý do họ nêu: kinh điển Kỳ Na không nhắc tới việc thờ tượng. Nhà cải cách Lonka Shah ở thế kỷ 15 còn cho rằng việc dựng đền và dâng lễ vật gây hại cho các sinh vật nhỏ, trái với hạnh bất hại. Tín đồ làm các việc đạo ở nhà hội của tu sĩ thay vì ở đền.
Nguồn: Britannica, Sthanakavasi. Wikipedia, Murtipujaka. JAINpedia, Śvetāmbara.Terapanth của Shvetambara
tách từ SthanakvasiNhận ra: Không thờ tượng, chú trọng thiềnDo Acharya Bhikshu lập vào thế kỷ 18. Nhánh này cũng không thờ tượng. Lưu ý: trong phái Digambara cũng có một nhánh cư sĩ tên là Terapanth, và nhánh ấy có thờ tượng Jina.
Nguồn: Britannica, Sthanakavasi. JAINpedia, Śvetāmbara. JAINpedia, Digambara.Taran Panth
một nhánh của DigambaraNhận ra: Trên bệ thờ đặt kinh sách thay cho tượngDo Taran Svami lập ở vùng Bundelkhand, miền trung Ấn Độ, khoảng năm 1505. Tín đồ không thờ tượng Jina mà tôn kính kinh sách. Nơi thờ gọi là chaityalaya, trên bệ thờ đặt sách thay cho tượng. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở của một bệ thờ như vậy.
Nguồn: JAINpedia, Digambara. Wikipedia, Taran Panth.Phía Murtipujak đáp lại bằng hai lý lẽ. Một là kinh sách cổ bằng tiếng Prakrit và các bản chú giải có nhiều chỗ nhắc tới việc kính tượng. Hai là tượng giúp người tại gia tưởng nhớ đức hạnh của các vị Tirthankara. Britannica cũng ghi rằng các kinh sớm đã tả chư thiên kính lễ tượng và xá lợi của các vị Tirthankara. Thư viện ghi cả hai phía và không chọn bên nào.
Nguồn: Wikipedia, Murtipujaka. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions.VBahubali, Pho Tượng Đứng Giữa Trời
Bahubali không phải một vị Tirthankara. Ngài là con của Rishabhanatha và là em cùng cha khác mẹ của Bharata. Sau khi thắng anh trong cuộc đấu giành ngôi, Ngài bỏ hết, đứng thiền bất động suốt một năm trong thế kayotsarga. Ngài đứng yên tới mức dây leo quấn lên tay chân và tổ mối đùn quanh bàn chân. Đó cũng là cách nhận ra tượng Ngài: một người đứng thẳng, dây leo quấn quanh tay chân, có khi thêm rắn và gò mối.
Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali.Hai phái nhìn Ngài khác nhau. Người Digambara tin Bahubali là người đầu tiên đạt giải thoát trong thời này và tôn kính Ngài ngang với các vị Jina, nhất là từ thế kỷ 7 tới 8. Kinh sách Shvetambara thì ghi người giải thoát đầu tiên là bà Marudevi, mẹ của Rishabhanatha.
Nguồn: JAINpedia, Bāhubali.



