VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Kỳ Na Giáo

· Tượng Tirthankara và đền thờ

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
48
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Tirthankara
24
nhận ra từng vị nhờ biểu tượng dưới bệ
Nguồn
49
JAINpedia, bảo tàng, UNESCO, Britannica

Trang này gom hình thờ của Kỳ Na giáo: người Kỳ Na đặt hình ai trước mặt khi lễ, nhận ra từng vị bằng dấu gì, tượng của hai phái khác nhau thế nào và tượng được an vị trong đền ra sao. Thư viện dùng ảnh chụp tượng và tranh thật đang ở đền hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Tên các vị giữ theo lối viết quốc tế vì tiếng Việt chưa có cách gọi thống nhất. Một số tượng của phái Digambara không có y phục, đó là hình ảnh của hạnh buông bỏ và thư viện giữ nguyên như hiện vật.

INgười Kỳ Na Đặt Hình Ai Trước Mặt Khi Lễ

Tâm điểm của việc thờ phụng trong Kỳ Na giáo là hai mươi bốn vị Jina, nghĩa là bậc Chiến Thắng. Các Ngài còn được gọi là Tirthankara, nghĩa là bậc mở lối qua sông: người đã vượt dòng sinh tử và để lại con đường cho người sau. Theo giáo lý, mỗi chu kỳ thời gian của vũ trụ có hai mươi bốn vị như vậy. Vị đầu tiên của thời này là Rishabhanatha, vị cuối cùng là Mahavira.

Nguồn: JAINpedia, Deities. Britannica, Tirthankara. JAINpedia (Viện Jainology), Jina.

Các vị Jina đã giải thoát hoàn toàn nên không còn can dự vào đời. Dự án Pluralism của Đại học Harvard ghi rõ: các vị Tirthankara không nhận lễ vật theo bất cứ nghĩa nào. Người lễ dâng hoa, nước, thức ăn trước tượng để thanh lọc chính mình, để noi theo những đức tính mà vị Jina là hiện thân và hướng tâm về giải thoát. Vì thế pho tượng Jina không tả một vị thần ban ơn. Tượng tả một người đang thiền, lặng yên, không cầm gì trong tay.

Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), Temples and Images. JAINpedia, Deities.
Một vị Tirthankara ngồi thiền trên đệm tòa, cẩm thạch, Gujarat hoặc Rajasthan, nửa đầu thế kỷ 11. Trên ngực có dấu shrivatsa. Tượng của phái Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Một vị Tirthankara ngồi thiền trên đệm tòa, cẩm thạch, Gujarat hoặc Rajasthan, nửa đầu thế kỷ 11. Trên ngực có dấu shrivatsa. Tượng của phái Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Rishabhanatha ngồi giữa, quanh là 23 vị Jina còn lại: đủ hai mươi bốn vị trên một khám thờ. Đồng thau khảm bạc, Rajasthan, năm 1144. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Rishabhanatha ngồi giữa, quanh là 23 vị Jina còn lại: đủ hai mươi bốn vị trên một khám thờ. Đồng thau khảm bạc, Rajasthan, năm 1144. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Tấm thờ nhiều vị Jina xếp thành hàng quanh một vị ngồi giữa, hợp kim đồng, Rajasthan hoặc Gujarat, khoảng năm 1500. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.
Tấm thờ nhiều vị Jina xếp thành hàng quanh một vị ngồi giữa, hợp kim đồng, Rajasthan hoặc Gujarat, khoảng năm 1500. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons

Không phải mọi nhánh Kỳ Na đều thờ tượng. Phái Digambara và nhánh Murtipujak của phái Shvetambara thờ tượng. Hai nhánh Sthanakvasi và Terapanth của phái Shvetambara, cùng nhánh Taran Panth của phái Digambara, thì không. Phần này được nói kỹ ở mục thứ tư.

Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), Temples and Images. JAINpedia, Digambara. JAINpedia, Śvetāmbara.

IICách Nhận Ra Một Pho Tượng Jina

Chỉ có hai tư thế

Tượng Jina chỉ có hai tư thế, cả hai đều là tư thế thiền. Thế thứ nhất là ngồi xếp bằng kiểu hoa sen (padmasana), hai bàn tay ngửa đặt chồng trong lòng. Thế thứ hai là đứng thẳng, hai tay buông dọc thân mà không chạm vào thân, gọi là kayotsarga, nghĩa là buông bỏ thân xác. Hai bàn tay luôn để không. Tượng Jina không có thủ ấn ban phúc, không cầm vật gì.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. JAINpedia (Viện Jainology), Jina. Wikipedia, Tirthankara. Britannica, Tirthankara.
Một vị Tirthankara ngồi thiền trên đệm tòa, cẩm thạch, Gujarat hoặc Rajasthan, nửa đầu thế kỷ 11. Trên ngực có dấu shrivatsa. Tượng của phái Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Một vị Tirthankara ngồi thiền trên đệm tòa, cẩm thạch, Gujarat hoặc Rajasthan, nửa đầu thế kỷ 11. Trên ngực có dấu shrivatsa. Tượng của phái Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Jina Ajitanatha đứng thế kayotsarga, hai tay buông thẳng, quanh là các vị hầu. Cẩm thạch còn vết màu, Gujarat, năm 1062. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.
Jina Ajitanatha đứng thế kayotsarga, hai tay buông thẳng, quanh là các vị hầu. Cẩm thạch còn vết màu, Gujarat, năm 1062. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Một vị Tirthankara đứng thế kayotsarga, có thể là Munisuvrata, đá, vùng Deccan, khoảng năm 1100 tới 1300. Tượng không y phục theo lối của phái Digambara. Bảo tàng Anh, London.
Một vị Tirthankara đứng thế kayotsarga, có thể là Munisuvrata, đá, vùng Deccan, khoảng năm 1100 tới 1300. Tượng không y phục theo lối của phái Digambara. Bảo tàng Anh, London.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Dấu trên thân

Trên ngực tượng thường có dấu shrivatsa, một dấu lành cho biết đây là bậc đại nhân. Bảo tàng Metropolitan ghi thêm một điểm phân biệt với tượng Phật: tượng Jina của phái Digambara hoàn toàn không có y phục, trong khi tượng Phật luôn có y. Trên các pho trong ảnh, tai tượng dài và tóc là những lọn xoắn nhỏ. Các vị Jina được tạc giống nhau về gương mặt và thân hình, nên muốn biết vị nào phải nhìn xuống bệ.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. JAINpedia (Viện Jainology), Jina. Wikipedia, Tirthankara.
Đầu một pho tượng Jina lớn, thời Gupta, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura: tóc xoắn ốc, dái tai dài, mắt nhìn xuống. Bảo tàng Mathura.
Đầu một pho tượng Jina lớn, thời Gupta, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura: tóc xoắn ốc, dái tai dài, mắt nhìn xuống. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Biểu tượng dưới bệ (lanchhana)

Mỗi vị Jina có một biểu tượng riêng gọi là lanchhana, thường khắc ở bệ tượng. Rishabhanatha có con bò đực, Mahavira có con sư tử. JAINpedia ghi rằng lệ này dường như chưa có trong Kỳ Na giáo thời đầu. Britannica ghi các biểu tượng riêng xuất hiện từ khoảng thế kỷ 5. Những pho tượng sớm nhất ở Mathura được nhận ra nhờ bài minh khắc trên tượng chứ không nhờ biểu tượng.

Nguồn: JAINpedia, mục từ Lāñchana. JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions.

Có hai vị nhận ra được mà không cần nhìn bệ. Parshvanatha có tán rắn thần nhiều đầu che phía trên, thường là bảy đầu. Rishabhanatha có những lọn tóc dài buông xuống hai vai.

Nguồn: JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas. JAINpedia, Ṛṣabha. Wikipedia, Tirthankara. Wikipedia, Parshvanatha.
Vị TirthankaraBiểu tượngMàu thân theo truyền thống
1. Rishabhanatha (Adinatha)Bò đựcVàng kim
2. AjitanathaVoiVàng kim
3. SambhavanathaNgựaVàng kim
4. AbhinandananathaKhỉVàng kim
5. SumatinathaMột loài chim nước. JainWorld ghi chim dẽ (curlew), Wikipedia ghi hồng hạcVàng kim
6. PadmaprabhaHoa sen đỏĐỏ
7. SuparshvanathaChữ vạn. JainWorld ghi thêm tán rắnXanh lục. JainWorld ghi Shvetambara là vàng kim
8. ChandraprabhaTrăng lưỡi liềmTrắng
9. Pushpadanta (Suvidhinatha)Thủy quái makara, có nguồn ghi cá sấuTrắng
10. ShitalanathaDigambara: cây như ý. Shvetambara: dấu shrivatsaVàng kim
11. ShreyamsanathaTê giácVàng kim
12. VasupujyaTrâuĐỏ
13. VimalanathaLợn rừngVàng kim
14. AnantanathaChim cắt. Wikipedia ghi Digambara là nhímVàng kim
15. DharmanathaChày kim cương (vajra)Vàng kim
16. ShantinathaHươu (có nguồn ghi linh dương)Vàng kim
17. KunthunathaDêVàng kim
18. AranathaDigambara: cá. Shvetambara: hình nandyavartaVàng kim
19. MallinathaBình nước (kalasha)Xanh lam. JainWorld ghi Digambara là vàng kim
20. MunisuvrataRùaĐen
21. NaminathaHoa sen xanhVàng kim
22. Neminatha (Arishtanemi)Ốc tù vàĐen
23. ParshvanathaRắnJainWorld ghi xanh lam, Wikipedia ghi xanh lục
24. Mahavira (Vardhamana)Sư tửVàng kim
Nguồn: JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị). Wikipedia, Tirthankara.

Bảng lập theo bảng của JainWorld và bảng của Wikipedia. Chỗ nào hai phái hoặc hai nguồn ghi khác nhau thì ghi cả hai. Thư viện chưa tìm được bảng đầy đủ trên JAINpedia để đối chiếu. Biểu tượng của vị thứ bảy là chữ vạn, một dấu lành cổ của Ấn Độ. Thư viện chỉ tả bằng lời và không dùng ảnh có chữ vạn làm hình chính.

IIINhững Vị Tirthankara Thường Gặp

Rishabhanatha

Adinatha, vị thứ nhấtNhận ra: Lọn tóc dài buông xuống hai vai, dưới bệ có con bò đực

Vị Tirthankara đầu tiên của thời này. Màu của Ngài là vàng kim. Yaksha hầu Ngài là Gomukha, yakshi là Chakreshvari. Đền Adinatha ở Ranakpur và ngôi đền chính trên núi Shatrunjaya đều thờ Ngài.

Rishabhanatha, vị Tirthankara thứ nhất, đồng thau khảm bạc, Gujarat, thế kỷ 8. Lọn tóc buông xuống hai vai là dấu riêng của Ngài. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Rishabhanatha, vị Tirthankara thứ nhất, đồng thau khảm bạc, Gujarat, thế kỷ 8. Lọn tóc buông xuống hai vai là dấu riêng của Ngài. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Rishabhanatha ngồi thiền, sa thạch, khoảng thế kỷ 5, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Đầu tượng đã mất, lọn tóc còn trên vai. Bảo tàng Mathura.
Rishabhanatha ngồi thiền, sa thạch, khoảng thế kỷ 5, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Đầu tượng đã mất, lọn tóc còn trên vai. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Ṛṣabha. Wikipedia, Palitana temples.

Parshvanatha

vị thứ hai mươi baNhận ra: Tán rắn thần nhiều đầu che phía trên, thường là bảy đầu

Hình Ngài luôn đi cùng rắn thần. Truyền thống kể rắn thần Dharanendra và nữ thần Padmavati đã che cho Ngài lúc Ngài thiền. Giới sử học thường coi Ngài là vị Tirthankara sớm nhất có thật trong lịch sử. Cần phân biệt với Suparshvanatha, vị thứ bảy, cũng có tán rắn nhưng chỉ năm đầu.

Parshvanatha ngồi dưới tán rắn thần nhiều đầu, hai bên có vị hầu. Đồng thau, Gujarat, thế kỷ 8. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Parshvanatha ngồi dưới tán rắn thần nhiều đầu, hai bên có vị hầu. Đồng thau, Gujarat, thế kỷ 8. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Parshvanatha đứng thế kayotsarga, rắn thần che phía sau. Đá, miền trung Ấn Độ, thế kỷ 9. Bảo tàng ghi tượng làm cho tín đồ phái Digambara nên không có y phục. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Parshvanatha đứng thế kayotsarga, rắn thần che phía sau. Đá, miền trung Ấn Độ, thế kỷ 9. Bảo tàng ghi tượng làm cho tín đồ phái Digambara nên không có y phục. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Cleveland Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.
Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.Ảnh: Jeff Hart, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Parshvanatha. JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas. Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.

Mahavira

Vardhamana, vị thứ hai mươi bốnNhận ra: Con sư tử dưới bệ

Vị Tirthankara cuối cùng của thời này. JAINpedia ghi màu của Ngài là vàng, yaksha là Matanga, yakshi là Siddhayika. Tượng Digambara tả Ngài không y phục, ngồi kiểu hoa sen, mắt nhắm hoặc nhìn xuống, không mũ miện, không trang sức, có dấu shrivatsa trên ngực. Hình của Shvetambara có trang sức và dấu tilaka trên trán.

Một vị Jina ngồi thiền, hợp kim đồng, Karnataka hoặc Tamil Nadu, năm 850 tới 900. Bảo tàng ghi tên là Mahavira kèm dấu hỏi. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.
Một vị Jina ngồi thiền, hợp kim đồng, Karnataka hoặc Tamil Nadu, năm 850 tới 900. Bảo tàng ghi tên là Mahavira kèm dấu hỏi. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.Ảnh: Los Angeles County Museum of Art, Public domain, Wikimedia Commons
Tượng Jina ngồi trên tòa sư tử trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Người chụp ghi là Mahavira.
Tượng Jina ngồi trên tòa sư tử trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Người chụp ghi là Mahavira.Ảnh: Jean-Pierre Dalbéra from Paris, France, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Mahāvīra.

Neminatha

Arishtanemi, vị thứ hai mươi haiNhận ra: Con ốc tù và dưới bệ, thường có nữ thần Ambika hầu

Màu của Ngài là đen. Yakshi hầu Ngài là Ambika. Đền Luna Vasahi ở Dilwara thờ Ngài.

Neminatha ngồi giữa, phía dưới là yakshi Ambika và yaksha Gomedha. Cẩm thạch, Rajasthan hoặc Gujarat, thế kỷ 11. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.
Neminatha ngồi giữa, phía dưới là yakshi Ambika và yaksha Gomedha. Cẩm thạch, Rajasthan hoặc Gujarat, thế kỷ 11. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị). Wikipedia, Ambika (Jainism). Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Wikipedia, Dilwara Temples.

Shantinatha

vị thứ mười sáuNhận ra: Con hươu dưới bệ

Ở Khajuraho có pho tượng Shantinatha nguyên khối cao 4,6 mét, bài minh ghi năm tương ứng khoảng 971. Ở Deogarh, đền Shantinatha là ngôi đền Kỳ Na nổi tiếng nhất trong thành.

Shantinatha, vị Tirthankara thứ mười sáu, tượng đồng, có lẽ từ Rajasthan, năm 1168. Bảo tàng Victoria và Albert, London.
Shantinatha, vị Tirthankara thứ mười sáu, tượng đồng, có lẽ từ Rajasthan, năm 1168. Bảo tàng Victoria và Albert, London.Ảnh: Aiwok, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị). Wikipedia, Jain temples of Khajuraho. Wikipedia, Jain temples, Deogarh.

Mallinatha

vị thứ mười chínNhận ra: Bình nước (kalasha) dưới bệ

Hai phái nói khác nhau về vị này. Phái Shvetambara tin Ngài là nữ, tên là Malli. Phái Digambara tả Ngài là nam. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở phù hợp của tượng Mallinatha.

Nguồn: Wikipedia, Mallinatha. JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị).

Bốn mặt nhìn ra bốn hướng

Một kiểu tượng riêng của Kỳ Na giáo là khối thờ bốn mặt, gọi là chaumukha: bốn vị Jina, hoặc bốn hình của một vị, quay lưng vào nhau và nhìn ra bốn hướng. Kiểu này gắn với samavasarana, hội giảng pháp của vị Tirthankara: kinh sách kể rằng Ngài ngồi quay về hướng đông nhưng muôn loài ở hướng nào cũng thấy Ngài nhìn về mình. Ở Kankali Tila, Mathura, đã có tượng bốn mặt từ khoảng thế kỷ 1. Chính điện của đền Ranakpur thờ một tượng Adinatha bốn mặt bằng cẩm thạch trắng.

Nguồn: Wikipedia, Samavasarana. Wikipedia, Jain sculpture. Wikipedia, Ranakpur Jain temple.
Khối thờ bốn mặt (chaumukha): bốn vị Jina ngồi quay lưng vào nhau, nhìn ra bốn hướng. Sa thạch, Uttar Pradesh, khoảng năm 600. Bảo tàng ghi bốn vị là Rishabhanatha, Parshvanatha, Neminatha và Mahavira. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.
Khối thờ bốn mặt (chaumukha): bốn vị Jina ngồi quay lưng vào nhau, nhìn ra bốn hướng. Sa thạch, Uttar Pradesh, khoảng năm 600. Bảo tàng ghi bốn vị là Rishabhanatha, Parshvanatha, Neminatha và Mahavira. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.Ảnh: Los Angeles County Museum of Art, Public domain, Wikimedia Commons
Một khối chaumukha bằng đá đặt ngoài trời ở Bảo tàng Warangal, Telangana. Người chụp ghi nhận ra Mahavira nhờ hình sư tử dưới tòa.
Một khối chaumukha bằng đá đặt ngoài trời ở Bảo tàng Warangal, Telangana. Người chụp ghi nhận ra Mahavira nhờ hình sư tử dưới tòa.Ảnh: P. Madhusudan, CC0, Wikimedia Commons

IVTượng Của Hai Phái Và Các Nhánh Không Thờ Tượng

Kỳ Na giáo có hai phái lớn. Digambara nghĩa là lấy trời làm áo: tu sĩ nam của phái này không mặc y phục. Shvetambara nghĩa là áo trắng: tu sĩ mặc y trắng. Khác biệt ấy hiện rõ trên tượng thờ.