Pho tượng nổi tiếng nhất đứng trên đồi ở Shravanabelagola, Karnataka, tạc từ một khối đá hoa cương vào thế kỷ 10. Britannica ghi tượng cao 57 foot, tức 17,5 mét. JAINpedia ghi gần 18 mét. Wikipedia ghi tượng hoàn thành khoảng năm 981 tới 983, do đại thần Chavundaraya của triều Ganga Tây cho tạc. Pho tượng này thành khuôn mẫu cho các tượng Bahubali ở miền nam Ấn Độ.
Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali. Wikipedia, Gommateshwara statue.Cứ mười hai năm một lần, ở đây có đại lễ Mahamastakabhisheka, nghĩa là đại lễ xối nước lên đỉnh đầu. Cả pho tượng được tắm bằng sữa, sữa đông, bơ sữa và nhiều thứ nước lễ khác từ hơn một nghìn chiếc bình, trước rất đông người hành hương. Một trang khác của Britannica ghi chu kỳ là mười hai tới mười bốn năm. Lễ gần nhất là năm 2018, lễ kế tiếp dự kiến vào năm 2030.
Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali. Wikipedia, Gommateshwara statue. Britannica, Jainism: Jainism and other religions.
Tượng Bahubali và nhiều tượng Jina đứng của phái Digambara không có y phục. Với người Kỳ Na, đó là hình ảnh của sự buông bỏ trọn vẹn, không còn giữ lại cả tấm áo.
VIYaksha, Yakshi Và Các Nữ Thần
Mỗi vị Jina có một cặp thần hầu: yaksha là nam, yakshi là nữ. Các vị được gọi chung là shasanadevata, thần hộ trì giáo pháp. JAINpedia tả các vị là người bảo vệ lời dạy của các Jina và là trung gian giữa tín đồ với các Jina. Britannica ghi mối gắn kết giữa từng vị Tirthankara với một nữ thần hộ pháp có từ khoảng thế kỷ 9. Trên tượng, các vị thường nhỏ hơn và ở phía dưới hoặc hai bên vị Jina.
Nguồn: JAINpedia, Deities. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.Các vị thần này vẫn còn trong vòng sinh tử và còn mang dục vọng, khác hẳn các vị Jina đã giải thoát. Vì các vị Jina không can dự vào đời, nhiều tín đồ tìm tới yaksha và yakshi khi cầu việc thế gian, và một số vị có tín ngưỡng riêng. Vị trí của các thần còn được bàn cãi giữa các cộng đồng Kỳ Na. Nhánh Terapanth của phái Digambara không thờ hình những vị chưa giải thoát như yaksha.
Nguồn: JAINpedia, Deities. JAINpedia, Digambara.Ambika
yakshi của NeminathaNhận ra: Một người mẹ có con nhỏ bên mình, cầm chùm xoài hoặc đứng dưới cây xoài, cưỡi sư tửBảo tàng Metropolitan coi Ambika là hiện thân của tình mẹ và sự sinh sôi. Ngoài vai trò hầu Neminatha, Ambika còn được thờ như một nữ thần riêng. Hai phái ghi tên vị yaksha đi cùng khác nhau: Digambara ghi Sarvanha, Shvetambara ghi Gomedha.


Padmavati
yakshi của ParshvanathaNhận ra: Đi cùng Parshvanatha và rắn thần DharanendraPadmavati được thờ độc lập với những lễ tắm tượng công phu. Cùng với rắn thần Dharanendra, bà gắn liền với hình tượng Parshvanatha.

Chakreshvari
yakshi của RishabhanathaNhận ra: Trên pho ở Mathura: nhiều tay, cầm bánh xeJAINpedia kể Chakreshvari trong số các nữ thần có tín ngưỡng rộng. Bà là yakshi của vị Tirthankara thứ nhất.

Sarasvati
nữ thần của tri thứcNhận ra: Cầm sách hoặc bản kinh, hoa sen và cây đàn vina, đi cùng thiên nga hoặc chim côngSarasvati được người viết sách và người học kính lễ, nhất là trong các lễ tôn vinh tri thức hằng năm. Kỳ Na giáo cũng kính nữ thần Lakshmi, vị thần của sự sung túc.

VIIBiểu Tượng, Đồ Hình Và Tranh Kinh
Ayagapata
phiến đá cúngNhận ra: Phiến đá vuông chạm biểu tượng, có khi có một vị Jina nhỏ ngồi giữaAyagapata nghĩa là phiến kính lễ. Đây là những phiến đá cúng dâng lên các vị Tirthankara, phần lớn thuộc thế kỷ 1, tìm thấy nhiều ở Kankali Tila gần Mathura. Trên phiến chạm tháp, bánh xe Pháp, tam bảo và các dấu lành, có phiến chạm hình một vị Tirthankara nhỏ. Các phiến này nay ở Bảo tàng Mathura và Bảo tàng Lucknow.

Siddhachakra
còn gọi là navapadaNhận ra: Đồ hình tròn nhiều lớpMột đồ hình thiêng của người Kỳ Na, thường khắc trên mâm kim loại hoặc vẽ thành tranh. Jain Centre Leicester có giữ kỳ lễ Navapad Oli và tả đó là thời gian bán trai giới, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Thư viện chưa đọc được nguồn chính thống tả đủ các phần của đồ hình nên chưa ghi chi tiết.

Hình bậc Siddha
Nhận ra: Một hình người chỉ là khoảng trốngBậc siddha là linh hồn đã giải thoát, không còn thân xác. Có một cách tả rất riêng: cắt hình người đứng thế kayotsarga ra khỏi tấm kim loại, để lại một khoảng trống. Người lễ nhìn thấy dáng mà không thấy thân. Bảo tàng Metropolitan cũng gọi Bahubali là một bậc siddha.