Nguồn: Britannica, Shvetambara. Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.

Tượng của phái Digambara

Nhận ra: Không y phục, mắt nhắm hoặc nhìn xuống, không trang sức

JAINpedia tả tượng Digambara là trần, tạc rất giản dị, mắt nhắm, không đeo trang sức, có thể có dấu trên trán và dấu shrivatsa trên ngực. Sự giản dị ấy nói lên lý tưởng buông bỏ. Khi lễ, người Digambara tắm tượng nhưng không trang hoàng tượng. Dự án Pluralism ghi rằng người Digambara chuộng tượng không điểm hoa và bột đàn hương.

Parshvanatha đứng thế kayotsarga, rắn thần che phía sau. Đá, miền trung Ấn Độ, thế kỷ 9. Bảo tàng ghi tượng làm cho tín đồ phái Digambara nên không có y phục. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Parshvanatha đứng thế kayotsarga, rắn thần che phía sau. Đá, miền trung Ấn Độ, thế kỷ 9. Bảo tàng ghi tượng làm cho tín đồ phái Digambara nên không có y phục. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Cleveland Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Một vị Tirthankara đứng thế kayotsarga, có thể là Munisuvrata, đá, vùng Deccan, khoảng năm 1100 tới 1300. Tượng không y phục theo lối của phái Digambara. Bảo tàng Anh, London.
Một vị Tirthankara đứng thế kayotsarga, có thể là Munisuvrata, đá, vùng Deccan, khoảng năm 1100 tới 1300. Tượng không y phục theo lối của phái Digambara. Bảo tàng Anh, London.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia (Viện Jainology), Jina. JAINpedia, Digambara. Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image.

Tượng của phái Shvetambara

Nhận ra: Mắt mở, có nét chỉ tấm khố, thường được tô màu và trang sức

JAINpedia tả tượng Shvetambara có mắt mở, có khố, thường được tô màu và đặt trong khám thờ chạm lộng lẫy. Vị Jina được tả với trang sức, ngồi trên ngai. Britannica ghi người Shvetambara còn trang hoàng tượng bằng y phục và đồ trang sức khi lễ. Theo Britannica, pho tượng Tirthankara sớm nhất có tạc y phần dưới thân là một pho từ Akota, Gujarat, được định vào cuối thế kỷ 5 hoặc thế kỷ 6.

Tượng Parshvanatha đang được thờ trong một ngôi đền phái Shvetambara Murtipujak ở Mysuru, Karnataka: mắt mở, đội mũ miện, thân có trang sức. Ảnh chụp năm 2017.
Tượng Parshvanatha đang được thờ trong một ngôi đền phái Shvetambara Murtipujak ở Mysuru, Karnataka: mắt mở, đội mũ miện, thân có trang sức. Ảnh chụp năm 2017.Ảnh: Ms Sarah Welch, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Lễ kính Jina Ajitanatha, tranh màu và vàng trên giấy, Marwar, Rajasthan, khoảng năm 1675. Vị Jina được vẽ có mũ miện và chuỗi ngọc. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.
Lễ kính Jina Ajitanatha, tranh màu và vàng trên giấy, Marwar, Rajasthan, khoảng năm 1675. Vị Jina được vẽ có mũ miện và chuỗi ngọc. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.Ảnh: Los Angeles County Museum of Art, Public domain, Wikimedia Commons
Jina Ajitanatha đứng thế kayotsarga, hai tay buông thẳng, quanh là các vị hầu. Cẩm thạch còn vết màu, Gujarat, năm 1062. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.
Jina Ajitanatha đứng thế kayotsarga, hai tay buông thẳng, quanh là các vị hầu. Cẩm thạch còn vết màu, Gujarat, năm 1062. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia (Viện Jainology), Jina. JAINpedia, Śvetāmbara. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Britannica, Shvetambara.

Các nhánh không thờ tượng

Sthanakvasi

một nhánh của ShvetambaraNhận ra: Không tượng, không đền. Hành lễ ở nhà hội (sthanak)

Britannica ghi nhánh này do Lava ở Surat lập vào thế kỷ 17, tách từ dòng Lonka trước đó, một phong trào cũng không thờ tượng. Lý do họ nêu: kinh điển Kỳ Na không nhắc tới việc thờ tượng. Nhà cải cách Lonka Shah ở thế kỷ 15 còn cho rằng việc dựng đền và dâng lễ vật gây hại cho các sinh vật nhỏ, trái với hạnh bất hại. Tín đồ làm các việc đạo ở nhà hội của tu sĩ thay vì ở đền.

Nguồn: Britannica, Sthanakavasi. Wikipedia, Murtipujaka. JAINpedia, Śvetāmbara.

Terapanth của Shvetambara

tách từ SthanakvasiNhận ra: Không thờ tượng, chú trọng thiền

Do Acharya Bhikshu lập vào thế kỷ 18. Nhánh này cũng không thờ tượng. Lưu ý: trong phái Digambara cũng có một nhánh cư sĩ tên là Terapanth, và nhánh ấy có thờ tượng Jina.

Nguồn: Britannica, Sthanakavasi. JAINpedia, Śvetāmbara. JAINpedia, Digambara.

Taran Panth

một nhánh của DigambaraNhận ra: Trên bệ thờ đặt kinh sách thay cho tượng

Do Taran Svami lập ở vùng Bundelkhand, miền trung Ấn Độ, khoảng năm 1505. Tín đồ không thờ tượng Jina mà tôn kính kinh sách. Nơi thờ gọi là chaityalaya, trên bệ thờ đặt sách thay cho tượng. Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở của một bệ thờ như vậy.

Nguồn: JAINpedia, Digambara. Wikipedia, Taran Panth.
Người bênh việc thờ tượng nói gì

Phía Murtipujak đáp lại bằng hai lý lẽ. Một là kinh sách cổ bằng tiếng Prakrit và các bản chú giải có nhiều chỗ nhắc tới việc kính tượng. Hai là tượng giúp người tại gia tưởng nhớ đức hạnh của các vị Tirthankara. Britannica cũng ghi rằng các kinh sớm đã tả chư thiên kính lễ tượng và xá lợi của các vị Tirthankara. Thư viện ghi cả hai phía và không chọn bên nào.

Nguồn: Wikipedia, Murtipujaka. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions.

VBahubali, Pho Tượng Đứng Giữa Trời

Bahubali không phải một vị Tirthankara. Ngài là con của Rishabhanatha và là em cùng cha khác mẹ của Bharata. Sau khi thắng anh trong cuộc đấu giành ngôi, Ngài bỏ hết, đứng thiền bất động suốt một năm trong thế kayotsarga. Ngài đứng yên tới mức dây leo quấn lên tay chân và tổ mối đùn quanh bàn chân. Đó cũng là cách nhận ra tượng Ngài: một người đứng thẳng, dây leo quấn quanh tay chân, có khi thêm rắn và gò mối.

Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali.

Hai phái nhìn Ngài khác nhau. Người Digambara tin Bahubali là người đầu tiên đạt giải thoát trong thời này và tôn kính Ngài ngang với các vị Jina, nhất là từ thế kỷ 7 tới 8. Kinh sách Shvetambara thì ghi người giải thoát đầu tiên là bà Marudevi, mẹ của Rishabhanatha.

Nguồn: JAINpedia, Bāhubali.
Tượng Bahubali (Gommateshvara) tạc từ một khối đá hoa cương trên đồi Vindhyagiri, Shravanabelagola, Karnataka, thế kỷ 10. Tượng đứng thế kayotsarga, không y phục theo lối Digambara, dây leo quấn quanh tay chân.
Tượng Bahubali (Gommateshvara) tạc từ một khối đá hoa cương trên đồi Vindhyagiri, Shravanabelagola, Karnataka, thế kỷ 10. Tượng đứng thế kayotsarga, không y phục theo lối Digambara, dây leo quấn quanh tay chân.Ảnh: Rohit14400, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Cận cảnh đầu tượng Bahubali ở Shravanabelagola: tóc xoắn, dái tai dài. Ảnh chụp năm 2018.
Cận cảnh đầu tượng Bahubali ở Shravanabelagola: tóc xoắn, dái tai dài. Ảnh chụp năm 2018.Ảnh: Vinayaraj, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bahubali đứng thiền, dây leo quấn quanh chân tay. Tượng đồng nhỏ, Karnataka, cuối thế kỷ 6 tới thế kỷ 7. Bảo tàng Metropolitan, New York. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.
Bahubali đứng thiền, dây leo quấn quanh chân tay. Tượng đồng nhỏ, Karnataka, cuối thế kỷ 6 tới thế kỷ 7. Bảo tàng Metropolitan, New York. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Bahubali đứng dưới lọng, dây leo quấn chân tay, phù điêu trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.
Bahubali đứng dưới lọng, dây leo quấn chân tay, phù điêu trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.Ảnh: Jean-Pierre Dalbéra from Paris, France, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Pho tượng nổi tiếng nhất đứng trên đồi ở Shravanabelagola, Karnataka, tạc từ một khối đá hoa cương vào thế kỷ 10. Britannica ghi tượng cao 57 foot, tức 17,5 mét. JAINpedia ghi gần 18 mét. Wikipedia ghi tượng hoàn thành khoảng năm 981 tới 983, do đại thần Chavundaraya của triều Ganga Tây cho tạc. Pho tượng này thành khuôn mẫu cho các tượng Bahubali ở miền nam Ấn Độ.

Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali. Wikipedia, Gommateshwara statue.

Cứ mười hai năm một lần, ở đây có đại lễ Mahamastakabhisheka, nghĩa là đại lễ xối nước lên đỉnh đầu. Cả pho tượng được tắm bằng sữa, sữa đông, bơ sữa và nhiều thứ nước lễ khác từ hơn một nghìn chiếc bình, trước rất đông người hành hương. Một trang khác của Britannica ghi chu kỳ là mười hai tới mười bốn năm. Lễ gần nhất là năm 2018, lễ kế tiếp dự kiến vào năm 2030.

Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali. Wikipedia, Gommateshwara statue. Britannica, Jainism: Jainism and other religions.
Lễ Mahamastakabhisheka (đại lễ tắm tượng từ đỉnh đầu) ở Shravanabelagola, năm 2018. Giàn giáo dựng sau tượng để dâng các thứ nước lễ từ trên cao. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.
Lễ Mahamastakabhisheka (đại lễ tắm tượng từ đỉnh đầu) ở Shravanabelagola, năm 2018. Giàn giáo dựng sau tượng để dâng các thứ nước lễ từ trên cao. Tượng không y phục, theo truyền thống Digambara.Ảnh: Florian Maier, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Tượng Bahubali và nhiều tượng Jina đứng của phái Digambara không có y phục. Với người Kỳ Na, đó là hình ảnh của sự buông bỏ trọn vẹn, không còn giữ lại cả tấm áo.

VIYaksha, Yakshi Và Các Nữ Thần

Mỗi vị Jina có một cặp thần hầu: yaksha là nam, yakshi là nữ. Các vị được gọi chung là shasanadevata, thần hộ trì giáo pháp. JAINpedia tả các vị là người bảo vệ lời dạy của các Jina và là trung gian giữa tín đồ với các Jina. Britannica ghi mối gắn kết giữa từng vị Tirthankara với một nữ thần hộ pháp có từ khoảng thế kỷ 9. Trên tượng, các vị thường nhỏ hơn và ở phía dưới hoặc hai bên vị Jina.

Nguồn: JAINpedia, Deities. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.
Thần không ngang với Jina

Các vị thần này vẫn còn trong vòng sinh tử và còn mang dục vọng, khác hẳn các vị Jina đã giải thoát. Vì các vị Jina không can dự vào đời, nhiều tín đồ tìm tới yaksha và yakshi khi cầu việc thế gian, và một số vị có tín ngưỡng riêng. Vị trí của các thần còn được bàn cãi giữa các cộng đồng Kỳ Na. Nhánh Terapanth của phái Digambara không thờ hình những vị chưa giải thoát như yaksha.

Nguồn: JAINpedia, Deities. JAINpedia, Digambara.

Ambika

yakshi của NeminathaNhận ra: Một người mẹ có con nhỏ bên mình, cầm chùm xoài hoặc đứng dưới cây xoài, cưỡi sư tử

Bảo tàng Metropolitan coi Ambika là hiện thân của tình mẹ và sự sinh sôi. Ngoài vai trò hầu Neminatha, Ambika còn được thờ như một nữ thần riêng. Hai phái ghi tên vị yaksha đi cùng khác nhau: Digambara ghi Sarvanha, Shvetambara ghi Gomedha.

Nữ thần Ambika đứng dưới cây, tay dắt con nhỏ, phía trên có một vị Jina nhỏ. Hợp kim đồng, Karnataka hoặc Andhra Pradesh, thế kỷ 10. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.
Nữ thần Ambika đứng dưới cây, tay dắt con nhỏ, phía trên có một vị Jina nhỏ. Hợp kim đồng, Karnataka hoặc Andhra Pradesh, thế kỷ 10. Bảo tàng Mỹ thuật Quận Los Angeles.Ảnh: Los Angeles County Museum of Art, Public domain, Wikimedia Commons
Neminatha ngồi giữa, phía dưới là yakshi Ambika và yaksha Gomedha. Cẩm thạch, Rajasthan hoặc Gujarat, thế kỷ 11. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.
Neminatha ngồi giữa, phía dưới là yakshi Ambika và yaksha Gomedha. Cẩm thạch, Rajasthan hoặc Gujarat, thế kỷ 11. Bảo tàng Norton Simon, Pasadena.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. Wikipedia, Ambika (Jainism). JAINpedia, Deities.

Padmavati

yakshi của ParshvanathaNhận ra: Đi cùng Parshvanatha và rắn thần Dharanendra

Padmavati được thờ độc lập với những lễ tắm tượng công phu. Cùng với rắn thần Dharanendra, bà gắn liền với hình tượng Parshvanatha.

Một nữ thần hộ trì bốn tay ngồi trên tòa, phía trên có vị Jina nhỏ. Đồng, Gujarat, khoảng thế kỷ 10. Trang ảnh trên Wikimedia Commons ghi là Padmavati. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Một nữ thần hộ trì bốn tay ngồi trên tòa, phía trên có vị Jina nhỏ. Đồng, Gujarat, khoảng thế kỷ 10. Trang ảnh trên Wikimedia Commons ghi là Padmavati. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Deities. Wikipedia, Parshvanatha.

Chakreshvari

yakshi của RishabhanathaNhận ra: Trên pho ở Mathura: nhiều tay, cầm bánh xe

JAINpedia kể Chakreshvari trong số các nữ thần có tín ngưỡng rộng. Bà là yakshi của vị Tirthankara thứ nhất.

Nữ thần Chakreshvari nhiều tay cầm bánh xe, sa thạch, khoảng thế kỷ 10, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Bảo tàng Mathura.
Nữ thần Chakreshvari nhiều tay cầm bánh xe, sa thạch, khoảng thế kỷ 10, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Deities. JAINpedia, Ṛṣabha.

Sarasvati

nữ thần của tri thứcNhận ra: Cầm sách hoặc bản kinh, hoa sen và cây đàn vina, đi cùng thiên nga hoặc chim công

Sarasvati được người viết sách và người học kính lễ, nhất là trong các lễ tôn vinh tri thức hằng năm. Kỳ Na giáo cũng kính nữ thần Lakshmi, vị thần của sự sung túc.

Sarasvati, nữ thần của tri thức, quanh là các vị Tirthankara nhỏ, chư thiên và người cúng. Cẩm thạch, Rajasthan, khoảng năm 1050 tới 1100. Bảo tàng Anh, London.
Sarasvati, nữ thần của tri thức, quanh là các vị Tirthankara nhỏ, chư thiên và người cúng. Cẩm thạch, Rajasthan, khoảng năm 1050 tới 1100. Bảo tàng Anh, London.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Deities.

VIIBiểu Tượng, Đồ Hình Và Tranh Kinh

Ayagapata

phiến đá cúngNhận ra: Phiến đá vuông chạm biểu tượng, có khi có một vị Jina nhỏ ngồi giữa

Ayagapata nghĩa là phiến kính lễ. Đây là những phiến đá cúng dâng lên các vị Tirthankara, phần lớn thuộc thế kỷ 1, tìm thấy nhiều ở Kankali Tila gần Mathura. Trên phiến chạm tháp, bánh xe Pháp, tam bảo và các dấu lành, có phiến chạm hình một vị Tirthankara nhỏ. Các phiến này nay ở Bảo tàng Mathura và Bảo tàng Lucknow.

Một phiến đá cúng ayagapata từ Kankali Tila, Mathura, khoảng năm 25 tới 50. Giữa phiến là một vị Jina ngồi thiền, quanh là các biểu tượng lành.
Một phiến đá cúng ayagapata từ Kankali Tila, Mathura, khoảng năm 25 tới 50. Giữa phiến là một vị Jina ngồi thiền, quanh là các biểu tượng lành.Ảnh: Nomu420, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Ayagapata. Wikipedia, Kankali Tila.

Siddhachakra

còn gọi là navapadaNhận ra: Đồ hình tròn nhiều lớp

Một đồ hình thiêng của người Kỳ Na, thường khắc trên mâm kim loại hoặc vẽ thành tranh. Jain Centre Leicester có giữ kỳ lễ Navapad Oli và tả đó là thời gian bán trai giới, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Thư viện chưa đọc được nguồn chính thống tả đủ các phần của đồ hình nên chưa ghi chi tiết.

Một mâm siddhachakra bằng kim loại, khắc đồ hình tròn nhiều lớp.
Một mâm siddhachakra bằng kim loại, khắc đồ hình tròn nhiều lớp.Ảnh: User:Nizil Shah, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jain Centre Leicester, trang chính thức.

Hình bậc Siddha

Nhận ra: Một hình người chỉ là khoảng trống

Bậc siddha là linh hồn đã giải thoát, không còn thân xác. Có một cách tả rất riêng: cắt hình người đứng thế kayotsarga ra khỏi tấm kim loại, để lại một khoảng trống. Người lễ nhìn thấy dáng mà không thấy thân. Bảo tàng Metropolitan cũng gọi Bahubali là một bậc siddha.