Samavasarana
hội giảng phápNhận ra: Các vòng thành đồng tâm, vị Tirthankara ngồi giữa, muôn loài vây quanhSamavasarana là giảng đường của vị Tirthankara, nơi chư thiên, người và muông thú cùng tới nghe. Đây là một đề tài quen thuộc của tranh Kỳ Na.

Tranh kinh Kalpasutra
Người Kỳ Na có truyền thống chép và vẽ kinh rất lâu đời. Bản chép trên lá cọ còn lại từ khoảng thế kỷ 10 tới 11, về sau chuyển sang giấy. Việc kính lễ kinh sách (jnanapuja) là một phần trong lễ ở đền. Kinh Kalpasutra, kể đời các vị Jina, giữ vai trò trung tâm trong mùa lễ Paryushana của người Shvetambara. Tranh minh họa tả các cảnh thụ thai, giấc mộng báo điềm, lễ tắm lúc mới sinh. Nền tranh đỏ thắm, từ thế kỷ 15 dùng nhiều vàng lá. Trung tâm làm sách là miền tây Ấn Độ, tức Gujarat và Rajasthan.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Manuscript Painting.

Biểu tượng chung của Kỳ Na giáo
Năm 1975, nhân dịp kỷ niệm 2.500 năm Mahavira nhập Niết bàn, cộng đồng Kỳ Na chọn một hình làm biểu tượng chung. Đường viền ngoài là hình vũ trụ theo kinh sách Kỳ Na. Phần dưới là một bàn tay giơ lên, trong lòng tay có bánh xe và chữ ahimsa, nghĩa là bất hại. Phía trên bàn tay là chữ vạn, chỉ bốn cõi tái sinh: trời, người, loài vật và địa ngục. Trên nữa là ba chấm chỉ chánh tín, chánh tri và chánh hạnh. Trên cùng là vầng lưỡi liềm với một chấm, chỉ nơi ở của các linh hồn đã giải thoát. Dưới chân là câu nói rằng mọi sự sống nương tựa lẫn nhau. Cộng đồng Kỳ Na ở Bắc Mỹ dùng một bản thay chữ vạn bằng chữ Om.
Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), The Jain Symbol. Wikipedia, Jain symbols.Thư viện chỉ tả biểu tượng này bằng lời. Theo lệ của Vạn Đạo Đường, trang không dùng ảnh nào lấy chữ vạn làm hình chính, dù với người Kỳ Na đây là một dấu lành cổ.
VIIINhững Pho Tượng Sớm Nhất
Britannica ghi những pho tượng Tirthankara sớm nhất được khai quật ở Mathura, thuộc những thế kỷ đầu Công nguyên. Tất cả đều không y phục và được nhận ra nhờ bài minh khắc trên tượng. Gò Kankali Tila ở Mathura được khai quật lớn vào năm 1890 tới 1891. Ở đó tìm thấy một ngôi tháp Kỳ Na, các phiến ayagapata, nhiều tượng Tirthankara và cả tượng bốn mặt. Hiện vật nay ở Bảo tàng Lucknow và Bảo tàng Mathura.
Nguồn: Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Wikipedia, Kankali Tila. Wikipedia, Jain sculpture.


Năm 1937, ở Lohanipur thuộc Patna, người ta tìm thấy một thân tượng nam bằng sa thạch mài bóng, mất đầu và tay chân. Dáng đứng thẳng, tay buông khiến nhiều học giả coi đây là một vị Tirthankara trong thế kayotsarga, và có người gọi đây là pho tượng Kỳ Na sớm nhất còn lại. Niên đại chưa ngã ngũ: lớp mài bóng kiểu Maurya cùng gạch và tiền thời Maurya tìm thấy tại chỗ gợi ý thế kỷ 3 trước Công nguyên, một số học giả khác định muộn hơn, tới thời Quý Sương. Tượng nay ở Bảo tàng Patna.
Nguồn: Wikipedia, Lohanipur torso. Wikipedia, Jain sculpture.
Về sau, tượng đồng nhỏ để thờ trong đền và tại gia được đúc rất nhiều. Bảo tàng Metropolitan nhắc tới kho tượng Akota ở Gujarat, có niên đại từ cuối thế kỷ 5 tới thế kỷ 10. Các kho tượng đồng khác được tìm thấy ở Chausa (Bihar), Vasantgarh và Hansi.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. Wikipedia, Jain sculpture.IXĐền Thờ Và Cách An Vị Tượng
Trong một ngôi đền
Đền Kỳ Na có nhiều tên gọi theo vùng: derasar ở Gujarat và Rajasthan, basadi hay basti ở Karnataka, jinalaya hay mandir ở miền bắc. Bố cục truyền thống đi từ ngoài vào trong như sơ đồ dưới đây.
Nguồn: Wikipedia, Jain temple.Sơ đồ do thư viện lập để tóm tắt, không phải mặt bằng của một ngôi đền cụ thể. Ở đền chaumukha như Ranakpur, gian thờ mở ra bốn phía và tượng chính có bốn mặt.




Một pho tượng mới chỉ được thờ sau lễ an vị (pratishtha). Một ngôi đền Kỳ Na ở Mỹ giải thích: an vị tượng trong đền là hình ảnh của việc an vị Đấng ấy trong tim mình. Trước lễ, pho tượng được coi là đá. Với nhánh Murtipujak còn có lễ anjana shalaka, khi một thứ cao quý được điểm lên mắt tượng bằng que vàng.
Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image. Natubhai Shah, Jainism: The World of Conquerors, mục Svetambara Rituals (đăng lại trên HereNow4U). Wikipedia, Jain rituals.Lễ trước tượng
Lễ trong đền gồm tụng tán, đọc thần chú Namaskara và danh hiệu các vị Tirthankara, tắm tượng và dâng lễ vật. Lễ tám phần (ashtaprakari puja) dùng tám thứ: nước, đàn hương, hoa, hương, đèn, gạo, thức ngọt và trái cây. Các nguồn xếp tám thứ này theo thứ tự khác nhau. Mỗi thứ mang một ý nghĩa tu tập, ví dụ gạo là hạt không nảy mầm lại, chỉ ước nguyện không còn tái sinh.
Nguồn: Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Pravin K. Shah, Jain Study Center of North Carolina, Ashta Prakari Puja (bản lưu trên Hinduwebsite). Wikipedia, Jain rituals.Cách lễ của Shvetambara Murtipujak
Nhận ra: Chạm vào tượng, điểm đàn hương, trang hoàng tượngTiến sĩ Natubhai Shah chia lễ thành ba chặng. Anga puja là lễ chạm vào tượng: tắm tượng, điểm bột đàn hương lên các phần thân và dâng hoa. Agra puja là lễ trước tượng: dâng hương, đèn, gạo, thức ngọt, trái cây. Bhava puja là lễ bằng tâm. Dự án Pluralism ghi chín chỗ được chạm trên thân tượng: bàn chân, đầu gối, cánh tay, vai, rốn, tim, cổ, trán và đỉnh đầu. Vào dịp lễ, tượng được trang hoàng (angi) bằng lá bạc hoặc lá vàng.

Cách lễ của Digambara
Nhận ra: Tắm tượng (abhisheka), không trang hoàng tượngNgười Digambara tắm tượng nhưng không điểm trang sức lên tượng. Trong phái này, nhóm Bisapanth dâng đủ tám thứ lễ vật gồm cả hoa và trái cây, có lễ đèn. Nhóm Terapanth không dâng những thứ được coi là còn sự sống, không làm lễ đèn và đứng khi lễ.

Những thánh tích lớn
Dilwara, núi Abu (Rajasthan)
Năm ngôi đền Shvetambara bằng cẩm thạch trắng, dựng từ thế kỷ 11 tới 16. Đền Vimal Vasahi (năm 1026 tới 1031) thờ Rishabhanatha, đền Luna Vasahi (năm 1230) thờ Neminatha. Nơi đây nổi tiếng vì trần, cột và khám thờ chạm cẩm thạch rất tinh.

Ranakpur (Rajasthan)
Đền Adinatha, theo JAINpedia khởi dựng từ thế kỷ 14, theo Wikipedia là năm 1389, nổi tiếng với hơn 1.400 cột cẩm thạch chạm. Chính điện thờ tượng Adinatha bốn mặt bằng cẩm thạch trắng nên đền còn gọi là đền Chaumukha.


Núi Shatrunjaya, Palitana (Gujarat)
Một ngọn núi phủ kín đền, nguồn ghi 863 ngôi, có nguồn đếm gần một nghìn. Ngôi đền chính thờ Rishabhanatha và là nơi thiêng nhất của nhánh Shvetambara Murtipujak. Đền sớm nhất có từ thế kỷ 11, phần lớn dựng lại vào thế kỷ 16 tới 19. Người hành hương leo khoảng 3.500 bậc đá. Không ai được ở lại qua đêm trên núi, kể cả người giữ đền.