Khám thờ bậc siddha (bậc đã giải thoát): hình người chỉ là một khoảng trống cắt trên tấm đồng. Miền tây Ấn Độ, năm 1333. Phòng trưng bày Freer, Washington.
Khám thờ bậc siddha (bậc đã giải thoát): hình người chỉ là một khoảng trống cắt trên tấm đồng. Miền tây Ấn Độ, năm 1333. Phòng trưng bày Freer, Washington.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture.

Samavasarana

hội giảng phápNhận ra: Các vòng thành đồng tâm, vị Tirthankara ngồi giữa, muôn loài vây quanh

Samavasarana là giảng đường của vị Tirthankara, nơi chư thiên, người và muông thú cùng tới nghe. Đây là một đề tài quen thuộc của tranh Kỳ Na.

Samavasarana, hội giảng pháp của một vị Tirthankara: các vòng thành đồng tâm, muôn loài cùng tới nghe. Tranh Rajasthan, khoảng năm 1800.
Samavasarana, hội giảng pháp của một vị Tirthankara: các vòng thành đồng tâm, muôn loài cùng tới nghe. Tranh Rajasthan, khoảng năm 1800.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Samavasarana.

Tranh kinh Kalpasutra

Người Kỳ Na có truyền thống chép và vẽ kinh rất lâu đời. Bản chép trên lá cọ còn lại từ khoảng thế kỷ 10 tới 11, về sau chuyển sang giấy. Việc kính lễ kinh sách (jnanapuja) là một phần trong lễ ở đền. Kinh Kalpasutra, kể đời các vị Jina, giữ vai trò trung tâm trong mùa lễ Paryushana của người Shvetambara. Tranh minh họa tả các cảnh thụ thai, giấc mộng báo điềm, lễ tắm lúc mới sinh. Nền tranh đỏ thắm, từ thế kỷ 15 dùng nhiều vàng lá. Trung tâm làm sách là miền tây Ấn Độ, tức Gujarat và Rajasthan.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Manuscript Painting.
Lễ tắm cho Mahavira lúc mới sinh, một trang kinh Kalpasutra, cuối thế kỷ 14. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Lễ tắm cho Mahavira lúc mới sinh, một trang kinh Kalpasutra, cuối thế kỷ 14. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Mahavira nhập Niết bàn, phía dưới là vầng lưỡi liềm chỉ cõi của các bậc giải thoát (siddhashila). Trang 53 của một bản Kalpasutra, Patan, Gujarat, khoảng năm 1472.
Mahavira nhập Niết bàn, phía dưới là vầng lưỡi liềm chỉ cõi của các bậc giải thoát (siddhashila). Trang 53 của một bản Kalpasutra, Patan, Gujarat, khoảng năm 1472.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons

Biểu tượng chung của Kỳ Na giáo

Năm 1975, nhân dịp kỷ niệm 2.500 năm Mahavira nhập Niết bàn, cộng đồng Kỳ Na chọn một hình làm biểu tượng chung. Đường viền ngoài là hình vũ trụ theo kinh sách Kỳ Na. Phần dưới là một bàn tay giơ lên, trong lòng tay có bánh xe và chữ ahimsa, nghĩa là bất hại. Phía trên bàn tay là chữ vạn, chỉ bốn cõi tái sinh: trời, người, loài vật và địa ngục. Trên nữa là ba chấm chỉ chánh tín, chánh tri và chánh hạnh. Trên cùng là vầng lưỡi liềm với một chấm, chỉ nơi ở của các linh hồn đã giải thoát. Dưới chân là câu nói rằng mọi sự sống nương tựa lẫn nhau. Cộng đồng Kỳ Na ở Bắc Mỹ dùng một bản thay chữ vạn bằng chữ Om.

Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), The Jain Symbol. Wikipedia, Jain symbols.

Thư viện chỉ tả biểu tượng này bằng lời. Theo lệ của Vạn Đạo Đường, trang không dùng ảnh nào lấy chữ vạn làm hình chính, dù với người Kỳ Na đây là một dấu lành cổ.

VIIINhững Pho Tượng Sớm Nhất

Britannica ghi những pho tượng Tirthankara sớm nhất được khai quật ở Mathura, thuộc những thế kỷ đầu Công nguyên. Tất cả đều không y phục và được nhận ra nhờ bài minh khắc trên tượng. Gò Kankali Tila ở Mathura được khai quật lớn vào năm 1890 tới 1891. Ở đó tìm thấy một ngôi tháp Kỳ Na, các phiến ayagapata, nhiều tượng Tirthankara và cả tượng bốn mặt. Hiện vật nay ở Bảo tàng Lucknow và Bảo tàng Mathura.

Nguồn: Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Wikipedia, Kankali Tila. Wikipedia, Jain sculpture.
Rishabhanatha ngồi thiền, sa thạch, khoảng thế kỷ 5, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Đầu tượng đã mất, lọn tóc còn trên vai. Bảo tàng Mathura.
Rishabhanatha ngồi thiền, sa thạch, khoảng thế kỷ 5, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura. Đầu tượng đã mất, lọn tóc còn trên vai. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Đầu một pho tượng Jina lớn, thời Gupta, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura: tóc xoắn ốc, dái tai dài, mắt nhìn xuống. Bảo tàng Mathura.
Đầu một pho tượng Jina lớn, thời Gupta, tìm thấy ở gò Kankali, Mathura: tóc xoắn ốc, dái tai dài, mắt nhìn xuống. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Một phiến đá cúng ayagapata từ Kankali Tila, Mathura, khoảng năm 25 tới 50. Giữa phiến là một vị Jina ngồi thiền, quanh là các biểu tượng lành.
Một phiến đá cúng ayagapata từ Kankali Tila, Mathura, khoảng năm 25 tới 50. Giữa phiến là một vị Jina ngồi thiền, quanh là các biểu tượng lành.Ảnh: Nomu420, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Thân tượng Lohanipur: còn tranh luận

Năm 1937, ở Lohanipur thuộc Patna, người ta tìm thấy một thân tượng nam bằng sa thạch mài bóng, mất đầu và tay chân. Dáng đứng thẳng, tay buông khiến nhiều học giả coi đây là một vị Tirthankara trong thế kayotsarga, và có người gọi đây là pho tượng Kỳ Na sớm nhất còn lại. Niên đại chưa ngã ngũ: lớp mài bóng kiểu Maurya cùng gạch và tiền thời Maurya tìm thấy tại chỗ gợi ý thế kỷ 3 trước Công nguyên, một số học giả khác định muộn hơn, tới thời Quý Sương. Tượng nay ở Bảo tàng Patna.

Nguồn: Wikipedia, Lohanipur torso. Wikipedia, Jain sculpture.
Một vị Tirthankara ngồi thiền, tượng đồng từ Akota, Gujarat, thế kỷ 7. Bảo tàng Mỹ thuật Honolulu.
Một vị Tirthankara ngồi thiền, tượng đồng từ Akota, Gujarat, thế kỷ 7. Bảo tàng Mỹ thuật Honolulu.Ảnh: Hiart, CC0, Wikimedia Commons

Về sau, tượng đồng nhỏ để thờ trong đền và tại gia được đúc rất nhiều. Bảo tàng Metropolitan nhắc tới kho tượng Akota ở Gujarat, có niên đại từ cuối thế kỷ 5 tới thế kỷ 10. Các kho tượng đồng khác được tìm thấy ở Chausa (Bihar), Vasantgarh và Hansi.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture. Wikipedia, Jain sculpture.

IXĐền Thờ Và Cách An Vị Tượng

Trong một ngôi đền

Đền Kỳ Na có nhiều tên gọi theo vùng: derasar ở Gujarat và Rajasthan, basadi hay basti ở Karnataka, jinalaya hay mandir ở miền bắc. Bố cục truyền thống đi từ ngoài vào trong như sơ đồ dưới đây.

Nguồn: Wikipedia, Jain temple.
Trước đềnManastambhaCột đá cao dựng trước nhiều ngôi đền, mang bốn hình tạc bằng đá nhìn ra bốn hướng
Phía ngoàiCác sảnh hộiNơi tín đồ ngồi tụng niệm, nghe giảng và dâng lễ trước tượng
Trong cùngGarbhagrihaGian thờ nhỏ, phía trên là ngọn tháp. Ở đây đặt pho tượng chính, gọi là mulnayak
Quanh gian thờCác khám phụTượng những vị Tirthankara khác, có khi đủ hai mươi bốn vị, cùng yaksha và yakshi

Sơ đồ do thư viện lập để tóm tắt, không phải mặt bằng của một ngôi đền cụ thể. Ở đền chaumukha như Ranakpur, gian thờ mở ra bốn phía và tượng chính có bốn mặt.