Shravanabelagola (Karnataka)
Thánh địa của phái Digambara ở miền nam, nơi có pho tượng Bahubali nguyên khối và đại lễ tắm tượng mười hai năm một lần.

Ellora (Maharashtra)
Năm hang Kỳ Na, số 30 tới 34, được tạc từ thế kỷ 9 tới 12 bên cạnh các hang Phật giáo và Ấn giáo. UNESCO ghi các hang này thuộc phái Digambara, chạm khắc tinh tế và còn tranh tường.


Gwalior (Madhya Pradesh)
Các tượng Jina khổng lồ tạc thẳng vào vách núi quanh thành Gwalior, làm vào thế kỷ 14 tới 15 dưới triều Tomar. Tượng có cả thế ngồi và thế đứng. Năm 1527, nhiều tượng bị đục phá theo lệnh hoàng đế Babur. Về sau người Kỳ Na địa phương đắp lại đầu cho nhiều pho.

Khajuraho (Madhya Pradesh)
UNESCO ghi khoảng hai mươi ngôi đền còn lại ở Khajuraho thuộc hai tôn giáo, Ấn giáo và Kỳ Na giáo, dựng dưới triều Chandella vào thế kỷ 10 tới 11. Ba ngôi đền Kỳ Na chính là Parshvanatha, Adinatha và Shantinatha. Tu sĩ Digambara vẫn tới đây thiền và giảng.

Deogarh (Uttar Pradesh)
Ba mươi mốt ngôi đền Kỳ Na trong một thành cổ, dựng từ thế kỷ 8 tới 17, với khoảng 2.000 pho tượng và phù điêu. Đền Shantinatha có trước năm 862.

Ngoài Ấn Độ
Người Kỳ Na sống chủ yếu ở Ấn Độ. Các cộng đồng xa xứ dựng đền ở nơi mình tới. Jain Centre ở Leicester, Anh, hoạt động từ năm 1973. Trang của trung tâm nhắc tới cả sinh hoạt của người Digambara và người Sthanakvasi. Ở Antwerp, Bỉ, đền Shankheshwar Parshvanath tại Wilrijk được dựng năm 1990. Ở Mỹ, phần lớn trung tâm Kỳ Na đặt cả tượng Digambara và tượng Shvetambara trong cùng một đền. Thư viện chưa đọc được nguồn về các đền ở Nairobi và Đông Phi nên chưa ghi.


XNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là tín đồ Kỳ Na giáo, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XIẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XIINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tượng Jina khác tượng Phật ở chỗ nào
Tượng Jina chỉ có hai thế: ngồi thiền hai tay đặt trong lòng, hoặc đứng thẳng hai tay buông. Tay không kết ấn nào khác và không cầm gì. Trên ngực thường có dấu shrivatsa. Tượng của phái Digambara không có y phục, còn tượng Phật luôn có y. Dưới bệ tượng Jina thường có biểu tượng riêng của từng vị.
Làm sao biết pho tượng là vị Tirthankara nào
Nhìn xuống bệ. Bò đực là Rishabhanatha, sư tử là Mahavira, ốc tù và là Neminatha, hươu là Shantinatha. Riêng Parshvanatha nhận ra nhờ tán rắn trên đầu, Rishabhanatha nhờ lọn tóc buông xuống vai.
Vì sao có tượng Kỳ Na không mặc gì
Đó là tượng của phái Digambara. Tu sĩ nam của phái này buông bỏ mọi vật sở hữu, kể cả y phục, nên các vị Jina và Bahubali cũng được tạc như vậy. Tượng của phái Shvetambara có nét chỉ tấm khố, mắt mở và thường được trang hoàng khi lễ.
Người Kỳ Na có cầu xin các vị Jina không
Theo giáo lý, các vị Jina đã giải thoát nên không nhận lễ vật và không ban ơn. Người lễ dâng lễ để thanh lọc mình và noi theo đức hạnh của các Ngài. Việc cầu chuyện thế gian thường hướng tới các vị yaksha và yakshi, và điều này cũng không được mọi nhánh chấp nhận.
Có phải mọi người Kỳ Na đều thờ tượng
Không. Phái Digambara và nhánh Murtipujak của phái Shvetambara thờ tượng. Hai nhánh Sthanakvasi và Terapanth của Shvetambara, cùng nhánh Taran Panth của Digambara, không thờ tượng.
Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại
Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: thế đứng, lọn tóc, biểu tượng dưới bệ. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.