Bên trong đền Vimala Vasahi, quần thể Dilwara, núi Abu: một tượng Jina ngồi trong khám cẩm thạch chạm kín. Ảnh chụp khoảng năm 1850 tới 1900. Bộ sưu tập Rijksmuseum, Amsterdam.
Bên trong đền Vimala Vasahi, quần thể Dilwara, núi Abu: một tượng Jina ngồi trong khám cẩm thạch chạm kín. Ảnh chụp khoảng năm 1850 tới 1900. Bộ sưu tập Rijksmuseum, Amsterdam.Ảnh: Rijksmuseum, CC0, Wikimedia Commons
Cột manastambha trước ngôi đền Nghìn Cột ở Moodbidri, Karnataka.
Cột manastambha trước ngôi đền Nghìn Cột ở Moodbidri, Karnataka.Ảnh: Vaikoovery, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Khám thờ bằng gỗ sơn thếp từ Patan, Gujarat, đầu thế kỷ 17, trong lòng khám đặt một tượng Jina nhỏ. Bảo tàng Mỹ thuật Cincinnati.
Khám thờ bằng gỗ sơn thếp từ Patan, Gujarat, đầu thế kỷ 17, trong lòng khám đặt một tượng Jina nhỏ. Bảo tàng Mỹ thuật Cincinnati.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Khám thờ tại gia của một gia đình Kỳ Na, gỗ tếch chạm, Gujarat, thế kỷ 18. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Khám thờ tại gia của một gia đình Kỳ Na, gỗ tếch chạm, Gujarat, thế kỷ 18. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Một pho tượng mới chỉ được thờ sau lễ an vị (pratishtha). Một ngôi đền Kỳ Na ở Mỹ giải thích: an vị tượng trong đền là hình ảnh của việc an vị Đấng ấy trong tim mình. Trước lễ, pho tượng được coi là đá. Với nhánh Murtipujak còn có lễ anjana shalaka, khi một thứ cao quý được điểm lên mắt tượng bằng que vàng.

Nguồn: Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image. Natubhai Shah, Jainism: The World of Conquerors, mục Svetambara Rituals (đăng lại trên HereNow4U). Wikipedia, Jain rituals.

Lễ trước tượng

Lễ trong đền gồm tụng tán, đọc thần chú Namaskara và danh hiệu các vị Tirthankara, tắm tượng và dâng lễ vật. Lễ tám phần (ashtaprakari puja) dùng tám thứ: nước, đàn hương, hoa, hương, đèn, gạo, thức ngọt và trái cây. Các nguồn xếp tám thứ này theo thứ tự khác nhau. Mỗi thứ mang một ý nghĩa tu tập, ví dụ gạo là hạt không nảy mầm lại, chỉ ước nguyện không còn tái sinh.

Nguồn: Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions. Pravin K. Shah, Jain Study Center of North Carolina, Ashta Prakari Puja (bản lưu trên Hinduwebsite). Wikipedia, Jain rituals.

Cách lễ của Shvetambara Murtipujak

Nhận ra: Chạm vào tượng, điểm đàn hương, trang hoàng tượng

Tiến sĩ Natubhai Shah chia lễ thành ba chặng. Anga puja là lễ chạm vào tượng: tắm tượng, điểm bột đàn hương lên các phần thân và dâng hoa. Agra puja là lễ trước tượng: dâng hương, đèn, gạo, thức ngọt, trái cây. Bhava puja là lễ bằng tâm. Dự án Pluralism ghi chín chỗ được chạm trên thân tượng: bàn chân, đầu gối, cánh tay, vai, rốn, tim, cổ, trán và đỉnh đầu. Vào dịp lễ, tượng được trang hoàng (angi) bằng lá bạc hoặc lá vàng.

Tượng Parshvanatha đang được thờ trong một ngôi đền phái Shvetambara Murtipujak ở Mysuru, Karnataka: mắt mở, đội mũ miện, thân có trang sức. Ảnh chụp năm 2017.
Tượng Parshvanatha đang được thờ trong một ngôi đền phái Shvetambara Murtipujak ở Mysuru, Karnataka: mắt mở, đội mũ miện, thân có trang sức. Ảnh chụp năm 2017.Ảnh: Ms Sarah Welch, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Natubhai Shah, Jainism: The World of Conquerors, mục Svetambara Rituals (đăng lại trên HereNow4U). Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image. Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions.

Cách lễ của Digambara

Nhận ra: Tắm tượng (abhisheka), không trang hoàng tượng

Người Digambara tắm tượng nhưng không điểm trang sức lên tượng. Trong phái này, nhóm Bisapanth dâng đủ tám thứ lễ vật gồm cả hoa và trái cây, có lễ đèn. Nhóm Terapanth không dâng những thứ được coi là còn sự sống, không làm lễ đèn và đứng khi lễ.

Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.
Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.Ảnh: Jeff Hart, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Digambara. Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image.

Những thánh tích lớn

Dilwara, núi Abu (Rajasthan)

Năm ngôi đền Shvetambara bằng cẩm thạch trắng, dựng từ thế kỷ 11 tới 16. Đền Vimal Vasahi (năm 1026 tới 1031) thờ Rishabhanatha, đền Luna Vasahi (năm 1230) thờ Neminatha. Nơi đây nổi tiếng vì trần, cột và khám thờ chạm cẩm thạch rất tinh.

Bên trong đền Vimala Vasahi, quần thể Dilwara, núi Abu: một tượng Jina ngồi trong khám cẩm thạch chạm kín. Ảnh chụp khoảng năm 1850 tới 1900. Bộ sưu tập Rijksmuseum, Amsterdam.
Bên trong đền Vimala Vasahi, quần thể Dilwara, núi Abu: một tượng Jina ngồi trong khám cẩm thạch chạm kín. Ảnh chụp khoảng năm 1850 tới 1900. Bộ sưu tập Rijksmuseum, Amsterdam.Ảnh: Rijksmuseum, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Dilwara Temples.

Ranakpur (Rajasthan)

Đền Adinatha, theo JAINpedia khởi dựng từ thế kỷ 14, theo Wikipedia là năm 1389, nổi tiếng với hơn 1.400 cột cẩm thạch chạm. Chính điện thờ tượng Adinatha bốn mặt bằng cẩm thạch trắng nên đền còn gọi là đền Chaumukha.

Rừng cột cẩm thạch trong đền Chaumukha (đền Adinatha) ở Ranakpur, Rajasthan.
Rừng cột cẩm thạch trong đền Chaumukha (đền Adinatha) ở Ranakpur, Rajasthan.Ảnh: Fulvio Spada from Torino, Italy, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Phù điêu cẩm thạch Parshvanatha đứng giữa vòng rắn thần đan nhau, trong đền Adinatha ở Ranakpur, Rajasthan.
Phù điêu cẩm thạch Parshvanatha đứng giữa vòng rắn thần đan nhau, trong đền Adinatha ở Ranakpur, Rajasthan.Ảnh: Gerd Eichmann, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: JAINpedia, Ṛṣabha. Wikipedia, Ranakpur Jain temple.

Núi Shatrunjaya, Palitana (Gujarat)

Một ngọn núi phủ kín đền, nguồn ghi 863 ngôi, có nguồn đếm gần một nghìn. Ngôi đền chính thờ Rishabhanatha và là nơi thiêng nhất của nhánh Shvetambara Murtipujak. Đền sớm nhất có từ thế kỷ 11, phần lớn dựng lại vào thế kỷ 16 tới 19. Người hành hương leo khoảng 3.500 bậc đá. Không ai được ở lại qua đêm trên núi, kể cả người giữ đền.

Một ngọn tháp đền trong quần thể đền trên núi Shatrunjaya, Palitana, Gujarat.
Một ngọn tháp đền trong quần thể đền trên núi Shatrunjaya, Palitana, Gujarat.Ảnh: Bernard Gagnon, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tường bao quanh quần thể đền trên núi Shatrunjaya, Palitana, Gujarat.
Tường bao quanh quần thể đền trên núi Shatrunjaya, Palitana, Gujarat.Ảnh: Bernard Gagnon, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Palitana temples.

Shravanabelagola (Karnataka)

Thánh địa của phái Digambara ở miền nam, nơi có pho tượng Bahubali nguyên khối và đại lễ tắm tượng mười hai năm một lần.

Tượng Bahubali (Gommateshvara) tạc từ một khối đá hoa cương trên đồi Vindhyagiri, Shravanabelagola, Karnataka, thế kỷ 10. Tượng đứng thế kayotsarga, không y phục theo lối Digambara, dây leo quấn quanh tay chân.
Tượng Bahubali (Gommateshvara) tạc từ một khối đá hoa cương trên đồi Vindhyagiri, Shravanabelagola, Karnataka, thế kỷ 10. Tượng đứng thế kayotsarga, không y phục theo lối Digambara, dây leo quấn quanh tay chân.Ảnh: Rohit14400, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Bahubali. JAINpedia, Bāhubali.

Ellora (Maharashtra)

Năm hang Kỳ Na, số 30 tới 34, được tạc từ thế kỷ 9 tới 12 bên cạnh các hang Phật giáo và Ấn giáo. UNESCO ghi các hang này thuộc phái Digambara, chạm khắc tinh tế và còn tranh tường.

Hang 32 (Indra Sabha), một trong các hang Kỳ Na ở Ellora, Maharashtra, tạc thẳng vào núi đá.
Hang 32 (Indra Sabha), một trong các hang Kỳ Na ở Ellora, Maharashtra, tạc thẳng vào núi đá.Ảnh: Amitabha Gupta, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Tượng Jina ngồi trên tòa sư tử trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Người chụp ghi là Mahavira.
Tượng Jina ngồi trên tòa sư tử trong hang Indra Sabha (hang 32), Ellora, Ấn Độ. Người chụp ghi là Mahavira.Ảnh: Jean-Pierre Dalbéra from Paris, France, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Ellora Caves.

Gwalior (Madhya Pradesh)

Các tượng Jina khổng lồ tạc thẳng vào vách núi quanh thành Gwalior, làm vào thế kỷ 14 tới 15 dưới triều Tomar. Tượng có cả thế ngồi và thế đứng. Năm 1527, nhiều tượng bị đục phá theo lệnh hoàng đế Babur. Về sau người Kỳ Na địa phương đắp lại đầu cho nhiều pho.

Tượng Jina ngồi tạc vào vách đá, nhóm Gopachal bên thành Gwalior, Madhya Pradesh, thế kỷ 14 tới 15. Phần đầu tượng đã hư hại.
Tượng Jina ngồi tạc vào vách đá, nhóm Gopachal bên thành Gwalior, Madhya Pradesh, thế kỷ 14 tới 15. Phần đầu tượng đã hư hại.Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Gopachal rock-cut Jain monuments.

Khajuraho (Madhya Pradesh)

UNESCO ghi khoảng hai mươi ngôi đền còn lại ở Khajuraho thuộc hai tôn giáo, Ấn giáo và Kỳ Na giáo, dựng dưới triều Chandella vào thế kỷ 10 tới 11. Ba ngôi đền Kỳ Na chính là Parshvanatha, Adinatha và Shantinatha. Tu sĩ Digambara vẫn tới đây thiền và giảng.

Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.
Tượng Parshvanatha bằng đá đen dưới tán rắn thần, trong đền Parshvanatha ở Khajuraho, Madhya Pradesh.Ảnh: Jeff Hart, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Khajuraho Group of Monuments. Wikipedia, Jain temples of Khajuraho.

Deogarh (Uttar Pradesh)

Ba mươi mốt ngôi đền Kỳ Na trong một thành cổ, dựng từ thế kỷ 8 tới 17, với khoảng 2.000 pho tượng và phù điêu. Đền Shantinatha có trước năm 862.

Các tượng Jina đứng và ngồi chạm trên tường đền Shantinatha, Deogarh, Uttar Pradesh. Các tượng đứng không y phục, theo truyền thống Digambara.
Các tượng Jina đứng và ngồi chạm trên tường đền Shantinatha, Deogarh, Uttar Pradesh. Các tượng đứng không y phục, theo truyền thống Digambara.Ảnh: Ed Sentner, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Jain temples, Deogarh.

Ngoài Ấn Độ

Người Kỳ Na sống chủ yếu ở Ấn Độ. Các cộng đồng xa xứ dựng đền ở nơi mình tới. Jain Centre ở Leicester, Anh, hoạt động từ năm 1973. Trang của trung tâm nhắc tới cả sinh hoạt của người Digambara và người Sthanakvasi. Ở Antwerp, Bỉ, đền Shankheshwar Parshvanath tại Wilrijk được dựng năm 1990. Ở Mỹ, phần lớn trung tâm Kỳ Na đặt cả tượng Digambara và tượng Shvetambara trong cùng một đền. Thư viện chưa đọc được nguồn về các đền ở Nairobi và Đông Phi nên chưa ghi.

Đền Kỳ Na ở Wilrijk, Antwerp, Bỉ. Ảnh chụp tháng 5 năm 2010.
Đền Kỳ Na ở Wilrijk, Antwerp, Bỉ. Ảnh chụp tháng 5 năm 2010.Ảnh: Torsade de Pointes, Public domain, Wikimedia Commons
Một khám thờ trong đền Kỳ Na ở thành phố New York, đặt tượng các vị Tirthankara bằng cẩm thạch. Ảnh chụp năm 2009.
Một khám thờ trong đền Kỳ Na ở thành phố New York, đặt tượng các vị Tirthankara bằng cẩm thạch. Ảnh chụp năm 2009.Ảnh: Malaiya, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jain Centre Leicester, trang chính thức. Wikipedia, Jainism in Belgium. Wikipedia, Jainism in the United States.

XNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc nguồn qua mạng. Phần lớn dữ kiện về hình tượng lấy từ JAINpedia của Viện Jainology, Bảo tàng Metropolitan, Britannica và Dự án Pluralism. Nhiều chi tiết về đền, niên đại và kích thước mới chỉ dựa vào Wikipedia tiếng Anh, chưa đối chiếu với sách in.
·Bảng hai mươi bốn biểu tượng: JAINpedia có trang riêng nhưng thư viện không đọc được bảng đầy đủ ở đó. Bảng trên trang lập theo JainWorld và Wikipedia. Hai nguồn này lệch nhau ở vị thứ năm (loài chim), vị thứ mười bốn (chim cắt hay nhím) và ở màu thân của vài vị.
·Số đầu rắn trên tượng Parshvanatha: các nguồn ghi thường là bảy. Trên hiện vật thật có pho ít hơn hoặc nhiều hơn, phù điêu ở Ranakpur có rất nhiều đầu rắn. Trang này không coi con số bảy là luật.
·Chiều cao tượng Bahubali ở Shravanabelagola: Britannica ghi 17,5 mét, JAINpedia ghi gần 18 mét, Bảo tàng Metropolitan ghi 18 mét. Năm hoàn thành có nguồn ghi 981, có nguồn ghi 983. Chu kỳ đại lễ thường được ghi là mười hai năm, một trang khác của Britannica ghi mười hai tới mười bốn năm.
·Năm chọn biểu tượng chung của Kỳ Na giáo: hai nguồn thư viện đọc được đều ghi năm 1975. Có nơi ghi năm 1974, là năm mở đầu dịp kỷ niệm 2.500 năm. Thư viện ghi theo nguồn đã đọc.
·Tư thế ngồi: các nguồn đã đọc chỉ gọi là thế hoa sen (padmasana). Một số sách phân biệt thêm thế bán già ở tượng miền nam. Thư viện chưa đọc được nguồn nên không ghi.
·Thứ tự tám lễ vật trong lễ tám phần: hai nguồn xếp khác nhau và không nói thứ tự nào của phái nào. Trang này chỉ liệt kê tám thứ.
·Chín phần của đồ hình siddhachakra, bảng tám dấu lành (ashtamangala) của từng phái và danh sách đủ hai mươi bốn cặp yaksha, yakshi: thư viện chưa đọc được nguồn chính thống nên chưa đưa vào.
·Pho tượng đồng ở Bảo tàng Los Angeles được chính bảo tàng ghi tên Mahavira kèm dấu hỏi. Pho nữ thần ở Bảo tàng Metropolitan được trang ảnh ghi là Padmavati, thư viện chưa đối chiếu với nhãn của bảo tàng. Tên tượng trong hai ảnh ở Ellora là theo lời người chụp.
·Thư viện chưa có ảnh giấy phép mở cho: tượng Adinatha bốn mặt trong chính điện Ranakpur, một tượng Mallinatha, một bệ thờ kinh sách của Taran Panth, một nhà hội Sthanakvasi và các đền ở Leicester, Nairobi.

Bạn là tín đồ Kỳ Na giáo, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XIẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1MET DT5161.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
2Jina Ajitanatha and His Divine Assembly, India, Gujarat, dated 1062 AD, marble with traces of pigment - Norton Simon Museum - Pasadena, CA - DSC03559.jpg · Daderot · Public domain
3Tirthankara, possibly Munisuvrata, Jain, Deccan, India, c. 1100-1300 AD, stone - British Museum - DSC01157.jpg · Daderot · CC0
4Colossal Head of Jina - Gupta Period - Kankali Mound - ACCN 00-B-61 - Government Museum - Mathura 2013-02-23 5454.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
5First Tirthankara Rishabhanatha, Western India, Gujarat, 8th century AD, brass with silver inlay - Ethnological Museum, Berlin - DSC01580.JPG · Daderot · CC0
6Jina Rishabhanatha with 23 additional Jinas, Rajasthan, Western India, dated Samvat 1201, 1144 AD, brass inlaid with silver - Ethnological Museum, Berlin - DSC01585.JPG · Daderot · CC0
7Jina Parsvanatha, Western India, Gujarat, 8th century AD, brass - Ethnological Museum, Berlin - DSC01581.JPG · Daderot · CC0
8Central India, 9th century - Parshva - 1961.419 - Cleveland Museum of Art.tif · Cleveland Museum of Art · CC0
9Jina Mahavira (?) LACMA M.82.6.2.jpg · Los Angeles County Museum of Art · Public domain
102 Mahavira dans la grotte Jain Indra Sabha Ellora cave India.jpg · Jean-Pierre Dalbéra from Paris, France · CC BY 2.0
11Jina Neminatha with Ambika and Gomedha, India, Rajasthan or Gujarat, 1000s AD, marble - Norton Simon Museum - Pasadena, CA - DSC03585.jpg · Daderot · Public domain
12Santinatha Rajasthan 1168.JPG · Aiwok · CC BY-SA 3.0
13Parshvanatha Mysuru Karnataka Svetambara Jain temple.jpg · Ms Sarah Welch · CC BY-SA 4.0
14The Adoration of Jina Ajitanatha LACMA M.71.1.21 (7 of 8).jpg · Los Angeles County Museum of Art · Public domain
15Tirthankara, India, Akota, Gujarat, 7th century, bronze, HAA.JPG · Hiart · CC0
16"Sihanamdika ayagapata", Jain votive plate, Kankali Tila, Mathura dated 25-50 CE.jpg · Nomu420 · CC BY-SA 3.0
17Rishabhanatha - First Jain Tirthankara - Circa 5th Century CE - Kankali Mound - ACCN 00-B-6 - Government Museum - Mathura 2013-02-23 5402.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
18The Gommateshwara Statue, Shravanabelagola 01.jpg · Rohit14400 · CC BY-SA 4.0
19Gommateshwara statue Vindhyagiri - Shravanabelagola (12).jpg · Vinayaraj · CC BY-SA 4.0
20Mahamastakabhisheka at Shravanabelagola in August 2018.jpg · Florian Maier · CC BY-SA 4.0
21MET DP216814 - Bahubali 6th century.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
22Gomateshvara dans la grotte Jain Indra Sabha Ellora cave India.jpg · Jean-Pierre Dalbéra from Paris, France · CC BY 2.0
23The Jain Goddess Ambika LACMA M.72.1.12.jpg · Los Angeles County Museum of Art · Public domain
24MET - Padmavati Idol (1).jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
25Jain Goddess Chakreshwari - Kankali Mound - Circa 10th Century CE - ACCN 00-D-6 - Government Museum - Mathura 2013-02-23 5387.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
26Saraswati surrounded by tirthankaras, celestial beings, and donors, Jain, southern or western Rajasthan, India, c. 1050-1100 AD, marble - British Museum - DSC01148.jpg · Daderot · CC0
27Siddhachakra Jainism 2014-04-13 19-43.jpg · User:Nizil Shah · CC BY-SA 3.0
28Siddhapratima Yantra (Shrine of a Perfected Being), 1333 AD, western India, bronze with traces of gilding and silver inlay - Freer Gallery of Art - DSC05195.JPG · Daderot · CC0
29Samavasarana painting from 1800 AD Rajasthan.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
30Anonymous - Lustration of the Infant Jina Mahavira, Folio from a Kalpasutra Manuscript - 2005.35 - Metropolitan Museum of Art.jpg · Khuyết danh · Public domain
31Kalpasutra Mahavira Nirvana.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
32Shrine with Four Jinas (Rishabhanatha (Adinatha), Parshvanatha, Neminatha, and Mahavira) LACMA M.85.55 (1 of 4).jpg · Los Angeles County Museum of Art · Public domain
33Jain chaumukha sculpture, Warangal Museum, Warangal, Telangana.jpg · P. Madhusudan · CC0
34Interieur van de Vimala Vasahi tempel, onderdeel van de Dilwara tempel in Mount Abu Mount Aboo. Detail of Interior Jain Temple, RP-F-F02519.jpg · Rijksmuseum · CC0
35Ranakpur-Adinath-Jaintempel-56-Shri Parshwanathjee-2018-gje.jpg · Gerd Eichmann · CC BY-SA 4.0
36Chaumukha Mandir - Ranakpur (8043082349).jpg · Fulvio Spada from Torino, Italy · CC BY-SA 2.0
37Palitana temples 13.jpg · Bernard Gagnon · CC BY-SA 3.0
38Palitana temples 01.jpg · Bernard Gagnon · CC BY-SA 3.0
39Cave no 32 alias The Indra Sabha, Ellora Caves, Maharashtra, India 02.jpg · Amitabha Gupta · CC BY 4.0
400121521 Gopachal Patthar ki Baoli Jain monuments, Gwalior 06.jpg · Ms Sarah Welch · CC0
41Parshwanath Temple - Khajuraho - 3.jpg · Jeff Hart · CC BY 2.0
42Deogarh, UP. Jain temple complex.jpg · Ed Sentner · CC BY 2.0
43Jainist family shrine, Gujarat, West India, 18th century, teak wood, view 1 - Ethnological Museum, Berlin - DSC01573.JPG · Daderot · CC0
44Jain shrine, Patan, Gujarat, India, early 17th century, painted and gilded wood - Cincinnati Art Museum - DSC03243.JPG · Daderot · CC0
45Altarpiece with Multiple Jinas, India, Rajasthan or Gujarat, c. 1500 AD, copper alloy - Norton Simon Museum - Pasadena, CA - DSC04107.jpg · Daderot · Public domain
461000-Pillar-Temple-Moodbidri-Main-Pillar.jpg · Vaikoovery · CC BY 3.0
47Wilrijk Jaïn-tempel1.JPG · Torsade de Pointes · Public domain
48NY temple2.jpg · Malaiya · CC BY 3.0

XIINguồn

1JAINpedia (Viện Jainology), Jina
2JAINpedia, Emblems of the 24 Jinas
3JAINpedia, mục từ Lāñchana
4JAINpedia, Digambara
5JAINpedia, Śvetāmbara
6JAINpedia, Bāhubali
7JAINpedia, Deities
8JAINpedia, Ṛṣabha
9JAINpedia, Mahāvīra
10Bảo tàng Metropolitan, Jain Sculpture
11Bảo tàng Metropolitan, Jain Manuscript Painting
12Britannica, Jainism: Ritual practices and religious institutions
13Britannica, Jainism: Jainism and other religions
14Britannica, Bahubali
15Britannica, Sthanakavasi
16Britannica, Shvetambara
17Britannica, Tirthankara
18Pluralism Project (Đại học Harvard), Temples and Images
19Pluralism Project (Đại học Harvard), The Temple and Image
20Pluralism Project (Đại học Harvard), The Jain Symbol
21UNESCO, Ellora Caves
22UNESCO, Khajuraho Group of Monuments
23JainWorld, The Tirthankaras (bảng hai mươi bốn vị)
24Natubhai Shah, Jainism: The World of Conquerors, mục Svetambara Rituals (đăng lại trên HereNow4U)
25Pravin K. Shah, Jain Study Center of North Carolina, Ashta Prakari Puja (bản lưu trên Hinduwebsite)
26Jain Centre Leicester, trang chính thức
27Wikipedia, Tirthankara
28Wikipedia, Jain sculpture
29Wikipedia, Jain symbols
30Wikipedia, Taran Panth
31Wikipedia, Ayagapata
32Wikipedia, Lohanipur torso
33Wikipedia, Gommateshwara statue
34Wikipedia, Parshvanatha
35Wikipedia, Mallinatha
36Wikipedia, Palitana temples
37Wikipedia, Ambika (Jainism)
38Wikipedia, Jain temple
39Wikipedia, Jain temples of Khajuraho
40Wikipedia, Gopachal rock-cut Jain monuments
41Wikipedia, Jain temples, Deogarh
42Wikipedia, Kankali Tila
43Wikipedia, Ranakpur Jain temple
44Wikipedia, Dilwara Temples
45Wikipedia, Samavasarana
46Wikipedia, Jain rituals
47Wikipedia, Jainism in Belgium
48Wikipedia, Jainism in the United States
49Wikipedia, Murtipujaka

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tượng Jina khác tượng Phật ở chỗ nào

Tượng Jina chỉ có hai thế: ngồi thiền hai tay đặt trong lòng, hoặc đứng thẳng hai tay buông. Tay không kết ấn nào khác và không cầm gì. Trên ngực thường có dấu shrivatsa. Tượng của phái Digambara không có y phục, còn tượng Phật luôn có y. Dưới bệ tượng Jina thường có biểu tượng riêng của từng vị.

Làm sao biết pho tượng là vị Tirthankara nào

Nhìn xuống bệ. Bò đực là Rishabhanatha, sư tử là Mahavira, ốc tù và là Neminatha, hươu là Shantinatha. Riêng Parshvanatha nhận ra nhờ tán rắn trên đầu, Rishabhanatha nhờ lọn tóc buông xuống vai.

Vì sao có tượng Kỳ Na không mặc gì

Đó là tượng của phái Digambara. Tu sĩ nam của phái này buông bỏ mọi vật sở hữu, kể cả y phục, nên các vị Jina và Bahubali cũng được tạc như vậy. Tượng của phái Shvetambara có nét chỉ tấm khố, mắt mở và thường được trang hoàng khi lễ.

Người Kỳ Na có cầu xin các vị Jina không

Theo giáo lý, các vị Jina đã giải thoát nên không nhận lễ vật và không ban ơn. Người lễ dâng lễ để thanh lọc mình và noi theo đức hạnh của các Ngài. Việc cầu chuyện thế gian thường hướng tới các vị yaksha và yakshi, và điều này cũng không được mọi nhánh chấp nhận.

Có phải mọi người Kỳ Na đều thờ tượng

Không. Phái Digambara và nhánh Murtipujak của phái Shvetambara thờ tượng. Hai nhánh Sthanakvasi và Terapanth của Shvetambara, cùng nhánh Taran Panth của Digambara, không thờ tượng.

Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại

Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: thế đứng, lọn tóc, biểu tượng dưới bệ. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.

›Đọc Tiếp